|

Đại nạn Trung Hoa thời hiện đại

1 – CÁC CƯỜNG QUỐC ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Tại Âu Châu, thế chiến thứ hai chấm dứt khi Đức Quốc Xã đầu hàng Đồng minh ngày 7-5-1945.  Tại Á Châu, sau khi hai quả bom nguyên tử của Hoa Kỳ thả xuống Hiroshima ngày 6-8-1945 và Nagasaki ngay 9-8-1945, Nhật Bản đầu hàng Đồng minh ngày 14-8-1945.  Thế chiến thứ hai hoàn toàn chấm dứt.

Trước khi Đức đầu hàng, đại diện ba cường quốc Anh, Hoa Kỳ, Liên Xô họp hội nghị thượng đỉnh tại Yalta, một thành phố nghỉ mát ở Crimea, phía tây nam Liên Xô từ 4-2 đến 14-2-1945.

Tại đây, Winston Churchill (thủ tướng Anh), Franklin Roosevelt (tổng thống Hoa Kỳ), và Joseph Stalin (bí thư thứ nhất đảng CS Liên Xô), bàn về việc phân chia vùng ảnh hưởng tại Âu Châu (chính là phân chia Đức và các nước chịu ảnh hưởng của Đức), việc thành lập Liên Hiệp Quốc (LHQ) và việc Liên Xô tham chiến chống Nhật Bản ở Á Châu, vì lúc đó Liên Xô chưa tuyên chiến với Nhật Bản.

Riêng về vấn đề Đông Dương, thuộc địa cũ của Pháp, ngoại trưởng Hoa Kỳ là Edward Reilly Stettinius chính thức trình bày kế hoạch Quốc tế quản trị (International trusteeship) cho Đông Dương trong phiên họp ngày 9-2-1945 tại hội nghị Yalta.

Hội nghị Yalta, năm 1945, Churchill, Roosevelt, and Stalin. Nguồn: wikipedia.org

Theo kế hoạch nầy, sau khi Nhật Bản đầu hàng, Đông Dương sẽ được đặt dưới quyền của một hội đồng quản trị quốc tế gồm đại diện Hoa Kỳ, Trung Hoa, Pháp, Liên Xô, các nước Đông Dương và Phi Luật Tân.  Hội đồng quản trị sẽ hoạt động trong vòng năm chục năm cho người Đông Dương đủ sức tự trị, rồi mới giao trả độc lập cho các nước Đông Dương, giống như kinh nghiệm nước Phi Luật Tân.  Thủ tướng Anh Winston Churchill cực lực phản đối kế hoạch International trusteeship.[1]  Theo Franklin Roosevelt, tại Yalta lãnh tụ Liên Xô là Joseph Stalin đồng ý kế hoạch nầy.[2]  Tuy nhiên, sau đó ngoại trưởng Liên Xô là Mikhailovich Molotov lại phủ nhận.[3]

Tổng thống Roosevelt từ trần ngày 12-4-1945 (trong nhiệm kỳ), phó tổng thống Harry Truman lên thay, và thay luôn chính sách Hoa Kỳ về Đông Dương.  Từ thời Truman, Hoa Kỳ chủ trương tôn trọng chủ quyền Pháp ở Đông Dương để đổi lấy sự hợp tác của Pháp ở Âu Châu.[4]   Đây là một thay đổi quan trọng trong chính sách Hoa Kỳ đối với Đông Dương trong đó có Việt Nam.

Sau khi Đức thất trận và đầu hàng ngày 7-5-1945 và trước khi Nhật đầu hàng, đại diện Hoa Kỳ là tổng thống Harry Truman, đại diện nước Anh lúc đầu là thủ tướng Winston Churchill, sau là Clement Attlee (lãnh tụ đảng Lao Động, thắng cử ngày 25-7, lên làm thủ tướng thế Churchill), đại diện Liên Xô là Joseph Stalin, bí thư thứ nhất đảng CSLX, cùng họp hội nghị thượng đỉnh tại thị trấn Potsdam, cách 17 dặm về phía tây nam Berlin (Đức), từ ngày 17-7 đến 2-8-1945.

Hội nghị có mục đích bàn về các vấn đề hậu chiến tại Đức, chung quanh việc phân chia các khu vực chiếm đóng, việc tái thiết nước Đức và các điều kiện đưa ra cho nước Đức thất trận.  Bên cạnh đó, cũng tại Potsdam, đại diện các nước Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa (Tưởng Giới Thạch không họp, nhưng đồng ý qua truyền thanh), không tham khảo ý kiến của Pháp, cùng gởi một tối hậu thư cho Nhật Bản ngày 26-7-1945.  Lúc đó, Nhật Bản còn tiếp tục chiến đấu ở Á Châu.  Liên Xô không tham dự vào tối hậu thư vì Liên Xô chưa tham chiến ở Á Châu và chưa tuyên chiến với Nhật Bản.

Tối hậu thư nầy, thường được gọi là tối hậu thư Potsdam, buộc Nhật Bản phải đầu hàng vô điều kiện, chấp nhận những điều kiện của Đồng minh, như chấm dứt quân phiệt, giải giới quân đội, từ bỏ đế quốc… Riêng về Đông Dương, quân Nhật sẽ bị giải giới do quân Trung Hoa ở bắc và do quân Anh ở nam vĩ tuyến 16.  Tối hậu thư Potsdam không đề cập đến ai sẽ cai trị Đông Dương sau khi quân đội Nhật bị giải giới và rút về nước, nghĩa là không đưa ra một giải pháp chính trị cho tương lai Đông Dương.

Điều nầy sẽ tạo ra một khoảng trống hành chánh và chính trị tại Đông Dương một khi những quyết định trong tối hậu thư Potsdam được thi hành, vì nếu Nhật đầu hàng, chính phủ Trần Trọng Kim do Nhật bảo trợ, sẽ sụp đổ, thì ai sẽ là người có thẩm quyền tại Đông Dương?  Phải chăng Anh và Hoa Kỳ cố tình bỏ ngỏ khoảng trống chính trị để tạo điều kiện cho Pháp trở lại Đông Dương?

Như thế, có nghĩa là sau khi Nhật Bản đầu hàng, quân đội hai nước Trung Hoa và Anh sẽ vào Đông Dương để giải giới quân đội Nhật.  Trong thế chiến thứ hai (1939-1945), Trung Hoa chỉ ở thế thủ, chống lại cuộc xâm lăng của Nhật Bản tại nội địa Trung Hoa.  Trung Hoa chẳng có công gì trong việc chống Nhật tại Việt Nam, nhưng một lần nữa, Trung Hoa lại vận động với các cường quốc, để chen vào chia phần kiếm lợi tại Việt Nam.

2 – QUÂN TRUNG HOA VÀO VIỆT NAM

Theo tối hậu thư Potsdam ngày 26-7-1945, việc giải giới quân đội Nhật ở Bắc vĩ tuyến 16 do quân đội Trung Hoa (Quốc Dân Đảng) phụ trách.  Tướng Lư Hán (Lu Han), tổng đốc kiêm chỉ huy trưởng quân đội tỉnh Vân Nam, được chỉ định phụ trách dẫn quân Trung Hoa qua Việt Nam để giải giới quân đội Nhật.  Lư Hán dẫn quân ra đi ngày 28-8-1945. Trong bộ chỉ huy của tướng Lư Hán, còn có tướng Tiêu Văn (Siao Wen), làm uỷ viên chánh trị.  Ngày 14-9-1945, Lư Hán cùng bộ tham mưu đến Hà Nội, đóng bản doanh ở phủ toàn quyền Pháp cũ.  Trong cuộc họp báo ngày 15-9, Lư Hán tuyên bố rằng khoảng 200,000 quân Trung Hoa vào Việt Nam, và chỉ lo việc giải giới quân đội Nhật, không dính líu vào chuyện nội bộ Việt Nam.[5]

Lễ đầu hàng và giải giới quân đội Nhật Bản tại Việt Nam chính thức được tổ chức ngày 28-9-1945 ở Hà Nội tại phủ toàn quyền Pháp cũ, dưới sự chủ trì của Lư Hán và đại diện Đồng minh.  Trong phòng hành lễ treo bốn lá cờ Hoa Kỳ, Liên Xô, Trung Hoa và Anh Quốc.  Không có cờ tam tài (cờ Pháp), dầu tướng Marcel Alessandri, đại diện Pháp ở miền Bắc, được mời tham dự.

Tại Hà Nội không có phái bộ ngoại giao của Liên Xô.  Phái đoàn Ba Lan (Poland) thay mặt cho Liên Xô trong những liên lạc ngoại giao với Việt Nam.[6]  Tuy nhiên, trong buổi lễ quân Nhật đầu hàng tại Hà Nội, ngoài đại diện các nước Đồng minh, còn có sự hiện diện của đại diện Liên Xô là Stephane Solosieff.

Khi Archimedes Patti, thiếu tá tình báo Hoa Kỳ, trưởng toán O.S.S. 202, đến Hà Nội ngày 22-8-1945, thì ngày hôm sau, Stephane Solosieff liên lạc ngay với Patti.  Theo Patti, Solosieff có thể vừa là nhân viên ngoại giao, vừa là nhân viên tình báo của Liên Xô, được cử đến Hà Nội để theo dõi tình hình.

Lúc đó, không ai được biết Solosieff liên lạc như thế nào với Hồ Chí Minh?  Thiếu tá Patti cho biết Solosieff đang kiếm cách rời Hà Nội, và đưa những nhân viên Liên Xô trong mặt trận VM rời Hà Nội hoặc rời Đông Dương trước khi lực lượng Pháp và Trung Hoa đến Việt Nam.  Cũng theo Patti, có một toán cộng sản, gồm người Nga, Đức, Bỉ, Hung, trong đạo quân Lê-dương của Pháp, đã từng cộng tác với VM trước khi VM chiếm được chính quyền.[7]

Quân Trung Hoa vào Việt Nam gồm có bốn sư đoàn, trong đó hai sư đoàn Vân Nam và hai sư đoàn Quảng Tây.  Hai sư đoàn Vân Nam do Lư Hán trực tiếp chỉ huy, gồm sư đoàn 93 do tướng Lư Cổ Truyền dẫn đầu, vào ngã Lào Cai, theo thung lũng sông Hồng đến Hà Nội và sư đoàn 60 do tướng Vạn Bảo Bang chỉ huy, tiến vào miền trung Việt Nam qua hai hải cảng Vinh và Đà Nẵng.  Hai sư đoàn Quảng Tây là sư đoàn 62 do Hoàng Đào lãnh đạo, vào đường Cao Bằng – Lạng Sơn, xuống thẳng Hà Nội và sư đoàn 52 do tướng Triệu Công Vũ phụ trách tiến đến Hải Phòng.  Từ tháng 12-1945, sư đoàn 52 và 62, được gọi về Trung Hoa, sư đoàn 53 (Quảng Tây) đến thay thế.

Đoàn quân Trung Hoa là những toán quân ô hợp, ăn bận lôi thôi, kèm theo đoàn tùy tùng là phu khuân vác, đàn bà, trẻ em, vừa đói rách, bệnh tật, vừa vô kỷ luật, gây ra nhiều vụ cướp phá khắp nơi.

Ngày 2-10-1945, tướng Hà Ứng Khâm, tổng tư lệnh quân đội Trung Hoa, tới Hà Nội thanh tra.  Cùng đi với Hà Ứng Khâm có trung tướng Hoa Kỳ là Robert McLure.  Tướng Hà Ứng Khâm tuyên bố rằng Trung Hoa không có tham vọng đất đai ở Việt Nam, mà chỉ đến giúp Việt Nam thực hiện dần dần nền độc lập theo kế hoạch của các cường quốc Đồng minh.  Hà Ứng Khâm còn tiếp rằng không một chiến thuyền nào của Pháp được đến Đông Dương, mà không có sự ưng thuận của Đồng minh, đặc biệt vùng đất do quân đội Trung Hoa kiểm soát. (Philippe Devillers, sđd. tr. 193.)

Khi vào Việt Nam, quân Trung Hoa dùng tiền Trung Hoa gọi là quan kim và quốc tệ,[8] đổi lấy tiền Việt Nam để sử dụng.  Càng về sau, hai loại tiền nầy càng mất giá.  Lư Hán đòi Ngân Hàng Đông Dương (NHĐD) phải giao cho quân đội Trung Hoa 300 triệu đồng để chi tiêu, nhưng cho đến ngày 26-9-1945, NHĐD chỉ trao từ từ đến 45 triệu mà thôi.

Nhà cầm quyền Việt Minh (VM) phải nhiều lần lên tiếng trên báo chí để khuyên dân chúng đừng gây gổ, chống đối quân đội Trung Hoa.  Việt Minh còn ca tụng quân Trung Hoa vào Việt Nam với thiện chí giúp đỡ Việt Nam, giải giới quân đội Nhật.  Điều làm cho Hồ Chí Minh và VM lo ngại nhất, là khi quân Trung Hoa vào Việt Nam. những lãnh tụ chính trị các đảng phái Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc ở Trung Hoa cũng trở về Việt Nam.  Các tướng lãnh Trung Hoa ở Vân Nam và ở Quảng Tây đều quen biết các lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, (Việt Cách), như Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần …

Hồ Chí Minh và VM rất lúng túng.  Lúc đó, VM phải đối phó với ba thế lực cùng một lúc: quân đội Trung Hoa, các đảng phái Việt Nam đối lập với VM cộng sản từ Trung Hoa trở về, và người Pháp đang trở lui Việt Nam.  Việt Minh tìm cách đối phó với ba thế lực trên bằng những biện pháp riêng biệt.  Riêng đối với quân đội Trung Hoa, VM theo phương pháp cổ điển là hối lộ cho các tướng lãnh Trung Hoa.  Vào cuối tháng 9-1945, có nguồn tin cho rằng VM đã hối lộ cho tướng Tiêu Văn và tướng Lư Hán, mỗi người một bộ đồ nghề hút thuốc phiện bằng vàng ròng.[9]

3 – QUÂN TRUNG HOA RÚT LUI

Tối hậu thư Potsdam ngày 26-7-1945 giao cho Trung Hoa giải giới quân Nhật ở phía bắc vĩ tuyến 16.  Vì vậy, muốn tái chiếm Bắc Kỳ, Pháp phải thương lượng thẳng với Trung Hoa.

Về phía Trung Hoa, thi hành tối hậu thư Potsdam, Trung Hoa đưa khoảng 200,000 quân vào Bắc Việt để giải giới quân Nhật, chỉ nhắm mục đích trục lợi, chứ Trung Hoa cũng  không muốn đóng quân lâu ngày ở Việt Nam, và sẵn sàng thương lượng Pháp để giao Việt Nam lại cho Pháp, vì các lý do riêng của Trung Hoa:

Thứ nhất, về kinh tế, Trung Hoa muốn Pháp trả lại cho Trung Hoa đất đai Pháp đã chiếm của Trung Hoa trước đây, quyền kiểm soát các thiết lộ trên đất Trung Hoa.  Thứ hai, về chính trị và ngoại giao, Trung Hoa muốn chứng tỏ Trung Hoa tôn trọng chủ quyền Pháp đối với thuộc địa cũ của Pháp là Đông Dương, để yêu cầu Liên Xô tôn trọng chủ quyền của Trung Hoa đối với Mãn Châu và trả Mãn Châu lại cho Trung Hoa.  Thứ ba, về quân sự, Tưởng Giới Thạch muốn dùng hai hải cảng Hải Phòng và Hòn Gai để đưa sư đoàn 60 do tướng Vạn Bảo Bang chỉ huy, từ tỉnh Vân Nam vòng qua Việt Nam, rồi đi Mãn Châu,[10] để đối phó tình hình ở vùng nầy.  Tuy dự tính rút quân, Trung Hoa biết Pháp nôn nóng tái chiếm Bắc Kỳ nên Trung Hoa gây khó khăn cho Pháp để mặc cả.

Tại Việt Nam, vấn đề chính là Lư Hán yêu cầu cung cấp tài chánh và thực phẩm cho quân đội Trung Hoa.  Tướng Trung Hoa là Ma Chang Yang vào Sài Gòn ngày 12-11-1945, đòi Pháp phải cung cấp cho quân Trung Hoa mỗi tháng 5,000 tấn gạo.  Cao uỷ Pháp tại Đông Dương, đô đốc D’Argenlieu, đồng ý với điều kiện Trung Hoa rút lui khỏi Lào trước ngày 1-1-1946.

Dầu VM chiếm được chính quyền, nhưng Đông Dương Ngân Hàng (ĐDNH) ở Hà Nội cũng như ở Sài Gòn do quân Nhật bảo vệ, nên VM không chiếm được hai ngân hàng nầy. (Đặng Phong, sđd. tt. 121 và 153.)  Khi giải giới quân đội Nhật, quân Trung Hoa thay quân Nhật bảo vệ ĐDNH.

Tướng Lư Hán tăng dần các đòi hỏi về tài chánh.  Ngày 14-11-1945, Lư Hán buộc ĐDNH phải xuất 600,000 đồng ĐD để đổi tiền quan kim cho quân Trung Hoa, mỗi người được đổi 50 quan kim.  Ngoài ra, mỗi tháng ĐDNH phải ứng cho quân đội Trung Hoa 110 triệu đồng tiền quân phí, trừ vào tiền bồi thường chiến tranh của Nhật.  Ngày 20-11, Lư Hán lập lại tối hậu thư trên đây.

Sau khi tham khảo ý kiến của Sainteny, ngày 25-11 đô đốc D’Argenlieu từ chối đòi hỏi của Trung Hoa, thì ngày 29-11-1945, quân đội Trung Hoa bắt giam viên giám đốc chi nhánh ĐDNH ở Hà Nội.  Cuối cùng, bộ tư lệnh Trung Hoa và Pháp đạt thỏa thuận về vấn đề cung cấp tài chánh cho quân đội Trung Hoa ở Đông Dương ngày 4-12-1946.

Tại Trung Hoa, Pháp đẩy mạnh cuộc thương lượng với Trung Hoa từ gần cuối năm 1945.  Đô đốc D’Argenlieu, cao uỷ Pháp tại Đông Dương, từ Ấn Độ đến Côn Minh (Kunming), thủ phủ tỉnh Vân Nam (9-10-1945), rồi Trùng Khánh (Chungking/ Chong Qing), thủ đô của Trung Hoa thời kỳ kháng Nhật, thuộc tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan / Szechwan), dự lễ Song thập (10-10) tức Quốc khánh Trung Hoa.  Trong cuộc gặp gỡ với Tưởng Giới Thạch, D’Argenlieu được Tưởng Giới Thạch cam kết Trung Hoa không có tham tâm dòm ngó Bắc Kỳ.

Đầu năm 1946, tướng Raoul Salan (Pháp), tư lệnh lực lượng Pháp tại Trung Hoa và Bắc Kỳ, đồng thời đại diện Pháp bên cạnh bộ Tư lệnh Trung Hoa từ 1-11-1945, đến Trùng Khánh để thảo luận về việc quân Pháp thay thế quân Trung Hoa ở bắc vĩ tuyến 16.  Cuộc thảo luận bắt đầu từ 8-1-1946.  Để tỏ thiện chí, ngày 16-1-1946, Trung Hoa đồng ý cho Pháp tiến quân vào đất Lào (Laos).  Cuộc thương thuyết Pháp Hoa bế tắc một thời gian.  Đến ngày 15-2-1946, hội nghị được khai thông.  Ảnh hưởng đầu tiên là tướng Tiêu Văn, uỷ viên chính trị của đoàn quân viễn chinh do Lư Hán cầm đầu, bị triệu hồi về nước ngày 23-2-1946.  Tiêu Văn là người quen biết các lãnh tụ Việt Cách cũng như VNQDĐ từ khi còn ở Trung Hoa và thường bênh vực hai đảng chính trị nầy.

Ngày 28-2-1946 tại Trùng Khánh, ngoại trưởng Trung Hoa là Vương Thế Kiệt (Wang Shih-chiek) và đại sứ Pháp tại Trung Hoa là Jacques Meyrier ký kết hiệp ước về việc quân Pháp thay thế quân Trung Hoa ở phía bắc vĩ tuyến 16 tại Đông Dương theo đó Trung Hoa chịu rút quân ra khỏi Việt Nam từ ngày 1 đến 15-3, và chậm nhất là ngày 31-3-1946.

Ngược lại, Pháp trả về cho Trung Hoa các tô giới Pháp ở Thượng Hải, Hán Khẩu, Quảng Đông, Quảng Châu Loan, bán cho Trung Hoa thiết lộ Vân Nam, sửa đổi quy chế người Hoa ở Đông Dương, miễn thuế người Hoa ở Hải Phòng, và người Hoa chuyên chở hàng hóa ngang qua Bắc Bộ sẽ khỏi phải chịu thuế.[11]  Hiệp ước Pháp Hoa ngày 28-2-1946 về sau thường được gọi là Hiệp ước Trùng Khánh.

Trong khi đang còn thương lượng với Trung Hoa, ngày 20-2-1946, Ủy ban Liên bộ về Đông Dương của chính phủ Pháp đã thông qua tại Paris, với sự hiện diện của đô đốc D’Argenlieu, kế hoạch hành quân “Bentré” để tái chiếm Bắc Kỳ, do trung tá Jean Lecomte, trưởng Phòng 3 bộ Tham mưu tướng Leclerc soạn.  Kế hoạch nầy nhắm mục đích đưa quân Pháp thay thế quân Trung Hoa ở Bắc Kỳ trong tháng 3, trước khi mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 ở ngoài Bắc và nhất là trước khi nhà cầm quyền VM được củng cố.

Thi hành kế hoạch nầy, ngày 27-2-1946, Pháp đã dùng 35 chiến hạm, chuyên chở từ trong Nam ra Hải Phòng 21,000 quân của sư đoàn 9 bộ binh Pháp (9è Division d’infanterie coloniale  [DIC]) do tướng Jean Valluy chỉ huy, và binh đoàn số 2 (groupement de la 2è Demi-brigade) do đại tá Massu chỉ huy.[12]  Vào chiều ngày 5-3-1946, chiến hạm Pháp xuất hiện ở ngoài khơi Hải Phòng.  Sáng sớm hôm sau, ngày 6-3-1946, đoàn quân Pháp đổ bộ xuống Hải Phòng.

Vì chưa được lệnh trên, quân Trung Hoa tại đây đã kháng cự mạnh, gây thiệt hại nặng cho Pháp: chết 34 người, bị thương 93 người, Valluy cũng bị thương nhẹ.  Đến trưa, hai bên mới thỏa thuận được với nhau.  Cuối cùng, quân Pháp chính thức đổ bộ Hải Phòng với sự đồng ý của người Trung Hoa ngày 8-3-1946.

Từ đây, Trung Hoa dần dần rút quân về nước.  Ngày 13-3-1946, đại diện Pháp và Trung Hoa ký kết quy ước quân sự tại Trùng Khánh, theo đó, Trung Hoa chính thức thỏa thuận cho quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Hoa ở Bắc Kỳ.

Lịch trình quân Trung Hoa rút lui và giao lại cho Pháp ở các tỉnh như sau:  Tourane (Đà Nẵng) và Đông Hà (Quảng Trị) (26-3), Huế (27-3), Đồng Hới (28-3, Thanh Hóa (29-3), Ninh Hòa (30-3), Thái Bình và Nam Định (31-3).   Sau khi rút, quân Trung Hoa tập trung ở các thành phố Huế, Vinh, Thanh Hóa, và Nam Định để được đưa về nước.  Quân Pháp lần lượt đến trú đóng ở những nơi quân Trung Hoa rút đi.

KẾT LUẬN

Trong thế chiến thứ hai, Trung Hoa chẳng giúp gì cho Việt Nam và cũng chẳng đóng góp công lao gì trong việc Đồng minh chiến thắng Nhật Bản.  Bản thân quân đội Trung Hoa không đủ sức bảo vệ đất nước Trung Hoa, để cho Nhật Bản xâm lăng và chiếm đóng nhiều nơi.  Do hai quả bom nguyên tử của Hoa Kỳ, Nhật Bản đầu hàng, đành phải rút quân về nước.  Trung Hoa mới thoát khỏi bị Nhật Bản chiếm đóng.

Với tham vọng cố hữu, Trung Hoa nhờ Anh và Hoa Kỳ giúp trong tối hậu thư Potsdam nên Trung Hoa đưa quân qua Việt Nam để giải giáp quân đội Nhật Bản ở phía bắc vĩ tuyến 16.  Thế là quân đội Trung Hoa lợi dụng thời cơ, nuôi béo các đạo quân đói rách bệnh tật ở Vân Nam và Lưỡng Quảng.  Pháp muốn tái chiếm Bắc Kỳ đành nhượng bộ và trả lại cho Trung Hoa những quyền lợi kinh tế mà Pháp đã sở hữu trên đất Trung Hoa từ thời Nha phiến chiến tranh (1840).

Nói cách khác, sau thế chiến thứ hai, các cường quốc đề cao quyền dân tộc tự quyết, nhưng các cường quốc không tôn trọng quyền dân tộc tự quyết của người Việt Nam.  Việt Nam trở thành món hàng trao đổi giữa các cường quốc trên thế giới tại hội nghị Potsdam và sau đó giữa Trung Hoa và Pháp.

Vì sự trao đổi chia chác giữa các thế lực quốc tế, một lần nữa Việt Nam phải gánh lấy đại nạn Trung Hoa.  Đại nạn nầy sẽ còn nặng hề hơn nữa khi Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam và nhất là khi Hồ Chí Minh cầu viện Trung Hoa.

© Đàn Chim Việt Online

[1] W. A. Williams, T. McCormick, L. L. Gardner, W. LaFerber, America in Vietnam, W. W. Norton, New York, 1989, tr. 31.
[2] Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập A, Houston: Nxb. Văn Hóa: 1996, tr. 204.
[3] Đặng Phong, Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập I: 1945-1954, Nxb. Khoa Học Xã Hội, 2002, tr. 221. Tác giả Đặng Phong cho biết đại sứ Liên Xô tại Pháp gởi công điện ngày 28-8-1945 về Moscow, đề nghị áp dụng chế độ quản trị quốc tế tại Đông Dương, thì bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô là Molotov chỉ thị rằng “Liên Xô không có lập trường như thế”.  Như thế có nghĩa là Liên Xô không đồng ý vấn đề quốc tế quản trị ở Đông Dương.
[4] Spencer C. Tucker chủ biên, Encyclopedia of the Vietnam War, a Political, Social, and Military History, Volume three, Santa Barbara, California, 1998, tr. 888.  Ngoài ra, trong sách Histoire du Viêt-Nam de 1940 à 1952, ấn bản lần thứ ba, Paris: Editions Du Seuil, 1952, tr. 150, tác giả Philippe Devillers có kể rằng khi tướng Pháp là Philippe Leclerc de Hautecloque gặp đô đốc Louis Mountbatten (người Anh), tư lệnh tối cao lực lượng Đồng minh tại Đông Nam Á,  ngày 22-8-1945 ở Kandy (Tích Lan), Mounbattaten đã nói với Leclerc: “Nếu Roosevelt còn sống, các ông sẽ không vào được Đông Dương.”(“Si Roosevelt vivait encore, vous ne rentreriez pas en Indochine.”)
[5] Chính Đạo, sđd. tr. 264.
[6] Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, Cali. : Nxb. Xuân Thu, 1990, tr. 233.
[7] Archimedes L. A. Patti, Why Viet Nam?, California: University of California Press, Berkely, 1980, tt. 178-181.
[8] Quan kim là giấy bạc do chính phủ Trưởng Giới Thạch phát hành.  Không rõ xuất xứ quốc tệ.  Có 2 ý kiến về quốc tệ: 1) Quốc tệ có thể là loại tiền “Military bank note” mà quân đội viễn chinh các nước Hoa Kỳ, Anh, Nhật đã dùng.  Tiền Military Bank Note của Hoa Kỳ được gọi là “dollar đỏ”.  2) Sau cuộc cách mạng Tân Hợi (1911), ngoài giấy bạc do Ngân Hàng Trung Ương Trung Hoa phát hành, các tỉnh Trung Hoa đều phát hành tiền riêng.  Do đó, quốc tệ cũng có thể là tiền do tỉnh Vân Nam phát hành.  Xin tồn nghi để nghiên cứu thêm.
[9] Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua, 1945-1964, Sài Gòn: 1965, California: Nxb Xuân Thu tái bản, không đề năm, tr. 14.

[10] Stein Tonnesson, “La paix imposée par la Chine: l’accord Franco-vietnamien du 6 mars 1946”, Les Cahiers de l’Institut D’Histoire Du Temps Présent, tháng 6-1996, tt. 47-48.
[11] Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, tái bản kỳ 2, Sài Gòn 1970, tr. 300.
[12] Stein Tonnesson, bài đã dẫn, sđd. tt. 36-38.

Phản hồi