|

Đảng Lao động Na Uy một tấm gương “tự diễn biến hòa bình” thành công rực rỡ


Đảng Lao động Na Uy (Norwegian Labour Party) có tên gọi trong tiếng Na Uy là Det Norske Arbeiderparti, viết tắt là DNA. Ngoài ra, đảng còn được gọi bằng một cái tên thông dụng là Arbeiderpartiet, Đảng Lao động (viết tắt là Ap).

Đảng Lao động Na Uy được thành lập vào năm 1887 tại Arendal, một thành phố cảng nằm trên bờ biển phía Nam của Na Uy. Bảy năm sau (1894), Đảng bắt đầu tham gia các cuộc tổng tuyển cử và đến năm 1903 bắt đầu có mặt tại Nghị viện (Storting). Số phiếu cử tri dành cho các Nghị sĩ Lao động gia tăng đều đặn và đến năm 1927, DNA trở thành đảng chính trị lớn nhất ở Na Uy.

Đằng sau những mốc lịch sử ấy là cả một chuỗi dài những biến đổi: từ một đảng dân chủ – xã hội, DNA đã “cấp tiến hóa” để trở thành một đảng cộng sản để rồi sau đó, từ bỏ con đường cộng sản và dần dần chuyển hóa trở lại thành một đảng dân chủ – xã hội theo gương các đảng bạn ở Bắc Âu. Kể từ đó, Đảng Lao động đồng hành với dân tộc Na Uy và làm nên những kỳ tích khiến cho cả thế giới phải ngạc nhiên.

Từ dân chủ – xã hội đến chủ nghĩa cộng sản

Trước cuộc Chiến tranh Thế giới lần I, sức mạnh của phong trào công nhân Na Uy nằm trong hai tổ chức: Đảng Lao động Na Uy (DNA) thành lập vào năm 1887, và Liên hiệp Công đoàn Na Uy (Norwegian Confederation of Trade Unions, Landsorganisasjonen i Norge, viết tắt là LO) thành lập vào năm 1899. Hai tổ chức “sinh đôi” này gắn bó chặt chẽ với nhau dựa theo quy chế: tất cả các công đoàn địa phương đều là thành viên tập thể của đảng[1].

Vào thời kỳ đầu, cũng như các đảng dân chủ – xã hội khác ở Bắc Âu, Đảng Lao động Na Uy (DNA) được tổ chức theo kiểu mẫu của Đảng Dân chủ – Xã hội Đức (Social Democratic Party of Germany, Sozialdemokratische Partei Deutschlands, viết tắt là SPD), nghĩa là một đảng theo xu hướng cải cách và hoạt động trong khuôn khổ của hệ thống chính trị – xã hội của Na Uy. Nhưng trong những năm đầu thập niên 1910, ngay trước khi nổ ra cuộc Chiến tranh Thế giới lần I, một phái đối lập có xu hướng cách mạng đã hình thành trong phong trào thanh niên cũng như trong phong trào công đoàn[2].

Tổ chức thanh niên của DNA (được thành lập vào năm 1903) do ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx đã nhanh chóng trở thành một nhánh đối lập có xu hướng cách mạng. Một nhánh thứ hai của phái đối lập cũng hình thành trong phong trào công nhân dưới sự lãnh đạo của Martin Tranmæl. Nhánh này chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa công đoàn (syndicalism, syndicalisme)[3], một lý thuyết chính trị kêu gọi công nhân phải hành động trực tiếp để xóa bỏ chủ nghĩa tư bản nhằm thiết lập một trật tự xã hội mới dựa trên giai cấp công nhân được tổ chức thành các đơn vị sản xuất.

Giai cấp công nhân Na Uy tỏ ra “cách mạng” hơn so với giai cấp công nhân ở các quốc gia Bắc Âu khác. Chính xu hướng cấp tiến mạnh mẽ này đã mở đường cho ảnh hưởng của phái Bolshevik Nga. Các nhà cách mạng Bolshevik nổi tiếng như Nicolay Bukharin và Alexandra Kollontai đã từng lưu trú tại Na Uy, quen biết trực tiếp các nhà hoạt động xã hội chủ nghĩa cũng như viết nhiều bài đăng trên các tờ báo cánh tả tại đây.

Khi Chiến tranh Thế giới lần I nổ ra, những khó khăn trong đời sống hàng ngày của giai cấp công nhân càng làm gia tăng xu thế cách mạng. Cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra vào cuối năm 1917 đã thu phục được cảm tình lớn lao của các nhà xã hội chủ nghĩa Na Uy. Trong năm 1918, nhiều xô-viết của công nhân và binh lính đã được thành lập. Cũng trong năm đó, tại Đại hội thường niên của DNA, hai nhánh của phái đối lập (trong thanh niên và trong công đoàn) đã hợp tác với nhau để giành vị trí lãnh đạo trong Đảng. Điều này hoàn toàn trái ngược với xu thế phát triển của các đảng dân chủ – xã hội ở Đan Mạch và Thụy Điển vì ở các nước này ban lãnh đạo theo xu hướng cải cách vẫn nắm vững được quyền lực, phái cách mạng chỉ là thiểu số.

Vào lúc này DNA đã đạt được gần 100 ngàn đảng viên, phần lớn được kết nạp thông qua các thành viên tập thể – tức là các công đoàn địa phương. Trong cuộc tổng tuyển cử năm 1918, Đảng đạt được 31,6 % số phiếu bầu, chiếm 18 trong tổng số 126 ghế tại Nghị viện.

Vào tháng 3 năm 1919, Đảng Lao động Na Uy trở thành một thành viên của Quốc tế Cộng sản (Comintern)[4]. Đại biểu của DNA tại Đại hội thành lập tổ chức quốc tế này là Emil Stang – lúc đó là Phó Chủ tịch Đảng. Tuy nhiên, 21 điều khoản gia nhập được Đại hội lần II của Quốc tế cộng sản thông qua (năm 1920) đã gây ra sự phân hóa trong Đảng Na Uy. Sau những cuộc tranh cãi gay gắt, khối đa số trong Đảng đã chấp nhận các điều kiện nói trên để tiếp tục là thành viên của Quốc tế Cộng sản, trong khi một bộ phận ly khai tách ra để thành lập một đảng mới vào năm 1921 mang tên là Đảng Lao động Dân chủ – Xã hội Na Uy (Social Democratic Labour Party of Norway). Tuy nhiên, phái này chỉ là một thiểu số, do đó không có ảnh hưởng chính trị nào đáng kể so với DNA.

Rời bỏ Quốc tế Cộng sản trở về với dân tộc

Trong suốt thời gian tham gia Quốc tế Cộng sản (1919 – 1923), giữa DNA và Ủy ban Chấp hành của Quốc tế Cộng sản (Executive Committee of the Communist International, tên viết tắt là ECCI) thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn. Xung đột chủ yếu xoay quanh mức độ độc lập của Đảng Lao động Na Uy đối với Quốc tế Cộng sản. Cách nhìn nhận vấn đề này đã làm cho nội bộ Đảng chia thành hai phái, được gọi là “phái liên bang” (federalists) và “phái tập trung” (centralists). Phái tập trung chủ trương phục tùng quyền lực của ECCI, trong khi phái liên bang đòi hỏi tính tự chủ, độc lập của Đảng Na Uy như: quyền kiểm soát các vấn đề nội bộ, quyền cử các đại biểu tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản và tự lựa chọn người đại diện của DNA tại ECCI, yêu cầu phải được hỏi ý kiến trước khi ECCI cử đại biểu đến Na Uy, v.v.

Từ đầu năm 1922, cuộc tranh chấp ngày càng gay gắt. Sự xung đột giữa DNA với Quốc tế Cộng sản trở nên trầm trọng khi ECCI gửi một lá thư cho Ủy ban Trung ương của DNA để bày tỏ lập trường ủng hộ phái tập trung. Mặc dù DNA là Đảng Cộng sản trong một quốc gia nhỏ, nhưng lại là đảng đa số duy nhất có mặt tại Quốc tế Cộng sản, cho nên ECCI đã tỏ ra rất kiên nhẫn trong mối quan hệ với DNA, với hy vọng thuyết phục phái liên bang đừng ly khai. Nhiều nhà lãnh đạo cao cấp của ECCI như Karl Radek, Nikolay Bukharin đã được cử đến Na Uy. “Vấn đề Na Uy” đã được đưa vào chương trình nghị sự của Hội nghị toàn thể mở rộng lần 2 của ECCI (1922), chiếm một vị trí quan trọng tại Đại hội IV của Quốc tế Cộng sản (tháng 6/1922) và là chủ đề chính của Hội nghị toàn thể mở rộng lần 3 của ECCI (tháng 6/1923).

Bất chấp những nỗ lực của lãnh đạo ECCI trong việc thuyết phục phái liên bang, tại Hội nghị toàn quốc vào tháng 11 năm 1923, DNA đã quyết định rời bỏ Quốc tế Cộng sản. Một thiểu số đã rời bỏ DNA để thành lập một đảng mới có tên là Đảng cộng sản Na Uy (Communist Party of Norway, Norges Kommunistiske Parti, viết tắt là NKP).

Tự diễn biến hòa bình thành một đảng dân chủ – xã hội

Mặc dù tách khỏi Quốc tế Cộng sản, Đảng Lao động vẫn chưa rời bỏ ngay lập trường cách mạng. Điều này có liên quan đến ảnh hưởng của Martin Tranmæl (1879-1967) – người lãnh đạo của phái cách mạng trong DNA.

Xuất thân từ một gia đình nông dân, vào năm 1896, Tranmæl gia nhập vào một công đoàn có liên hệ với Đảng Lao động. Ông là một trong những người sáng lập tờ Ny Tid (New Time, Thời mới) – phát hành ở Trondheim; vào năm 1900 tờ báo này trở thành tiếng nói chính thức của Đảng Lao động. Tranmæl đã hai lần sang Hoa Kỳ (1900 – 1902 và 1903 – 1905) và trong thời gian làm thợ sơn ở đây, ông đã có dịp tìm hiểu về tổ chức, lý thuyết và các phương pháp hoạt động của phong trào công nhân Mỹ. Trong giai đoạn 1907 – 1911, Tranmæl du hành khắp châu Âu, dành phần lớn thời gian để làm việc cho tờ Ny Tid. Ông đã bị cầm tù vì tội xách động chính trị vào năm 1915.

Khi phái cách mạng chinh phục được khối đa số trong Đại hội Đảng năm 1918, Tranmæl được bầu vào Ủy ban Trung ương của DNA và từ 1918 đến 1921, đảm nhiệm chức vụ Bí thư của Đảng. Trong thời gian sau đó, mặc dù không giữ các chức vụ chủ chốt, Tranmæl vẫn tiếp tục là thành viên của Ủy ban Trung ương của DNA mãi cho đến năm 1963. Từ 1921 đến 1949, ông tham gia biên tập tờ báo đảng Social-Demokraten (sau đổi tên thành Arbeiderblade). Ông cũng là thành viên của Ủy ban Nobel Na Uy (Norwegian Nobel Committee) trong một thời gian khá dài (1938 – 1963).

Mặc dù không tham gia vào bất cứ Chính phủ Na Uy nào, Tranmæl có ảnh hưởng rất lớn đối với Đảng DNA. Như trên đã trình bày, chính do ảnh hưởng của ông mà DNA đã chấp nhận một đường lối chính trị cấp tiến, mang tính cách mạng và gia nhập vào Quốc tế Cộng sản.

Kể từ cuối 1923, mặc dù rời bỏ Quốc tế Cộng sản, Tranmæl vẫn giữ lập trường triệt để cách mạng. Đảng Lao động Na Uy đã nhiều lần phê phán Đảng Bolshevik Nga, chê đảng này là “hữu khuynh”, “thiếu tính cách mạng”. Chính lập trường cách mạng triệt để của Tranmæl và DNA đã khiến cho phái Stalin gặp khó khăn trong việc tuyên truyền nói xấu những người dân chủ – xã hội Na Uy. Những luận điệu quen thuộc mà Đảng Cộng sản Liên Xô thường dùng để phỉ báng những người dân chủ – xã hội như: “phái dân chủ – xã hội là tay sai của giai cấp tư sản, “dân chủ – xã hội là chủ nghĩa phát xít – xã hội (social fascism)”, tỏ ra không có tác dụng gì khi áp dụng vào trường hợp của Tranmæl và Đảng DNA. Đó là chưa kế đến cuộc sống mẫu mực của nhà cách mạng này. Ngay cả Leon Trotsky, mặc dù không ưa thích Tranmæl, vẫn phải thừa nhận ông là một con người chính trực, sống rất gương mẫu: không uống rượu, không hút thuốc, sống đạm bạc và vào mùa đông tắm trong một hố băng[5].

Sau khi tách ra khỏi Quốc tế Cộng sản, DNA vẫn tiếp tục là một đảng mạnh nhất của cánh tả ở Na Uy. Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên sau khi chia tách (năm 1924) cho thấy Đảng Cộng sản chỉ đạt được 6,1% số phiếu trong khi Đảng Lao động đạt 18,3% và Đảng Lao động Dân chủ – Xã hội đạt 8,8%.

Vào năm 1927, Đảng Lao động Dân chủ – Xã hội (tức là bộ phận tách khỏi Đảng vào năm 1921) đã tái hợp với Đảng Lao động (DNA). Việc hợp nhất hai đảng dân chủ – xã hội đã đem lại sức mạnh cho DNA. Trong cuộc tuyển cử năm 1927, DNA đạt 36,8% số phiếu bầu, chiếm 59 trong tổng số 150 ghế tại Nghị viện. Christopher Hornsrud thành lập Chính phủ Lao động đầu tiên, được chính thức bổ nhiệm ngày 28/1/1928. Nhưng chính phủ này chỉ tồn tại được có 18 ngày, do một nghị quyết bất tín nhiệm được tiến hành theo đề xuất của Đảng Tự do (Liberal Party). Đảng này phê phán việc Chính phủ Lao động từ chối bảo đảm cho các ngân hàng trong tình trạng bất ổn về kinh tế gây ra bởi việc chuyển đổi chính phủ.

Sau thất bại trong kỳ bầu cử năm 1930, Đảng Lao động quyết định thay đổi đường lối chính trị. Từ chỗ nuôi tham vọng “cách mạng hóa” xã hội, giờ đây Đảng quyết định đấu tranh với nạn suy thoái kinh tế và nạn thất nghiệp trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản và chế độ dân chủ đại nghị. Johan Nygaardsvold trở thành gương mặt hàng đầu của Đảng, và trong cuộc tổng tuyển cử năm 1933, Đảng Lao động đạt 40,1% số phiếu bầu và chiếm 69 trên tổng số 150 ghế tại Nghị viện. Mặc dù vậy, DNA vẫn chưa thể đứng ra thành lập chính phủ vì thiếu hậu thuẫn của các đảng khác. Johan Ludwig Mowinckel, lãnh tụ của Đảng Tự do, người đã hai lần làm Thủ tướng (1924 – 1926 và 1928 – 1931), đứng ra thành lập chính phủ thứ ba (1933 – 1935).

Năm 1935, Johan Nygaardsvold, lãnh tụ của DNA, đạt được một thỏa thuận với Đảng Nông nghiệp (Agrarian Party, Bondepartiet)[6] về chính sách nâng giá các sản phẩm nông nghiệp để hỗ trợ khẩn cấp cho nông dân, qua đó hình thành được một liên minh với đảng này. Nhờ vậy, DNA đánh bại được Chính phủ của Mowinckel và đứng ra thành lập chính phủ mới vào ngày 20/3/1935. Đây là chính phủ thứ hai của DNA kể từ ngày thành lập đảng đến nay. Liên minh với đảng của nông dân cũng là điều kiện để DNA trở thành đảng cầm quyền liên tục trong ba thập niên sau đó.

Cũng chính vào lúc này, sau một quá trình “tự diễn biến hòa bình”, DNA đã thật sự từ bỏ “nhiệm vụ quốc tế” của một đảng cách mạng. Sự kiện “Leon Trotsky ở Na Uy” là một ví dụ tiêu biểu cho sự thay đổi lập trường này.

Năm 1935, sau khi nước Pháp từ chối gia hạn visa, Trotsky đã xin lưu trú tại Na Uy theo lời mời của Konrad Knudsen, lúc đó là một nhà báo và là đảng viên của DNA. Do sự can thiệp của các Nghị sĩ DNA, Trotsky được phép nhập cảnh Na Uy vào tháng 6 năm 1935. Việc Leon Trotsky có mặt ở Na Uy đã gây ra phản ứng từ nhiều phía. Trước hết là sự phản đối từ phía cánh hữu, nhất là Đảng Tự do (Liberal Party)[7] – chính đảng quan trọng nhất ở Na Uy lúc đó. Phản ứng gay gắt hơn nữa đến từ phía một tổ chức cực hữu có tên là Nasjonal Samling (National Union, Liên hiệp Quốc dân) đề cao chủ nghĩa dân tộc và có xu hướng phát-xít. Áp lực bên ngoài đến từ nước Đức của Hitler và từ phía Liên Xô của Stalin.

Đầu tháng 8 năm 1936, một số thành viên của Nasjonal Samling đã đột nhập vào nhà riêng của Knudsen – nơi Trotsky đang cư trú. Không tìm thấy Trotsky (vì lúc đó ông đi câu cá), nhóm người này đã đánh cắp một số tài liệu. Giữa tháng 8, tại Liên Xô, Stalin bắt đầu tiến hành chiến dịch Đại Thanh Trừng (Great Purge) để loại bỏ những phần tử chống đối trong nội bộ Đảng Cộng sản. Khởi đầu là vụ án Moscow thứ I. Trong vụ án này, 16 thành viên của cái gọi là “Trung tâm khủng bố Trotsky-Zinoviev” bị đem ra xét xử. Trong số các bị cáo có hai nhân vật cao cấp từng là Ủy viên Bộ Chính trị dưới thời Lenin: Grigory Zinoviev và Lev Kamenev. Tất cả đều bị kết án tử hình và xử bắn. Trotsky cũng bị kết án tử hình vắng mặt.

Trước những áp lực đó, ngày 25/8/1935, Bộ trưởng Tư pháp của Na Uy là Trygve Lie[8] đã áp dụng biện pháp quản thúc tại gia để ngăn tất cả các hoạt động chính trị của Trotsky. Sau khi Tổng thống Lázaro Cárdenas của Mexixo chấp nhận cho Leon Trotsky được hưởng quyền tị nạn, qua sự dàn xếp giữa hai chính phủ, vào cuối tháng 12/1936 một chiếc tàu chở dầu đã bí mật đưa hai vợ chồng nhà lãnh tụ cách mạng này rời Na Uy qua Mexico.

Cách giải quyết vấn đề “quyền tị nạn của Trotsky” cho thấy DNA không đứng về phía Stalin nhưng cũng không bênh vực Trotsky để tránh đối đầu với Liên Xô, và cả với nước Đức phát-xít. Từ vị trí của một đảng đối lập nay trở thành một đảng cầm quyền, họ phải xử lý vấn đề dựa trên quyền lợi của một quốc gia chứ không phải dựa trên quyền lợi của một đảng phái. Như vậy, trong thực tế, DNA đã không còn là một đảng cách mạng, và cũng không còn quan tâm đến lập trường “quốc tế vô sản”.

Đảng Lao động Na Uy đồng hành cùng với dân tộc

Những thành công trong việc giảm bớt nạn thất nghiệp cũng như trong các chính sách xã hội và giáo dục đã đem lại kết quả tốt trong cuộc tổng tuyển cử năm 1936: Đảng Lao động đạt được 70 trong tổng số 150 ghế tại Nghị viện. Nhưng chính phủ của Johan Nygaardsvold chỉ hoạt động được cho đến năm 1940. Ngày 9/4/1940, quân phát-xít Đức tấn công Na Uy. Sau một cuộc kháng cự kéo dài hai tháng, Chính phủ phải cùng với Hoàng gia Na Uy lưu vong sang nước Anh. Tại nội địa, Vidkun Quisling – lãnh tụ của đảng phát-xít Nasjonal Samling, tuyên bố thành lập một chính quyền quốc gia vào ngày 9/4. Nhưng chính quyền này vấp phải sự phản đối của người dân mạnh đến mức quân Đức phải dẹp bỏ nó vào ngày 15/4. Thay vào đó là một Hội đồng Hành chính bao gồm một số công chức cao cấp được thành lập để quản lý các vùng bị chiếm đóng – nhất là vùng xung quanh thủ đô. Hội đồng này được Tòa án Tối cao Na Uy – cơ quan có thẩm quyền duy nhất còn lại trong nước bổ nhiệm. Nhưng quyền hành thực tế lại nằm trong tay của Josef Terboven – Ủy viên của Đế chế Đức (German commissioner, Reichskommissar) tại Na Uy. Đến tháng 9 năm 1940, Hội đồng Hành chính bị giải tán và thay thế bằng một chính quyền bù nhìn do quân Đức bổ nhiệm dưới sự lãnh đạo của Quisling. Một số ủy viên của Hội đồng bí mật tham gia vào các hoạt động kháng chiến.

Pages: 1 2

2 Phản hồi cho “Đảng Lao động Na Uy một tấm gương “tự diễn biến hòa bình” thành công rực rỡ”

  1. Hương Xa (Na Uy) says:

    GÓP Ý VỤN VẶT

    1__ Tư tưởng chỉ đạo của đảng Lao Động Na Uy, trong việc xây dựng đất nước Na Uy, thật sự theo 4 tiêu chuẩn chính: 1/ Tự Do, 2/ Dân Chủ, 3/ Công Ích (Phúc lợi xã hội) và 4/ Kỷ Luật (Tôn trọng Hiến pháp, Luật pháp). Đặc biệt chấp nhận sinh hoạt chính trị đa đảng.
    2__ Đảng Lao Động Na Uy chưa bao giờ dùng chữ “Đảng” (viết hoa). Không có chuyện “Độc tôn, độc tài ngay trong độc đảng” vì ở Na Uy không có tệ nạn “độc đảng”.
    3__ Tư tưởng chỉ đạo của đảng Lao Động Na Uy tuyệt đối không tôn thờ Mác, Lê, Mao vì Tinh thần Độc lập của Dân tộc Na Uy luôn luôn xa lạ với “ý thức nô lệ ngoại bang”.
    4__ Đảng Lao Động Na Uy coi CNXH chỉ là phương tiện, Độc lập, Tự do, Hạnh phúc của toàn dân mới là cứu cánh.
    5__ Đảng Lao Động Na Uy không treo đầu dê, bán thịt chó. Không “người giàu thì bị cướp của, người nghèo thì bị cướp công.”
    6__Đảng Lao Động Na Uy KHÔNG “hễ đảng tính cao thì nhân tính thấp. Nhân tính thấp thì ác tính cao”. Nhờ: Chấp nhận đối lập, chấp nhận Báo chí Tư nhân. Chấp nhận tự do hàng đầu là Tự do Tư tưởng. Không thần thánh hóa lãnh tụ. Không bị bệnh ấu trĩ “Công thần, Gia trưởng”.
    7__ “XHCN Na Uy”, nơi tuyệt đối không có những cái gọi là “Sinh mệnh Chính trị, Chủ nghĩa Lý lịch, Chế độ Hộ khẩu, Chế độ Công an trị…” Không ai bị bắt, bị tù vì khác chính kiến.
    Còn khá nhiều điều hay nữa. Ai không tin, cứ thử đến thăm Na Uy một lần sẽ rõ.
    Cho nên: “Về Chỉ số dân chủ (Democracy Index), năm 2010 tờ báo Economist xếp Na Uy đứng thứ 1 trong số 167 nước, với 9,80 điểm…” Cảm ơn bài viết của ông Mai Thái Lĩnh.
    Hương Xa.(Na Uy)./

  2. D.Nhật Lệ says:

    Bài nhận định chính trị của ông Mai Thái Lĩnh thuộc loại nghiên cứu và tôi cũng rất thích đọc bài viết của
    ông khi ông tra cứu cẩn thận tài liệu để đưa ra những nhận xét thuyết phục về cuộc đời và sự gnghiệp chính trị của nhà yêu nước vĩ đại Phan Chu Trinh.
    Khi ông viết bài này,tôi nghĩ ông muốn nêu 1 tấm gương về Diễn biến Hòa bình rất đáng yêu và đáng trọng,chứ không phải đáng sợ như đảng CSVN.phóng đại lên thành ma thành qủy hòng nhát con nít ! Nếu người CS.còn tự hào vỗ ngực xưng mình yêu nước thì hãy bắt chước để biến thành cơ hội cho nước VN.được lãnh đạo bới một đảng như đảng Lao Động Na Uy,càng sớm càng tốt !
    Trước âm mưu chiếm đoạt VN.theo kiểu tằm ăn dâu của Tàu thì họ phải hành động ngay vì cứu nước
    còn khẩn cấp hơn cứu hỏa.Cứu nước bằng hành động,chứ không phải cứ huyênh hoang khoác lác !

Phản hồi