|

36 Năm lưu vong. 36 Bài thơ lưu niệm

36 Năm lưu vong. 36 Bài thơ lưu niệm

 

Lịch sử cận kim: chín Quái Thai

Việt Minh, Chủ Nghĩa, Chệt thừa sai (1,2)

Hai lần Quốc Hận, dân ta thán  (3,4)

Nhị Ước Hải Liền, máu rỉ  dai  (5,6)

Thỏa Hiệp Tái Bang, Ngư Phủ ký  (7,8)

Hợp Đồng Thuê Đất, quặng than khai  (9)

Trời ơi! Chín Quái, tan hoang Việt

Công nghiệp tiền nhân: kẻ đoái hoài??

Phạm Quang Minh

 

Chú thích:

Chín Quái Thai của lịch sử cận đại Việt Nam:

(1) Việt Minh nay là Đảng Cộng Sản Việt Nam

(2) Chủ Nghĩa là Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

(3,4) Quốc Hận: 20-07-1954 và 30-04-1975.

(5,6) Hải Liền: hiệp ước biên giới đất liền ký 12-1999 và hiệp ước lãnh hải ký 12-2000 dâng đất cho Tàu.

(7) Thỏa Hiệp Tái Bang Giao ký năm 1991

(9) Hợp Đồng Thuê Đất , cho Tàu khai khẩn các vùng đất thuộc nội địa Việt Nam, ký lai rai.

 

30 tháng Tư

 

1975

Hỗn loạn! Tan hoang! Cuộc thế cùng!

Bàng hoàng! Tuyệt vọng! Số phần chung!

Cớ sao ngạ quỷ cơ hoành lộng?

Có phải thiên thần lỡ độ dung?

Nô thuộc độc tài, dân mạt kiếp

Khảo tra áp chế, sống điên khùng

Tàu Nga Vô Sản phường xâm lược

Phản quốc Hồ ơi: tội bất dung

 

1976

Gia đình sinh kế tiến hành xong

Thư thả yên tâm, đặng ước mong

Quốc Hận biểu tình Vong Quốc hận

Ăn Mừng đánh phá Việt Kiều đong

Mạo danh cải tạo, tù thân liệt

Dựa đám tàu tham, kiếp cổ còng

Dân hận khốn cùng: Kinh Tế Mới

Ngục tù vĩ đại: Việt Nam vong!

 

1977

Việc làm tạm ổn, thế gia thông

Đầy Tháng trai đầu, chúa thưởng công

Nhớ nước, thân bằng, dân thống khổ

Giận thù, xâm lược, kiếp lông bông

Lệnh Tàu: chinh chiến tràn Thiên Đế

Vô Sản: máu xương khổ Lạc Hồng

Dịch chủ tái nô, Hồ Duẩn Giáp

Rước thù diệt chủng, vạn đời tru

 

1978

Ba năm thế giới động lòng thương

Cứu vớt thuyền nhân khắp đại dương

Nhân loại bó tay phường vô đạo

Loài người khuất phục lũ vô thường

Quyền uy danh vọng mờ nhân mục

Đạo lý công tâm hãn hạ trường

Hồng Lạc khí thiêng gầy nghiệp cả

Rạng nòi nở mặt Việt muôn phương

 

1979

Cựu Kim Quốc Hận: rợp cờ vàng

Oán thán người người: diệt Vẹm lang

Rước Chệt dày mồ, dân khánh tận

Bợ Tàu dâng đất, nước tan hoang

Vùng lên tận diệt loài Tàu phỉ

Quật dậy phá cùm nước Việt an

Dứt điểm, khử Tàu, tìm mạch sống

Thể Rồng phách Lạc khí hiên ngang

 

1980

Dân tình thống khổ khóc kêu van

Đói rách tang-thương khắp phố làng

Khoai sắn cỏng cơm dằn bụng đói

Vụ mùa thâu lúa cống tàu bang

Năm năm thống nhất ngàn đời hận

Một chót lỡ lầm vạn kiếp mang

Đảng hởi! Hồ ơi! Sao tán tận!

Thương dân! Vì nước! Bớt tham tàn

 

1981

Đảng đã ra tay loại khử Tàu

Người người hớn hở thở cái phau

Tàu xưa đô hộ Ông ta thán!

Chệt mới tham tàn Cháu khổ đau!

Diệt chủng âm mưu: ngăn chận trước

Đất màu tham chiếm: phỏng tay mau

Đảng đần sách lược “răng môi hở”

Nay hiểu, ra tay loại khử Tàu

 

 

1982

Toàn dân trông ngóng Đảng xoay chiều

Bế-tắc cùng đường dốc hết chiêu

Từng bữa bo bo khoai trộn sắn

Từng ngày muối hột nước hòa tiêu

Dân tình đói khổ đường lê lết

Chủ nghĩa khăng khăng Đảng phớt lì

Địa ngục trần gian thời đại mới

Cắn răng chịu đựng? Dám ai liều?

 

1983

Nhờ Sô phụ lực đẩy Tàu xâm

Mượn thế dương oai: kế cũng thâm

Thống nhất càng lâu càng mất đất

Độc-tài mỗi lúc mỗi vô tâm

Toàn dân vô sản, bo thay lúa

Cả nước tang thương, lệ nhỏ thầm

Độc lập tự do hạnh phúc với

Sức cùng lực tận vẫn xa tầm

 

1984

Khố ôm áo rách, nước điêu linh

Thống khổ toàn dân, xã thị kinh

Khí thế tinh thần, Đảng dập hố

Niềm tin hy vọng, Bác chôn sình

Vâng lời Đảng huấn: tiêu cơ nghiệp

Tuân lệnh Bác ban: diệt chủng mình

Linh quyết bảo toàn thành tích Đảng

Phò Xô cởi mở chính cùng kinh.

 

1985

Mười năm quằn-quại ách Tàu Xô

Dân Việt triền-miên thảm nạn vồ

Huynh Đệ Tương Tàn, đời tang-tóc

Đàn Anh Vĩ Đại, kiếp tôi nô

Ka Bê khét tiếng phường tàn-ác

Bác Đảng rập khuôn loại tể đồ

Ngoi ngóp dân cùng đe búa kẹp

Khẩn Trời thương độ Việt đơn cô.

 

1986

Toàn nước dân vui chút tự do

Kinh doanh cởi mở đỡ âu lo

Hai mươi năm Bắc dân cùng khổ

Mười một năm Nam dạ thóp-tho

Chủ nghĩa tiến lên dân đói mẹp

Thương trường tự quản gạo thay bo

Phò Xô lúa thóc thôi dâng Chệt

Lam lũ cho mình bụng được no.

 

1987

Bao vùng đất qúy ở ven biên

Gồm cả Nam Quang Chệt chiếm nghiền

Mao dụ: hướng nam, sinh mạch phú

Hồ rằng: dâng đất, phận tôi hiền

Chiến Tranh Giải Phóng, viện cầu giúp

Bá Chủ Phương Nam, kế tựu liền

Huynh đệ răng môi giờ rạn nứt

Xem lưng vạch áo, cớ chi phiền

 

1988

Lai rai đây đó Việt hồi hương

Thăm lại quê xưa dạ vấn vương

Chính thể đang cần thâu ngoại tệ

Dân lành thầm ước gặp người thương

Quê nhà đói khổ nghèo xơ-xác

Đất khách văn minh sướng đủ đường

Thượng Đế chí công xin rủ lượng

Hải hà cứu độ Việt quê thương.

 

1989

Phò Xô kể cũng tạm yên thân

Chệt đỡ ho he xía đủ phần

Lúa gạo tóm thâu phường cướp cạn

Hoa màu gom sạch lũ vô nhân

Liên Xô sắp xếp xoay đường hướng

Tàu Cộng mưu đồ lật cán cân

Cơ hội ngàn vàng giành độc lập

Đảng khôn? Vì nước? Phát tiên nhân.

 

1990

Biết trước Liên Xô sẽ chuyển mình

Giã từ Xã Hội qúa điêu linh

Dân tình ngoi ngóp áo cơm thiếu

Chính thể điên đầu tội ác kinh

Sản xuất lâm nguy: vô động lực

Quân trường lụn bại: thiếu tinh binh

Việt Nam chuẩn bị tiên thủ lợi

Triệt để, liền khi thế chuyển mình.

 

1991

Tuyệt vọng! Căm hờn! Đảng ngốc thay!

Ngàn năm một thuở vụt xa bay!

Liên Xô bỗng chốc tan thành khói

Tàu Cộng bất thần khó trở tay

Phút chốc tự do độc lập đến

Tức thì tự chủ tự quyền ngay

Việt Nam: áp lực Tàu Nga biến

Sao Đảng rước Tàu lại xéo  dày!!

 

1992

Giết dân hại nước đã vô tiền

Cướp của dân lành cũng ngang nhiên

Khuyến khích ăn chơi, phù trụy lạc

Kiếm tiền lao động gạt thanhniên

Nhân quyền Đảng sợ, triệt tiêu dứt

Tôn giáo Đảng lo, kiểm chế liền

Sắt máu thẳng tay tiên chế ngư

Bảo toàn uy thể Đảng: ưu tiên

 

1993

Chiến tranh phi lý thảm bi ai

Hậu chiến điêu linh thống khổ hoài

Cứu cánh biện minh phương tiện: trật

Lý do tự thủy bản căn: sai

Cơ đồ không vượng mà suy thoái

Hành động chẳng lành lại ác tai

Mười tám năm rồi lao động tốt

Đói nghèo nô lệ chẳng tương lai.

 

1994

Sao kêu Việt Cộng là “Việt gian”?

Chữ đúng hay sai một tất gan

Xã hội bình thường: nô lệ đói

Nhu cầu giải phóng: phúc giàu sang

Rước Tàu diệt chủng là thương nước

Đuổi Ngụy cầu tài ấy thượng can

Dân Chủ Cộng Hòa độc Đảng trị

Buôn dân bán nước ấy là ngoan

 

1995

Hai mươi năm sống kiếp tha phương

Vẫn chút gì vương  phải vấn-vương

Mong có ngày về thăm chốn cũ

Nguyện chờ dịp đến giúp quê hương

Ước chi Hồ Cộng còn nhân tính

Được thế Việt mình đỡ giáo thương

Dịch chủ tái nô là đại họa

Ai ngờ danh lợi lấn cử cương.

 

1996

Hỏa xa mạng lưới kết giao tình

Thông suốt Thăng Long tới Bắc Kinh

Dự án Trạch Dân mong xúc tiến

Mưu cầu Việt Chệt đạt song kinh

Trai Tàu gái Việt giao du tiện

Gái Chệt trai Nam kết bạn tình

Làng sóng di dân vô giới tuyến

Thâm mưu đồng hóa nghĩ mà kinh.

 

1997

Từ độ quê yêu đỏ nhuộm toàn

Cơ đồ sản nghiệp bổng tan hoang

Ngàn ngàn thân liệt vùng kinh tế

Triệu triệu mạng liều chốn bể hoang

Học tập thâm mưu cải tạo gạc

Lao tù man rợ khảo tra oan

Trần gian địa ngục búa liềm đỏ

Độc lập no cơm Đảng bịp toàn.

 

1998

Vô thần vô sản chất vô ân

Cộng Sản muôn đời bản bất nhân

Độc lập: điều điều tuân vấn lệnh

Chủ quyền: nhất nhất phận vong thân

Ngập đầu chiến phí Tàu đòi ép

Cúi mặt sơn hà Đảng hiến dâng

Chống đối thẳng tay, nhân đức tận

Quyền uy danh vọng, Đảng vinh thân

 

1999

Giang sơn càng nghĩ lệ ngân sa

Đổi Mới huênh hoang thế tụt đà

Tham nhũng hoành hành dân oán ức

Đầu tư giảm sút ngoại lo xa

Nông gia xơ xác mùa thu thất

Kỹ nghệ nghèo nàn phẩm sút  sa

Quần chúng mất tin đường lối Đảng

Mật đồng dâng đất tiếng đồn xa.

 

2000

Theo đòi Xã Hội đại đa niên

Khố rách áo ôm váng chiếu niền

Lê Mác Đảng Tôn gây thảm nạn

Sửa Sai  Đổi Mới đạt ưu tiên

Thị trường chứng khoáng, đầu tư mở

Hiệp ước mậu thương xúc tiến liền

Cẩn mật, triệt tiêu phường chống đối

Rộn ràng đón tiếp ngụy Tông Tông.

 

2001

Bán đất buôn dân tội bất dung

Muôn đời ngàn quốc luật ghi chung

Đảng Kỳ Chín luận ba đề án:

Diệt Thượng, Cắm Ranh, Dứt Nợ Khùng

Tụt hậu, thua người: Khải nhận-định

Trật đường, lệch đạo: Mạnh phê chung

Quốc doanh lùi bước tư doanh tiến ï

Đất Biển bùi ngùi, mối hận chung.

 

2002

Nói láo sở trường chú Vẹm ta

Ký dâng nhượng hết kẻo Tàu la

Đất Liền, Lãnh Hải cùng Ngư Phủ

Chín Chín Không Không với Lẻ Hai

Phản quốc ký dâng, người ít biết

Tôi đồ kín mật, dễ thông qua

Năm nay Đảng quyết trường mặt nạ

Nội địa ra gì,  Hải ngoại pha.

 

2003

Tệ đoan tham nhũng thất nhân tâm

Uất-ức toàn dân ứa lệ thầm

Triết quyết ra tay trừ thảm họa

Đảng lo bức mạch động rừng thâm

Năm Cam một mối đưa đầu chịu

Sắc chức trăm tên án lệ cầm

Quần chúng đa nghi tham nhũng thiệt?

Thanh trừng quyền lực chuyện hà rằm?

 

2004

Lân bang thất trận cuộc tan hoang

Hai chục năm sau tế-thế bang

Chiến thắng huênh hoang cao trí tuệ

Ngạo đời vênh váo đỉnh trần gian

Tham tàn bất chính cương trung đoản

Nô lệ giáo điều thiển cận đoan

Ba chục năm rồi so để tủi

Bao giờ dân nước chút hào quang?

 

2005

Ba mươi năm đủ Cộng gian lường

Kiệu võng rước Tàu tôn  đế vương

Rướm máu sơn hà da xương rát

Thâm mưu diệt chủng giống nòi thương

Lòng tham vô đáy loài Thanh Tống

Mưu chước khó lường loại Hán Thương

Vơ vét tài nguyên đào bới nát

Rút bòn Việt tộc xác da xương.

***

Rút bòn  Việt tộc xác da xương

Cướp đất phì nhiêu mạng Bắc phương

Tây ngạn mõ đào rừng đốn chiếm

Đông sường cá đoạt  đảo tranh lường

Toàn dân uất hận  vùng lên chống

Bác Đảng tham tàn giết chẳng nương

Hải ngoại tiếp tay vì đại nghĩa

Cờ Vàng vĩnh viễn rạng quê hương

 

2006

Đổi mới mươi năm chẳng thấy gì

Kỳ Mười Đại Hội duyệt tra ghi

Triết lên chủ tịch tham ô bớt

Dũng nắm thủ đầu tổng kiểm chi

Tư tưởng còn vương điều giáo luật

Hành phương khó đạt quốc tân huy

Bước đi chập chững đa phương khốn

Xót nước thương dân khổ họa di.

 

2007

Lịch sử cận kim: chín Quái Thai

Việt Minh, Chủ Nghĩa, Chệt thừa sai (1,2)

Hai lần Quốc Hận, dân ta thán  (3,4)

Nhị Ước Hải Liền, máu rỉ  dai  (5,6)

Thỏa Hiệp Tái Bang, Ngư Phủ ký  (7,8)

Hợp Đồng Thuê Đất, quặng than khai  (9)

Trời ơi! Chín Quái, tan hoang Việt

Công nghiệp tiền nhân: kẻ đoái hoài??

 

Chú thích cho bài 30-04-2007:

Chín Quái Thai của lịch sử cận đại Việt Nam:

(1) Việt Minh nay là Đảng Cộng Sản Việt Nam

(2) Chủ Nghĩa là Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

(3,4) Quốc Hận: 20-07-1954 và 30-04-1975.

(5,6) Hải Liền: hiệp ước biên giới đất liền 12-1999 và hiệp ước lãnh hải 12-2000 dâng đất cho Tàu.

(7) Thỏa Hiệp Tái Bang Giao ký năm 1991

(8) Thỏa Hiệp Ngư Phủ đánh cá ký 02-2002.

(9) Hợp Đồng Thuê Đất , cho Tàu khai khẩn các  vùng đất thuộc nội địa Việt Nam, ký lai rai.

 

2008

Bắc Kinh Thế Vận tỏ oai hùng

Rước đuốc Trường Sa lãnh địa trung

Nam Việt ho hoe giả chống chế

Trường Sa ký nhượng  tự hành cung

Múa Cầu trước báo: hoàn cầu chiếm

Lồng Sắt tiên loan: phận số chung

Trung Quốc tham lam nhân lãn sự

Lưới Trời lồng lộng  bất thân dung

 

2009

Đảng đã làm chi nước Việt mình?

Diễn tình xã hội thấy mà kinh!

Đảng sai, phê phán là lao lý

Đảng khiến, làm ngơ ấy khổ hình

Trụy lạc  ăn chơi, Đảng khuyến khích

Chính tình việc nước, Đảng chuyên chinh

Cứ như con vật ăn và sống

Sai ác hèn gian, cấm bực mình!.

***

Bán nước buôn dân cũng lặng thinh!

Giáo điều Nô lệ mới quan vinh!

Không tình không nước không nhân tính

Chỉ  ác chỉ  gian  chỉ vị mình

Con cái Đảng xem hậu của dục

Con người Đảng giáo bất thiêng linh

Sẵn sàng cho QuốcTế Vô Sản

Ấy đó là chi nước Việt mình!

2010

Tàu Cộng từ nay tọa thị bành

Đông Dương trọn hưởng dám ai tranh

Việt Nam chiến lược đông nam tiếp

Nam Việt tài  nguyên giải đất lành

Châu Á thần tiên, lộc bất tận

Trung Hoa nhân mãn, kế tung hoành

Mỹ ngu trốn chạy, giờ quay lại

Lượm của thừa rơi, kẻ khất hành.

 

2011

Ba sáu năm trường vọng cố hương

Vững tin Cộng Đỏ sắp cùng đường

Hoa lài nở rộ cửu hoàn xướng

Chim trắng tung trời tứ hải dương

Ngô Bảo thần đồng con Lạc Việt

Cù Huy khí phách cháu Thiên Vương

Nhân tài lưu lạc năm châu đủ

Thiên khải: Tiên Rồng mạng Đế Vương.

 

1 Phản hồi cho “36 Năm lưu vong. 36 Bài thơ lưu niệm”

  1. vohoan says:

    RA ĐI

    Năm bảy chín của thế kỉ hai mươi
    Anh ra đi bỏ lại đời
    Thương quê mà bỏ yêu đời lại đi
    Ai đi vượt biển vượt bờ
    Có nghe sóng biển hát đời tha phương ?
    Thuyền ra cửa biển mênh mông
    Chim lồng xổ cánh bay trong ngút ngàn
    Theo giòng biển rộng đa mang
    Chân mây vắng vẻ lang thang cuối trời
    Quê hương ngày củ mất rồi
    Rủi rong khắp đất một đời phiêu lưu

    VH

    Có nghe sóng biển hát đời tha hương ?

Phản hồi