|

Con đường phía trước [8]

Vài năm trước tôi và một người bạn phát hiện ra băng video ghi một loạt các bài giảng của nhà vật lý lừng danh, giáo sư Richard Feynman, tại trường Đại học Washington. Lúc chúng tôi nghe bài giảng này là đã mười năm sau khi Feynman giảng bài này tại Cornell. Nếu chúng tôi có diễm phúc được trực tiếp nghe ngay tại giảng đường, hoặc được hỏi ông vài câu qua phương tiện video chắc hẳn chúng tôi biết thêm được nhiều điều bổ ích. Cách giải thích hết sức rõ ràng , dễ hiểu về nhiêu khái niệm vật lý hay hơn bất kỳ một cuốn sách nào hay giảng viên nào tôi đã từng được nghe. Ông đã đưa chủ đề đi vào cuộc sống. Tôi nghĩ những ai đang học môn vật lý nên tìm nghe những bài giảng này. Khi xa lộ thông tin ra đời, những nguồn tài liệu vô cùng quý giá như thế này sẽ là nguồn thông tin vô tận cho giáo viên và học sinh.

Giả sử có một cô giáo ở Providence, Rhode Island, tìm được một phương pháp hữu hiệu để giải thích sự quang hợp, thì bài giảng của cô thông qua các phương tiện thông tin sẽ được các nhà giáo trên khắp thế giới tham khảo. Cũng có thể cũng có một số giáo viên bê nguyên xi các bài giảng từ trên xa lộ giảng bài cho lớp mình, nhưng số đông khác sẽ tận dụng phần mềm sáng tạo sử dụng , để bổ sung vào bài giảng của mình. Lúc đó, người ta sẽ dễ dàng nhận được ý kiến phản hồi của các nhà giáo khác để cải tiến bài giảng của mình. Chỉ trong một thời gian ngắn những giáo trình đã được cải tiến đó sẽ có thể đến được tất cả trường học trên thế giới. Người ta rất dễ dàng nhận biết giáo trình nào là giáo trình phổ biến nhất, bởi vì mạng có thể tính số lần chúng được truy xuất, hoặc bầu chọn giáo viên bằng các phương pháp điện tử. Các công ty muốn trợ giúp ngành giáo dục để có thể tặng bằng khen và phần thưởng bằng tiền mặt cho những giáo viên có giáo trình tốt nhất.

Thật vô cùng khó khăn cho một giáo viên để soạn và giảng bài có chiều sâu, và chất lượng cho 25 sinh viên, 6 giờ một ngày, 180 ngày một năm. Điều đó càng đúng nếu số giờ xem truyền hình để giải trí của học sinh tăng lên. Tôi hình dung ra cảnh một giáo viên về khoa học tự nhiên của một trường trung học 10 năm sau , đang giảng bài chẳng những về hệ thống mặt trời, mà còn giải thích lịch sử phát hiện ra nó. Khi cô giáo muốn chọn một bức ảnh, ảnh tĩnh, hoặc video là một tác phẩm nghệ thuật hoặc ảnh chân dung, của một nhà khoa học vĩ đại về mặt trời, xa lộ sẽ giúp cô chọn từ trong một danh mục chung về hình ảnh. Các đoạn phim trích và phim hoạt hình có liên quan từ các nguồn tài liệu có sẵn trên xa lộ. Lúc đó chỉ cần vài phút là có thể có một giáo cụ trực quan bằng hình ảnh mà hiện nay có thể phải mất vài ngày mới có thể có được. Trong khi cô giáo đang giảng bài về mặt trời, các hình ảnh và các biểu đồ cần thiết sẽ xuất hiện vào những lúc thích hợp. Giả sử có một sinh viên hỏi cô giáo về xuất xứ của năng lượng mặt trời, cô giáo sẽ sử dụng các hình ảnh động về các nguyên tử hydrô và helium để minh họa, cô cũng có thể minh họa các tia sáng mặt trời, hoặc các vệt đen ở bề mặt trời hoặc các hiện tượng khác, hoặc cô có thể chiếu một đoạn phim video về năng lượng tổng hợp hạt nhân trên tấm bảng trắng. Giáo viên sẽ tổng kết các liên kết với các đài phục vụ trên xa lộ thông tin trước. Cô sẽ lập danh sách các liên kết trong sinh viên để trong khi nghiên cứu tại thư viện hoặc gia đình họ có thể xem lại tư liệu phù hợp với yêu cầu học tập.

Hãy hình dung cảnh một giáo viên trường nghệ thuật dùng một tấm bảng dạng số màu trắng để hiện thị quá trình phục hồi tác phẩm Bathers at asnières của Seurat. Bức tranh miêu tả một thanh niên trẻ đang nằm nghỉ bên dòng sông Seine trong thập niên 80 trên cảnh nền là những chiếc thuyền buồm và các ống khói tàu. Một giọng Pháp chính tông- Une baignade at asnières – và trình chiếu một sơ đồ ngoại ô Paris, với dòng chữ thị trấn asnieres nổi sáng. Giáo viên cũng có thể sử dụng bức tranh để minh hoạ thời kỳ cuối cùng của trường phái hội hoạ ấn tượng. Hoặc cô cũng có thể sử dụng nó để phát triển các chủ đề rộng lớn hơn, như đời sống ở Pháp vào cuối thế kỷ 19, cuộc cách mạng công nghiệp hoặc thậm chí cách thức mà người có thể nhìn thấy ánh sáng màu trắng.

Giáo viên có thể trọ đến cái mũ màu vàng da cam của một nhân vật đứng bên phải của tác phẩm và nói, ” Hãy nhìn vào sự rung động của cái mũ. Seurat đã đánh lừa đôi mắt. Cái mũ này màu đỏ, nhưng ông ta đã điểm thêm vài vét màu vàng và xanh. Các em sẽ không nhận thấy màu xanh trừ phi các em nhìn thật kỹ”. khi giáo viên nói điều này, cái mũ được phóng to lên cho đến khi nhìn rõ các sợi của tấm vải bạt. ở độ phóng đại này các vết màu xanh trở nên rõ ràng hơn, và giáo viên giải thích rằng màu xanh là thành phần bổ sung của màu cam. Một bánh xe màu sẽ xuất hiện trên tấm bảng trắng, và giáo viên hoặc chính tư liệu đa truyền thông sẽ giải thích: ” Mời màu sắc trên bánh màu này được bố trí tương phản với tổng thể của bức tranh. Màu đỏ tương phản với màu xanh, màu vàng tương phản màu tím, và màu xanh da trời tương phản với màu cam. Do thói quen của mắt khi nhìn vào một màu sẽ tạo một dư ảnh của màu bổ sung của nó. Suerat đã dùng thủ thuật này để làm cho các sắc màu đỏ và cam của cái mũ sinh động hơn bằng cách làm mờ các điểm màu xanh”.

Các máy điện toán được kết nối với xa lộ sẽ giúp cho giáo viên thực tập. Giáo viên vẫn tiếp tục cho bài tập về nhà, nhưng bài tập này sinh viên bị buộc phải tham khảo hệ thống tư liệu điện tử trên mạng. Sinh viên sẽ tự tạo các liên kết riêng của họ ứng dụng những tư liệu tham khảo thông qua các phương tiện đa truyền thông vào trong bài tập về nhà, và sau đó sẽ nộp bài bằng một đĩa mềm hoặc thông qua các xa lộ. Giáo viên có thể lập hồ sơ theo dõi việc học tập của từng sinh viên một, và có thể xem xét lại bất kỳ lúc nào hoặc cũng có thể trao đổi với các giáo viên khác.

Các chương trình phần mềm đặc biệt sẽ giúp tổng kết các thông tin như kỹ năng, sự tiến bộ và phát triển vọng của sinh viên. Một khi giáo viên có đầy đủ thông tin về sinh viên và tránh được nạn giấy tờ nhiêu khê, họ sẽ có thể dồn sức lực vào thời gian vào việc tìm hiểu và đáp ứng các yêu cầu của sinh viên đó. Thông tin này được đáp dùng để điều chỉnh bài giảng tại lớp cũng như thay đổi bài tập về nhà cho phù hợp với từng sinh viên. Giáo viên và phụ huynh học sinh cũng có thể nhận xétvà thảo luận những đặc điểm cá biệt về tiến triển của con em một cách dễ dàng. Kết quả là, cùng với sự phổ biến của hội thảo video, tiềm năng của sự cộng tác giữa phụ huynh, bằng cách thông qua mạng, sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để giúp đỡ con em mình, hoặc bằng cách lập các nhóm phụ huynh hỗ trợ nhau hoặc tìm trợ giúp cho con em mình.

Các bậc phụ huynh có thể giúp con em của họ ở trường bằng cách dạy chúng sử dụng phần mềm. Hiện đã có một giáo viên và nhân viên nhà trường sử dụng phần mềm thương mại thông dụng để quản lý các hoạt động của họ, và hướng dẫn cho sinh viên sử dụng các phương tiện làm việc của những cơ sở hiện đại. Đại bộ phận sinh viên đại học và ngày càng có nhiều học sinh trung học hiện đang lamg bài trên máy điện toán cá nhân với các trình xử lý văn bản thay vì sử dụng máy đánh chữ hoặc viết tay. Các bảng biểu và các ứng dụng biểu đồ cũng thường xuyên được sử dụng để giải quyết các toán học kinh tế, và trở thành một bộ phận chuẩn của hầu hết các khoa kế toán. Sinh viên và các khoa của các trường đại học cũng đang phát hiện các cách sử dụng mới đối với các ứng dụng thương mại thông dụng. Ví dụ, các sinh viên ngoại ngữ có thể tận dụng khả năng của các chương trình sử lý văn bản chuyên môn để học các ngôn ngữ khác nhau. Những chương trình đó có cả các công cụ kiểm tra chính tả và chọn từ đồng nghĩa trong các tư liệu đa ngôn ngữ.

Trong vài gia đình, trẻ em đang hướng dẫn cách sử dụng máy điện toán cá nhân cho cha mẹ chúng. Trẻ em và máy điện toán rất phù hợp nhau, một phần có lẽ do trẻ em chỉ thực hiện những chương trình đã lập sẵn. Trẻ em thích tạo sự phản ứng và máy điện toán đáp ứng được điều đó. Các bậc cha mẹ đôi khi ngạc nhiên bởi cách những đứa trẻ chưa đủ tuổi đến trường đã rất thích máy điện toán, nhưng sự tuyệt vời đó chỉ có ý nghĩa khi bạn hiểu được mức độ thích thú khi một đứa trẻ tận hưởng khả năng tương tác của máy – dù nó đang chơi trò cút bắt với cha mẹ, hay dí dí vào một bộ điều khiển từ xa và nhìn các kênh thay đổi.

Tôi thích xem đứa cháu gái 3 tuổi đùa giỡn với trò chơi Chỉ có Nội và Con thôi, một CD-ROM của Broderbund dựa trên một cuốn sách viết cho thiếu nhi. Cô bé thuộc lòng các đối thoại trong truyện tranh hoạt hình này và nói theo cùng với các nhân vật, giống như cô bé vẫn làm khi được mẹ đọc truyện cho cô nghe. Nếu cháu gái của tôi dùng chuột của máy điện toán nhấp lên một hộp thư, hộp thư mở ra và một con ếch nhảy ra ngoài, và đôi khi một bàn tay xuất hiện và kéo cánh cửa đóng hộp thư lại. Khả năng của cô bé bị ảnh hưởng bởi những gì cô thấy trên màn hình để trả lời câu hỏi “Cái gì sẽ xảy ra nếu nhấp vào đây ? ” – sẽ khêu gợi tính hiếu kì của cô bé. Sự tương tác, kết hợp với chất lượng ẩn sau cốt chuyện, sẽ cuốn hút cô bé.

Tôi luôn luôn tin rằng hầu hết mọi người đều có trí thông minh và sự hiếu kỳ cao hơn các công cụ thông tin hiện có. Hầu hết mọi người đều đã trải qua kinh nghiệm là bạn rất thích thú và có cảm giác hài lòng khi tìm được nguồn tư liệu thích hợp với đề tài của mình ưa thích, và cảm giác mãnh liệt khi mình làm chủ được đề tài đó. Nhưng nếu việc tìm kiếm thông tin liên quan đến đề tài bạn ưa thích không thành công, bạn sẽ có cảm giác thất vọng. Khi đó bắt đầu có ý nghĩ cho rằng mình sẽ không bao giờ hiểu được đề tài đó. Và nếu bạn cho phản xạ tự nhiên đó lập lại nhiều lần, nhất là đối với một đứa trẻ thì ý nghĩ muốn thử lại sẽ bị giảm sút rất nhiều.

Tôi may mắn được lớn lên trong một gia đình luôn khuyến khích con em đặt những câu hỏi. Và trong tuổi niên thiếu của tôi, tôi may mắn làm bạn với Paul Allen. Ngay sau khi tôi gặp Paul, tôi hỏi anh ta xăng từ đâu mà có. Tôi muốn biết một cách chính xác xăng truyền năng lượng cho một chiếc xe như thế nào. Tôi đã tìm được một cuốn sách về đề tài đó, nhưng viết rất khó hiểu. Tuy nhiên, xăng là một trong nhiều đề tài mà Paul hiểu được và anh ta giải thích nó theo cách của riêng anh và làm cho tôi thích thú và hiểu được. Bạn có thể nghĩ sự tò mò của tôi về xăng chính là chất xúc tác kết dính tình bằng hữu của chúng tôi.

Paul đã giải đáp cho tôi rất nhiều điều tôi tò mò muốn biết. Tôi khá môn toán hơn Paul và tôi hiểu phần mềm sâu xa hơn bất kỳ ai anh biết. Chúng tôi là nguồn tương tác lẫn nhau. Chúng tôi hỏi và trả lời các câu hỏi, vẽ các biểu đồ, hoặc thông báo cho nhau những thông tin liên quan. Chúng tôi thích thử thách và kiểm tra nhau. Đó chính là cách mà xa lộ sẽ tương tác với người sử dụng. Chúng ta thử tưởng tượng rằng có một thiếu niên khác muốn tìm hiểu về xăng, không phải trong năm 1970, mà là ba hoặc bốn năm sau này. Anh ấy không có may mắn có Paul bên cạnh, nhưng nếu tại trường học hoặc thư viện của trường có một máy điện toán và được nối với một phương tiện thông tin đa truyền thông phong phú, anh ta có thể nghiên cứu sâu vào đề tài anh thích.

Anh ta có thể xem xét hình ảnh, các băng hình video, và các phim hoạt hình, giải thích dầu được khoan, được vận chuyển và tinh chế như thế nào. Anh ấy có thể học sự khác biệt giữa xăng ôtô và xăng máy bay, và nếu anh ta muốn biết sự khác nhau giữa một bộ phận đốt trong của xe hơi và động cơ turbine của máy bay phản lực thì tất cả những gì anh phải làm là nêu ra câu hỏi.

Anh ta có thể khám phá cấu trúc phân tử phức tạp của xăng, đó là sự kết hợp của hàng trăm hydrorbon khác nhau, và cũng là dịp để anh tìm hiểu luôn về hydrorbon.

Đầu tiên, ngành công nghệ tin học mới sẽ giúp cải thiện các công cụ hiện có. Các bảng trắng của video gắn trên tường sẽ thay thế những bảng đen bằng các font chữ có thể đọc được và các đồ hoạ màu được vẽ từ hàng triệu giáo cụ trực quan, từ phim hoạt hình, ảnh, và phim video. Các tài liệu đa phương tiện sẽ giữ vị trí hiện nay trong sách giáo dục khác đang chiếm giữ. Và vì các giáo trình đa phương tiện đó sẽ được nối với các đài phục vụ trên xa lộ thông tin cho nên chúng luôn luôn được cập nhật rất kĩ càng.

Đĩa CD-ROM hiện có sẽ giới thiệu một kinh nghiệm tương tác mới. Phần mềm, theo lệnh của người sử dụng, sẽ cho hiện thông tin dưới dạng văn bản, âm thanh và phim video. Đĩa CD-ROM hiện đang được dùng trong các trường học, và các em học sinh cũng sử dụng chúng làm bài tập ở nhà, nhưng chúng có nhiều hạn chế. Đĩa CD-ROM, có thể giới thiệu một ít thông tin về một loạt các đề tài rộng lớn giống như một từ điển bách khoa toàn thư, hoặc nhiều thông tin về một chủ đề duy nhất, như khủng long chẳng hạn, nhưng mỗi lần tổng số lượng thông tin bị hạn chế bởi dung lượng của đĩa.

Và dĩ nhiên bạn chỉ có thể dùng đĩa của bạn mà thôi. Tuy nhiên đó vẫn là một bước tiến lớn so với tài liệu in trên giấy. Từ điển bách khoa toàn thư của multyimedia không chỉ là một công cụ nghiên cứu mà nó còn chứa tất cả những tài liệu tham khảo cần thiết cho việc làm bài tập ở nhà. Những từ điển bách khoa toàn thư này được sử dụng với sự hướng dẫn của giáo viên về cách thức sử dụng chúng ngay tại lớp, hoặc như một phần của bài tập làm ở nhà. Tôi rất phấn khởi nghe giáo viên và học sinh nhận xét về cách sử dụng sản phẩm của chúng tôi – trong số ý kiến đó có một vài điều chúng tôi đã dự đoán trước được.

Đĩa CD-ROM là tiền thân rõ rệt của xa lộ thông tin. Mạng World Wide Web của Internet là dạng tiền thân khác. Web đưa ra cách truy nhập các thông tin giáo dục lý thú mặc dù đa số vẫn còn dưới dạng văn bản bình thường. Một số giáo viên hiện đang sử dụng trên các dịch vụ trực tuyến để sáng tạo bài học mới.

Học sinh lớp 4 ở Callifornia đã thực hiện các nghiên cứu trực tuyến về báo chí để đọc về những thử thách mà những người định cư Châu á đang phải đối mặt. Trường đại học Boston đã tạo phần mềm tương tác có thể biểu diễn các tái hiện trực giác tri tiết về các hiện tượng khoa học, như các phân tử muối hoà tan trong nước cho sinh viên các trường trung học trong vùng.

Pages: 1 2 3 4

Phản hồi