|

Thời nào dân Việt sướng nhất [2]?

(Tiếp theo phần I)

Năm 2009, cũng vào thời điểm này, tôi đã được hân hạnh cùng Quí Vị so sánh lương ngày của hai nhóm người lao động, không học nghề và có nghề chuyên môn, từ năm 1956 đến năm 1974 và năm 2006 với bài „Thời Nào Dân Việt Sướng Nhất?“. Do đa số người dân Việt là người lao động nên qua sự so sánh này chúng ta nhận thức được đời sống của đa số người dân Việt Nam trong 3 thời đại, Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng Hoà với năm 2006 đại diện cho những năm hưng thịnh nhất của XHCN Việt Nam. Kết quả chúng ta đã được như sau:

Bảng 1: lương ngày của thợ tại VN

Năm 1956, 2 năm sau khi đất nước chia đôi, người thợ không nghề mỗi ngày nhận được đồng lương tương đương với 11 kg gạo và người thợ có học nghề chuyên môn nhận được mức lương  bằng 19,3 kg gạo. Chỉ 4 năm sau lương người lao động không có nghề vượt lên tới 18,1 kg gạo và người thợ chuyên môn nhận được mức lương tương đương với 25,6 kg gạo mỗi ngày. Theo dữ kiện trên đây, đại đa số người dân tại miền Nam Việt Nam có đời sống sung túc nhất vào năm 1960 và khổ nhất vào năm 2006, vì người thợ không có nghề chỉ mua được mỗi ngày  5,1 kg gạo với đồng lương của họ trong năm 2006, chỉ bằng 28% đồng lương của đồng nghiệp trước đó 46 năm và tương đương 72% với mức lương tăng của đồng nghiệp họ trong 4 năm 1956-1960.

Một số bài báo cho rằng, viện trợ và tài chánh từ nước ngoài đổ vào miền Nam Việt Nam ồ ạt trong thời gian này dẫn đến đời sống sung túc của người dân, đặc biệt trong thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hoà. Chúng ta cùng tìm hiểu, có phải thực sự viện trợ và  tài chánh từ nước ngoài đổ vào miền Nam trong thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hoà nhiều hơn những thời kỳ khác hay không?

Những dữ kiện từ năm 1956-1974 cần thiết cho mục đích nêu trên chúng ta có thể lấy từ cuốn sách „Foreign Aid, war and economic development – South Vietnam 1955-1975 “ được biên soạn bởi Douglas C. Dacy, xuất bản năm 1986 bởi Cambridge University Press. Những dữ kiện của năm 2006 được lấy từ trang mạng của Asian Development Bank www.adb.org  và từ bản tường trình về kinh kế Việt Nam năm 2006 của Toà Đại Sứ Đức tại Hà Nội (Jahreswirtschaftsbericht Vietnam 2006. Dữ kiện về viện trợ và tài chánh nước ngoài nhằm hỗ trợ kinh tế cho nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà rất tiếc chúng tôi không tìm được nên không thể đưa ra trong bài này.

Sau đây là tổng kết viện trợ kinh tế và các nguồn tài khoản từ nước ngoài vào miền Nam (từ 1956-1974) cũng như vào Việt Nam (năm 2006) phân loại theo từng năm được lấy từ những tài liệu được nêu trên:

Bảng 2: viện trợ và tài khoản nước ngoài nhằm hỗ trợ kinh tế Việt Nam

Tổng số viện trợ kinh tế và tài chánh nước ngoài vào Việt Nam trong năm 2006 được tính từ viện trợ của các nước gồm 3700 triệu USD và 4700 triệu USD do Việt kiều chuyển về chính thức qua ngân hàng, các dịch vụ. Ngoài việc chuyển tiền chính thức, Việt Kiều còn đem tiền mặt về Việt Nam, số tiền này rất khó đoán được là bao nhiêu (nhiều chuyên gia cho rằng có thể cao hơn tiền chuyển chính thức). Hai nguồn tiền trên tổng cộng là 8500 triệu, được ghi vào dòng 2006a. Ngoài hai khoản tiền trền, từ nhiều năm nay Việt Nam còn có nguồn thu nhập từ xuất cảng dầu thô, thu nhập này được 8100 triệu USD trong năm 2006. Do nguồn thu nhập này không có dưới thời Việt Nam Cộng Hoà cũng như thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà nên việc tính tài khoản này vào phần viện trợ và tài khoản từ nước ngoài đưa đến sự chính xác hơn trong vấn đề so sánh giữa các thời đại với nhau. Dòng 2006 (b) tổng cộng là 16.800 triệu USD gấp 110,5 lần viện trợ và tài khoản nước ngoài vài miền Nam Viện Nam năm 1961. Bình quân mỗi người dân được 10,46 USD tài khoản giúp đỡ về kinh tế từ nước ngoài vào hai năm 1961 và 1962, trong khi đó năm 2006 số tiền này lên tới 199,67 USD.

Mặc dù dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà tài khoản giúp đỡ về kinh tế từ nước ngoài thấp nhất trong những năm được so sánh nêu trên, nhưng chính quyền thời đó đã thực hiện thành công rất nhiều dự án lớn lao làm nền tảng cho những phát triển kinh tế về sau, thí dụ như: di chuyển và định cư ổn định cho khoảng một triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam, tái thiết đường sắt Đông Hà – Sàigòn bị hư hại 1/3 bởi chiến tranh, xây thêm đoạn đường sắt Chiêm Sơn – An Hòa nhằm mở rộng dự án phát triển khu kỹ nghệ hóa chất và điện lực An Hòa ở Quảng Nam, xây đường xa lộ Sàigòn-Biên Hoà, tái thiết Quốc lộ 19 nối liền duyên hải Miền Trung và Cao nguyên Trung phần, thiết lập Viện và lò nguyên tử Đà Lạt,  xây dựng nhà máy giấy đầu tiên Cogido An Hảo (1961) ở Biên hòa (thỏa mãn 30-40% nhu cầu tiêu thụ giấy trong nước),  thực hiện hai xưởng dệt Vinatexco và Vimytex với năng suất 13,2 triệu mét vải mỗi năm, nhà máy thủy tinh Khánh Hội năng suất 15.000 tấn/năm; hai nhà máy xi măng ở Hà Tiên và Thủ Đức với năng suất 540.000 tấn mỗi năm, đập thủy điện Đa Nhim năm 1961, thành lập các viện đại học Sàigòn, Huế, Đà Lạt vv…

Qua bảng tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) Việt Nam Cộng Hoà được lấy từ trang mạng www.wikipedia.org  chúng ta thấy được tổng sản phẩm trong nước (GDP) phát triển tốt trong thời Đệ Nhất Cộng Hoà và giảm rất mạnh sau năm 1963 (-17% vào năm 1967):

Bảng 3: tốc độ tăng trưởng của GDP Việt Nam Cộng Hoà (nguồn: www.wikipedia.org)

Tinh thần yêu nước chân chính và tình yêu thương đồng bào ruột thịt đã giúp chính quyền Đệ Nhất Cộng Hoà đạt được những thành tựu nêu trên. Đây không phải là tính chất dị biệt của chính quyền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà mà là tính chất của các chính quyền ở các nước được phát triển về mọi mặt. Tiêu biểu trong thời đại của chúng ta là các nước Nhật, Đức, Nam Hàn, Đài Loan, Do Thái và đặc biệt là Chile, một nước nhỏ bé ở miền Nam Mỹ Châu trong thời gian qua mặc dù nhiều thiên tai nhưng vẫn vững chắc như bàn thạch. Gần đây nhất, Tổng Thống Chile đích thân đến tận hiện trường chỉ đạo công việc cứu 33 người thợ bị kẹt dưới đất vì sụp hầm mỏ… Điều kiện để có được một nước Việt Nam giầu mạnh, được thế giới cảm phục là chính quyền Việt Nam phải biết Yêu Nước và Thương Dân. Đòi hỏi một chính quyền vì Nước, vì Dân không phải là chuyện mơ hồ mà là việc rất thực tế trong thế kỷ thứ 21 ngày nay. Đòi hỏi một chính quyền vì Nước, vì Dân là nhiệm vụ của tất cả mọi người dân nước Việt cho dù phải hy sinh rất nhiều. Có như thế đời sống của chúng ta và con cháu chúng ta mới được cải thiện, tươi sáng. Có như thể chúng ta mới hoàn thành trách nhiệm và giao lại cho thế hệ sau một nước Việt Nam tốt đẹp hơn khi ta nhận của thế hệ trước. Có như thế chúng ta  mới không phải tủi hổ với tiền nhân khi về bên kia thế giới. Có như thế chúng ta và con cháu chúng ta mới  không phải tủi hổ bị lục soát „toàn thân“ khi ra nước ngoài mà luôn được thế giới mến phục vì chúng ta  „là người Việt Nam“.

31.10.2010
Tưởng Nhớ Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng các Anh Hùng, Liệt Nữ thời Đệ Nhất Cộng Hoà

Xin nhắc lại câu nói cuối cùng của TT Ngô Đình Diệm:
“Bảo Duệ đừng nóng, Lữ đoàn chỉ cần bảo vệ thành Cộng Hoà và Dinh Gia Long, cố gắng tránh đừng để anh em binh sĩ phải đổ máu. Đánh vào Bộ Tổng Tham Mưu sẽ đổ vỡ sự thống nhất quân đội, mất tiềm năng chống cộng. Để Tổng Thống thu xếp với các Tướng lãnh” (TT Ngô Đình Diệm chỉ thị cho TT Duệ qua Đại Úy Đỗ Thọ ngày 1/11/1963)

2 Phản hồi cho “Thời nào dân Việt sướng nhất [2]?”

  1. sinh vien says:

    Cho em hỏi là năm 2006 không tính luôn ODA sao, xin tác giả bổ sung thêm thông tin để có số gần chính xác nhất, ngoài ra có thể dc thì thêm số liệu viện trợ từ các tổ chức phi chính phủ, liên hiệp quốc, unicef…

    • Nguyen Hoi says:

      thưa bạn Sinh Vien,
      kính thưa Quí vị,
      nguồn tài trợ về kinh tế từ nước ngoài vào Việt Nam năm 2006 tôi không tự tính mà lấy trực tiếp từ bản tường trình về kinh kế Việt Nam năm 2006 của Toà Đại Sứ Đức tại Hà Nội (Jahreswirtschaftsbericht Vietnam 2006):
      - tài trợ phát triển gồm 3,7 tỉ Mỹ kim (do đó bao gồm cả ODA. Có thể con số này ở những nguồn khác cao hơn)
      - tổng số kiều hối năm 2006 (tiền Việt kiều gửi về chính thức qua các dịch vụ ngân hàng, tài chính trong năm 2006) là 4,8 tỉ Mỹ kim
      - 8,3 tỉ Mỹ kim xuất khẩu dầu thô trong năm 2006 (trong bài tôi tính lầm là 8,1 tỉ Mỹ kim)

      Mục đích của bài viết là so sánh nguồn tài chánh từ nước ngoài đổ vào Việt Nam giúp phát triển nền kinh tế trong nhiều thời kỳ. Do đó những con số trên đã giúp chúng ta đạt mục đích mà không cần phải đào sâu vào chuyên môn cần thiết rất nhiều thời gian.
      thân kính
      NH

Phản hồi