|

Thợ hồ và chính trị

Lê-nin, Hồ Chí Minh đều là Thợ Hồ

Nói về những tổ chức bí mật hay Hội kín, ở Tàu từ cuối thế kỷ XVII, có Hội kín Tam Điểm (Triade) ra đời chống lại nhà Mãn Thanh nhằm phục hồi nhà Minh. Phản Thanh phục Minh là khẩu hiệu. Những người sáng lập có lẽ là các nhà sư ở Chùa Thiếu Lâm với môn vỗ huấn luyện các nhà sư và hội viên Tam Điểm là môn Thiếu Lâm mà ngày nay còn rất nhiều người học như một môn thể thao tinh xảo.

Tam Điểm là một tổ chức ái quốc. Suốt qua thời gian dài, Tam Điểm ủng hộ những cuộc nổi dậy của dân chúng tàu chống nhà Thanh đang trị vì.

Các Hội viên Tam Điểm liên lạc với nhau bằng mật mã, áp dụng triệt để kỷ luật của hội, giữ tuyệt đối bí mật chương trình và kế hoạch hành động.

Nhưng tới giữa thế XIX, một số hội viên tách rời Hội, phản lại lý tưởng cao đẹp ban đầu, sử dụng tổ chức, phương tiện, bạo lực chỉ nhằm phục vụ lợi ích bản thân. Rồng là biểu tượng của nhà vua Tàu, nhưng cũng là hiệu kỳ của nhiều Hội kín bạo lực còn hoạt động ngày nay. Tam Điểm Rồng đỏ và Rồng xanh là hai tổ chức được nhiều người biết tới. Về chủ trương hoàn toàn khác với lúc ban đầu, nhưng về tổ chức vẫn áp dụng cách tổ chức bí mật như trước.

Ra hải ngoại, Tam Điểm trở thành Thiên Địa hội. Qua Việt Nam, Thiên Địa Hội hoạt động phản Thanh phục Minh thì ít, mà làm “kinh tế chớp nhoáng” thì nhiều. Phía Việt Nam cũng có Thiên Địa Hội Việt Nam. Cũng giống như Tàu lúc đầu, Thiên Địa Hội Việt Nam hoạt động bí mật chống Tây từ đầu thế kỷ XX với những thành tích cũng khá nổi đình nổi đám. Cũng áp dụng sự bí mật trong quan hệ với nhau. Những mật hiệu thường được sử dụng lúc bấy giờ như “kèo đỏ, kèo xanh”. Hay để nhận nhau, khi một hội viên được gởi tới hội viên bạn, làm dấu hiệu tự giới thiệu như lấy nón lật ngửa để lên bàn hoặc lấy cây dù máng ngược lên thành cửa,…  Rồi thời gian qua, Thiên Địa Hội Việt Nam cũng không tránh khỏi bị biến chất thành băng đảng bạo lực.

Thiên Địa Hội hoạt động ngoài vòng pháp luật vì đó là băng đảng chuyên dùng bạo lực cướp bốc dân chúng lương thiện. Ở Việt Nam từ khi cộng sản xuất hiện, Thiên Địa Hội không còn nữa nhưng có Đảng Cộng sản thay thế và hoạt động nửa bí mật, nửa công khai theo hiến định.

Khác với các tổ chức trên đây ở Tàu và Việt Nam tiếp theo sau đó, ở Âu châu từ thế kỷ XVIII đã có Hội kín hoạt động ngoài Giáo hội La Mã, trong dân chúng, vì đây là tổ chức thế tục. Đó là “Hội Thợ Hồ” (La Franc-Maçonnerie). Thợ Hồ không dùng bạo lực để cướp chánh quyền, mà dùng ảnh hưởng đối với chánh phủ.

La Franc-Maçonnerie

Trước đây, Thợ Hồ hoạt động kín. Trụ sở, người lãnh đạo, cả hội viên, chỉ người trong tổ chức biết nhau mà thôi. Ngày nay, Hội, trụ sở và nhơn sự đều được giới thiệu với dân chúng. Thăm viếng, liên lạc, trao đổi thông tin dễ dàng. Thợ Hồ, theo thời gian và địa phương, thành nhiều hội khác nhau. Một Hội lại gồm nhiều “Phân bộ” nên giữa các Hội Thợ Hồ cũng có nhiều khác biệt, giữa các Phân bộ có nhiều khác biệt hơn, Hội viên thường không biết nhau, có khi mâu thuẫn với nhau.

Từ kín cho tới mở, Hội Thợ Hồ lúc nào cũng ảnh hưởng mạnh đến chánh trị quốc gia nơi Hội hoạt động. Thợ Hồ chỉ không hoạt động được ở các quốc gia trong thời gian bị cộng sản cai trị. Ở Việt Nam và Đông Dương dưới thời Pháp thuộc, Thợ Hồ có mặt và hoạt động. Họ giúp thực hiện nhiều đối thoại, thương thảo, trao đổi giữa chánh quyền Pháp với nhà cầm quyền cộng sản từ khi họ về Hà nội. Các Ông Phan Anh, Vũ Đình Hòe, Hoàng Minh Giám đều là Thợ Hồ thuộc Phân bộ “Liên Hiệp Huynh đệ Bắc kỳ – La Fraternité Tonkinoise”. Cả Ông Hồ Chí Minh cũng là một Thợ Hồ, lúc ở Paris, vào đầu năm 1922, gia nhập “Phân bộ Liên Hiệp Hoàn vũ – La Fédération Universelle” và tham dự sanh hoạt suốt cả năm nhưng không lâu có lẽ vì không đủ tư cách hội viên, như thành phần xã hội, sự hiểu biết và đóng góp tài chánh thường xuyên (Francs-Maçons d’Indochine 1868 – 1975, Encyclopédie maçonnique, Editions maçonniques de France, Paris, 2002). Và Lê-nin cũng từng là Thợ Hồ. Ông gia nhập Phân bộ Belleville, Paris, trước năm 1904 ( Tuần bái Le Point, số 1948 ngày 14/01/2011, Paris).

 Sơ lược về Thợ Hồ

Năm 1717, Thợ Hồ có mặt ở Anh. Tới năm 1725, Thợ Hồ định cư và hoạt động ở Pháp. Những tư tưởng về cộng hòa như tự do về lương tri, vấn đề phụ nữ,… đều phải phổ biến ngầm, kín đáo.

Lúc bấy giờ, ở Pháp, có nhiều tổ chức nghề nghiệp. Những người buôn bán, thủ công nghệ họp nhau lại thành những hội nghề nghiệp. Như ở Việt Nam ta ngày xưa có “phường”, để quản lý quyền lợi và sanh hoạt của tổ chức như huấn nghệ, thu nhận người làm việc, phân phối công việc.

Thời xưa, nghề nghiệp không phải là việc làm đơn giản chỉ nhằm lợi tức như ta hiểu ngày nay, mà nó mang đậm nét thiêng liêng nên những hội nghề nghiệp ấy lo cho hội viên trong hoạt động nghề nghiệp còn gắn liền với thần linh, tức Tổ nghề. Tổ nghề thợ mộc là Lỗ Bang. Ta có thước Lỗ Bang được cho là linh thiêng dùng để đo cửa chọn kích thước tốt đem lại may mắn, sức khỏe, thành công cho người ở trong nhà, tránh kích thước xấu như bịnh hoạn, tai nạn,… Thậm chí, thước Lỗ Bang phải được cất giữ ở chỗ trang nghiêm và người lớn tuổi mới được phép cất giữ.

Vào thế kỷ XVII, ở Ái-Nhĩ-Lan, có vài hội chấp nhận gia nhập hội những người không cùng ngành nghề. Ở Anh, hội viên không cùng ngành nghề gia tăng mạnh. Những người có thiện chí lấy Hội như chỗ ẩn náo vì nước Anh bị chiến tranh tôn giáo và các vua chúa đánh nhau. Riêng ở Luân-Đôn có 4 Phân bộ họp lại thành một Khu bộ lớn cho 2 Thành phố Luân-Đôn và Westminster.

Tới năm 1723, Phân bộ mới này công bố bản Hiến pháp và những Điều lệ do Mục sư James Anderson soạn thảo, dựa một phần trên bản Qui Uớc “Những Nghĩa vụ Cũ” của Thợ Hồ, nhưng những điều mới chủ yếu nhằm bảo đảm cho Thợ Hồ quyền tự do lương tri.

Năm 1725, nhiều Hội Thợ Hồ lần đầu tiên xuất hiện ở Pháp, trong không khí sanh hoạt tự do và chỉ liên hệ tới giới thượng lưu mà thôi. Thợ Hồ xây dựng nhà thờ, thành phố . Từ đây, Thợ Hồ bắt đầu ảnh hưởng vào đời sống xã hội và đồng thời trở thành một thế lực thế tục từng bước thoát khỏi sự chi phối của giáo hội Vatican. Vì ở họ có sự hiểu biết khác hơn của Giáo hội lại đáp ứng được những đòi hỏi thiết thực của xã hội.

Giáo hoàng phê phán Hội Thợ Hồ không nghiêm chỉnh trong sự phán xét “đúng/sai” vì đón nhận nhiều giáo sĩ bị Giáo hội Công giáo trục xuất. Nhưng không vì đó mà giáo sĩ không gia nhập Hội ngày càng đông đảo hơn.

Từ năm 1740, Thợ Hồ có mặt gần khắp nước Pháp, cả ở những thành phố nhỏ. Hội quán Thợ Hồ trở thành những nơi gặp gỡ thân tình, nơi hội viên đề cao đạo đức và sự bình đẳng. Lần hồi nơi đây nảy nở sự tập họp đông đảo Hội viên sanh hoạt tự do và dân chủ, sự kiện này dẫn tới những tư tưởng mới về sau mà không ai để ý.

Tới năm 1773, Thợ Hồ Pháp mới có được một Trung tâm chung và một uy tín được thừa nhận. Hội viên bầu chọn chức sắc và đại diện cho tất cả các Phân bộ. Thợ Hồ “Grand Orient de France” là Hội lớn và xuất hiện sớm ở Pháp, đặt dưới quyền điều khiển của hai Công tước Chartres và Montmorency-Luxembourg, hai nhà quí tộc yêu chuộng tự do và sáng suốt.

“Quí tộc yêu tự do” và “tư sản sáng suốt” là hai yếu tố cơ bản đóng vai trò hàng đầu làm bùng nổ cuộc cách mạng 1789. Thợ Hồ xuất hiện trong mọi cuộc thảo luận, ở mọi xu hướng của Cách mạng Pháp.

Tóm lại Thợ Hồ là một cơ chế chủ yếu “nhân ái, triết lý và cấp tiến” nhằm theo đuổi mục tiêu mưu tìm sự thật, nghiên cứu về đạo đức và thực hiện sự đoàn kết, kiện toàn sự hiểu biết và đời sống xã hội của con người. Hội Thợ Hồ lấy làm nguyên tắc ứng xử cho mình sự tha thứ lẫn nhau, sự tự trọng và kính trọng mọi người, sự tự do tuyệt đối về lương tri. Xét thấy quan niệm về siêu hình là chọn lựa riêng của hội viên nên Hội từ khước mọi xác định giáo điều. Hội theo đuổi phương châm: Tự do, Bình đẳng, Huynh đệ. Hội có nhiệm vụ trải rộng với tất cả Hội viên sợi dây huynh đệ để nối kết chặt chẽ những người Thợ Hồ khắp trên hoàn vũ lại với nhau.

Vài nét về Thợ Hồ Pháp

Ở Pháp, hỏi Thợ Hồ à? Thợ Hồ ở khắp nơi, tận trong nội thất Chánh phủ, trong Điện Elysée. Đó là nhận xét của nhà văn Sophie Coignard theo kết quả điều tra công phu của bà về Thợ Hồ Pháp (Un Etat dans l’Etat, 2009, Paris). Bà làm hiện rõ vai trò của Thợ Hồ vừa bí ẩn như huyền thoại, vừa thực tế. Qua điều tra sâu vào tổ chức đầy bí ẩn này, tác giả quả quyết Thợ Hồ vẫn tiếp tục ảnh hưởng mạnh, gia tăng ở thế kỷ này trên chánh trường và kinh tế. Như Chánh phủ, ngân hàng, xí nghiệp lớn,…  Trong khi quyền lực chánh trị suy sụp, kinh tế xã hội khủng hoảng thì Thợ Hồ đóng vai trò trung gian giữa Nhà nước và xã hội, có khi họ lại là người đưa ra những quyết định quan trọng cho đường lối chánh trị, kinh tế quốc gia. Từng bước, khi vai trò của họ vững chắc nhờ hữu hiệu, họ tạo ra “Một quốc gia trong Quốc gia”.

Sau kết quả bầu cử Tổng thống Pháp ở vòng một, Đảng Mặt Trận Dân tộc (Front National – bị xếp Cực Hữu nên bị lên án. Cực Tả, tức Cộng sản, không bị lên án, bài trừ, trái lại còn kết hợp vào Chánh phủ) được 18% phiếu, Thợ Hồ, ngày 27 /04/12, vội lên tiếng cảnh giác “Các Anh, Chị Em của Hội đều xúc động sâu xa về một tình hình nhân xã cho thấy sự lo ngại là nhiều người bị ngược đãi, bị ruồng bỏ, việc làm bấp bênh, thất vọng, đã phản ứng bằng cách chối bỏ chánh sách của Chánh phủ và bày tỏ sự tức giận của họ. Hội tố cáo một số chánh trị gia có ý chấp nhận và kết hợp tư tưởng cực hữu vào chủ trương của mình. Hội cảnh giác những ứng cử viên hội viên về sự chệch hướng nguy hiểm này.

Thợ Hồ có mặt và hoạt động ở cùng khắp nước Pháp nên ảnh hưởng sâu đậm đến chánh trị, kinh tế, xã hội Pháp.

Trong chánh trị quốc gia vì vấn đề phe cánh cầm quyền nên có Tả/Hữu. Trong Hội Thợ Hồ, tất cả cùng gặp nhau, không còn phân chia Tả/Hữu. Từ trước Ông Chirac, tới Chirac, Mitterrand, Sarkozy, Hollande và nhiều nhân vật chánh trị Pháp là Thợ Hồ hoặc thân hữu và được Thợ Hồ ủng hộ.

Thợ Hồ có ảnh hưởng mạnh như vậy, mà hội có bao nhiêu hội viên? Có 160 000 hội viên tập họp trong tất cả 18 hội trên khắp nước Pháp. Hội thành lập lâu đời nhứt, năm 1773, và mạnh hơn hết, có 1045 Phân bộ với 47 000 hội viên, là “ Grand Orient de France ”, tọa lạc tại đường Cadet, Paris 9. Chỉ gồm nam hội viên. Qua năm 1893 và 1894, có thêm hai hội ra đời: Hội “Le Droit de l’Homme” có 518 Phân bộ và 15 700 hội viên nam và nữ; Hội “Grande Loge de France” có 804 Phân bộ, 30 157 nam hội viên. Những Hội nhỏ, ít Phân bộ, ít hội viên, mới xuất hiện và hoạt động năm 2003 như Hội “Grande Loge Traditionnelle et Modernité de France.” Có 12 Phân bộ và 500 hội viên nam, Hội “Grand Orient Traditionnel de Méditerranée” ra đời năm 2003, gồm 11 Phân bộ với 300 hội viên nam nữ.

Xếp theo cơ cấu tổ chức, có 8 hội gồm toàn hội viên nam, 9 hội hỗn hợp hội viên nam nữ chung và 2 hội chỉ gồm nữ hội viên.

Có 3 hội, tổng số hội viên trên 10 000 người ;15 hội có số hội viên dưới 10 000 người.
Quyền lực của Thợ Hồ từ trước giờ vẫn kín đáo nhưng trong kỳ bầu cử Tổng thống Pháp vừa rồi, người ta mới thấy hé lộ ra quyền lực thật sự hữu hiệu của Thợ Hồ: “Bà Laurence Parisot, Chủ tịch Nghiệp đoàn Chủ nhơn Pháp, sau khi được Hội Thợ Hồ “ Grand Orient de France ” tiếp, bà liền giữ khoảng cách với Ông Sarkozy đang trong cuộc vận động bầu cử vì Ông Sarkozy phê phán nghiệp đoàn, đảng phái và hiệp hội. Nên nhớ trong một “thể chế dân chủ thật sự, người ta phải vinh danh những tổ chức trung gian”. Thế là có một hòn đá rớt ngay vào vườn của Điện Elysée! (Le Nouvel Observateur, 3/ 2012).

Ông Nicolas Sarkozy thất cử chỉ với số phiếu sít soát với Ông François Hollande.

 Thợ Hồ chọn ứng cử viên, dân bầu

Francois Hollande và Nicolas-Sarkozy. Ảnh Google

- Chân dung Ông Sarkozy

Ngày 14 tháng giêng năm 2008, tại Ryad, Ông Sarkozy táng tụng “Thượng Đế là người siêu việt hiện diện trong tư tưởng và con tim của mỗi người trong chúng ta”.

Lời tuyên bố này đã làm cho Ông Jean-Michel Quillardet nhảy dựng lên. Vị Đại Sư phụ của GODF, cuối năm trước, đã đau nhói tim vì những lời tuyên bố của Ông Sarkozy tại Thánh đường Latran ở La-mã nhân dịp được Giáo hoàng tiếp kiến.

Hôm ấy, Ông Sarkozy phê phán đạo đức thế tục và đề cao đạo đức của Cha Sở và Mục sư trội vượt ông thầy giáo trong làng xã. Qua đầu năm sau, Đại Sư phụ Quillardet vội tìm cách lên tiếng phản đối. Ông trả lời 2 cuộc phỏng vần của tuần báo Người Quan sát mới (Le Nouvel Observateur, 3/1/2008) và nhật báo Giải phóng (Libération, 4/1/2008). Lên tiếng trên báo chưa đủ, Đại Sư phụ Quillardet muốn gặp ngay T.T. Sarkozy. Ông chuyển yêu cầu của ông qua cựu Đại Sư phụ của GODF, Ông Alain Bauer, lúc bấy giờ là Cố vấn của Tổng thống Sarkozy. Đại Sư phụ Alain Bauer vẫn là người thân cận với TT Sarkozy từ năm 2002 khi Ông Sarkozy làm Tổng trưởng Bộ Nội vụ.

Ông Alain Bauer lấy được cái hẹn với Ông Sarkozy chỉ trong vài ngày sau không có gì khó khăn . Ông Sarkozy tiếp Ông Jean-Michel Quillardet với 4 người nữa trong đó, lẽ dĩ nhiên, phải có Ông Alain Bauer tại phòng họp của Điện Elysée. Trước khi hội kiến, Ông Sarkozy được Ông Alain Bauer chuẩn bị rất lâu, rất kỷ để ông sẽ thuyết trình vững vàng và mạch lạc đề tài “Nền Cộng hoà là thế tục, nhưng không phải vô thần”.

Thỉnh thoảng, ông tỏ ra tấn công những người đối thoại “Tính thế tục đã luôn luôn không phải là một khuôn mẫu của sự từ tốn.” Ông buông thêm một câu: “Các ông đều Tả phái cả, phải không?”.

Mấy ông khách Thợ Hồ lấy làm lo ngại là ông sẽ thay đổi luật năm 1905 “tách Nhà thờ ra khỏi Nhà nước” thì sự yên ổn dân sự sẽ không còn nữa. Ông Sarkozy trấn an bốn Thợ Hồ” sẽ có vài tu chính nhưng chỉ nhằm vào qui chế của Mục sư mà thôi.”

Cuộc gặp gỡ này không thay đổi được quan điểm của khách Thợ Hồ. Ông Alain Bauer nhận xét và đánh giá Ông Sarkozy là “tuyệt vời” . Nhưng Ông Jacques Lafouge, một trong ba người kia, lại cho rằng Ông Sarkozy coi thường họ. Ông Sarkozy muốn lăn bột họ. Còn Ông Jean-Michel Quillardet lấy làm tiếc là Ông Sarkozy chỉ vuốt ve họ mà thôi.

Sau đó, Ông Sarkozy đồng ý tới Đền thánh của GODF ỏ đường Cadet, Paris IX, để thảo luận với đông đủ huynh đệ. Nhưng nhiều Thợ Hồ lo ngại nếu sau những cuộc gặp gở mà sau cùng Ông Sarkozy vẫn thay đổi luật 1905 thì hóa ra Thợ Hồ biến làm công cụ cho Ông Sarkozy.

Thượng Nghị sĩ Jean-Luc Mélenchon, cánh tả, cho rằng Ông Sarkozy đã thắng trận chiến với GODF. Tháng giêng 2008, Ông Mélenchon thuyết trình chống Sarkozy tại Thánh đường Arthur-Groussier ở đường Cadet, Paris IX.

Ông Claude Vaillant, diễn giả lớn của GODF, tuyên bố “Nếu Ông Sarkozy đụng tới luật 1905, ông sẽ cho 1 triệu dân chúng xuống đường phản đối . Thợ Hồ GODF tuy chỉ có 50 000 Hội viên nhưng có khả năng điều động nhiều hội tranh đấu mạnh mẻ cho tính thế tục như Tổ chức “Tự Do Tư tưởng”, liên hệ với Thợ Hồ GODF vì do Ông Marc Blondel, nguyên Tổng thư ký Lực lượng Thợ thuyền và Ông Christian Eyschen, cộng sản Đệ tứ điều khiển, có 5 000 hội viên, nỗi tiếng là “quá khích” vẫn giữ khẩu hiệu thời sáng lập là “Không có Chúa Trời, không có Đấng sáng thế . Xã hội muôn năm và đả đảo mủ ca-lốt ( calotte – của giáo sĩ như mủ của Giám mục, Hồng Y, .. .)”, nhiều Tổ chức khác khuynh tả và nhiều nhơn vật lãnh đạo nghiệp đoàn, ký giả lớn khuynh tả, … Sau cùng, hai Tổ chức rất quan trọng, Liên hiệp Gia đình và Liên hiệp Nhơn quyền, chủ tịch đều là Thợ Hồ của GODF, đứng về lập trường của GODF để chống lại Ông Sarkozy trong viển ảnh luật 1905 sẽ bị sửa đổi.

Tại Quốc Hội, Dân biểu Thợ Hồ lên tiếng chống Ông Sarkozy cho rằng ông đưa nền văn minh lên tột đỉnh để chỉ còn là một tôn giáo duy nhứt, chà đạp những nguyên tắc Cộng hòa vốn bất khả phân, thế tục, dân chủ và xã hội, được ghi trong Hiến pháp.

- Chân dung Ông François Hollande

Tại trụ sở của GODF ở đường Cadet, Paris IX, từ tháng 11 đến tháng giêng, Thợ Hồ dành để đón tiếp những “người ngoại đạo” tới thuyết trình những suy nghĩ của họ trước Thợ Hồ họp lại tại Đền thánh Arthur-Groussier là nơi rất bí mật. Hồi đầu năm nay, tại đây có 6 ứng cử viên Tổng thống lần lượt tới, mỗi người có quyền sử dụng 2 giờ, nói về 7 giá trị của GODF: dân chủ, thế tục, tương thân, tính công dân, môi trường, nhơn phẩm, nhơn quyền.

Diễn giả nói xong, không có vỗ tay hoan nghênh vì nội qui không cho phép. Ông François Hollande phê bình “Đầy ấn tượng”, “Không thấy có gì hiện lên gương mặt, nhưng ông nói ông hoàn toàn hiểu”. Ông Hollande thích nói chuyện ở đây lắm.

Cuộc nói chuyện này được phổ biến trên mạng của Thợ Hồ GODF để cho hơn 40 000 người khác có thể theo dõi.

Từ thế kỷ XVIII, Thợ Hồ Pháp mà đại diện là GODF, luôn tranh đấu cho nền Cộng hòa.

Ông Sarkozy từ chối lời mời tới thuyết trình vì lúc bấy giờ ông chưa nạp hồ sơ tái ứng cử. Để cáo lỗi, TT.Sarkozy tổ chức một buổi lễ và mời Thợ Hồ tới tham dự như ông đã từng làm hai lần trước đây. Trong buổi lễ, ông không đề cặp tới ông sẽ là ứng cử viên Tổng thống. Bài diễn văn của ông đậm nét cộng hòa. Năm 2007, ứng cử viên Sarkozy nhận lời tham dự tiệc cộng hòa “Đối thoại và Dân chủ Pháp” qui tụ tất cả Thợ Hồ của các Hội ở Pháp. Nhưng từ bài phát biểu của Ông Sarkozy ở Thánh đường Latran đề cao nguồn gốc thiên chúa giáo của nước Pháp, GODF và Elysée không còn thông cảm nhau nữa, không còn tin cậy nhau nữa nên sự ủng hộ của Thợ Hồ cũng từ đó trở thành phai nhạt.

Trong lúc đó, Ông François Hollande trở thành người được Thợ Hồ ái mộ. Năm 2006, được Thợ Hồ tiếp đón với tư cách Tổng bí thư đảng Xã hội, ông đã thành công làm say mê Thợ Hồ với bài thuyết trình của ông về “Tương lai của chủ nghĩa xã hội”.

Từ đây ông được mọi người xem ông như “Thợ Hồ không tạp-dề (tablier)” vậy. Ông Hollande biết và đánh giá cao tầm quan trọng của hệ thống kết hợp chặt chẽ này mà ông nhiệt tình chia sẻ với họ những giá trị cấp tiến. Trong những cam kết trong chương trình ứng cử Tổng thống của ông, sự “tôn trọng luật 1905″ và “nhìn nhận quyền được chết xứng đáng” là hai điều đầy sức hấp dẫn Thợ Hồ. Đại Sư phụ Guy Arcyzet được Ông Hollande mời xuất hiện bên cạnh ông trong những cuộc vận động bầu cử nhưng Ông Arcyzet từ chối tuy ông có thẻ đảng viên đảng Xã hội.

Trước Đền thánh của GODF, Ông Hollande long trọng tuyên bố “Tính thế tục không cần phải được bổ sung, nó là tính thế tục, nó không cần phải được định nghĩa hoặc chính xác hơn, nó là qui tắc, nó là nguyên lý xây dựng nền Cộng hòa của chúng ta (…) . Tôi biết đôi khi có những tiền lệ của tòa án hành chánh, tư pháp thiết lập khi đề cập tới những tự do. Nên tôi nghĩ cần phải tái xác định nguyên tắc về thế tục, có khi phải sửa đổi Hiến pháp để đưa vào cơ cấu cao nhứt của chúng ta luật tách rời Nhà thờ khỏi Nhà nước. Kế đó, về sự tài trợ, nhiều luật đã được biểu quyết. Tôi nghĩ đến luật đã đè nặng lên thị xã để tài trợ trường tư. Đó là điều sẽ phải được xem xét lại …”.

Phần lớn Thợ Hồ đều khuynh tả, theo mác-xít, và hết 80 % báo chí khuynh tả. Người để được họ ủng hộ trong cuộc bầu cử phải là ứng cử viên tả phái. Nếu không phải ứng cử viên tả phái thì ít ra phải biểu lộ rỏ lập trường phù hợp với những giá trị lý tưởng của họ. Ông Hollande vừa là đảng viên xã hội, vừa nói đúng tiếng nói của Thợ Hồ phải được Thợ Hồ nhiết tình ủng hộ mà thôi.

Vậy chẳng lẽ nước Pháp là Cộng hòa Thợ Hồ?

© Nguyễn Văn Trần

© Đàn Chim Việt

 

6 Phản hồi cho “Thợ hồ và chính trị”

  1. Lu Khai says:

    Ông này viêt´sai nhiêu` Váo Google tra Hôi Tam Hòang và Hôi Tam Diêm

  2. Củ Lẫn says:

    Tác giả dùng một danh từ, hội Tam Điểm để chỉ hai tổ chức không liên hệ đến nhau, làm rắm rối thêm!

    - “Thiên Địa Hội “. là một tổ chức chính trị xuất hiện đầu đời nhà Thanh (có lẽ là đời vua Khang Hi) với mục đích (nguyên thủy) là “Phản Minh, Phục Thanh”. Dần dần Thiên Địa Hội chia ra thành nhiều hệ phái (giống như trường hợp đảng Đại Việt ở VN). Sau những cuộc nổi dậy thất bại, bị truy nã, nhiều thành viên của Thiên địa hội chạy thoát ra nước ngoài, nhiều nhất ở các nước vùng ĐNÁ, và cả Bắc Mỹ…

    Trong nước (Trung Hoa) Thiên Địa Hội tan vỡ thành nhiều nhóm nhỏ, có những nhóm trở thành những tổ chức tội phạm nguy hiểm, nhờ hệ thống tổ chức bí mật và chặt chẽ có sẵn. Nhưng tổ chức tội phạm này trong tiếng Anh được gọi dưới tên chung là “Triad”… Chúng vẫn còn tồn tại tới bây giờ

    - Hội Tam Điểm. Tiếng Anh là Free Masons, tiếng Pháp: Grand Lodge. Xuất xứ ở Âu Châu, sau này làn tràn khắp thế giới, gần như chỗ nào cũng có, chúng tỏ là TĐ đã lớn mạnh vô cùng.

    Có nhiều giả thuyết về nguồn của hội TĐ, người thường không ai biết đâu là sự thật. (Tôi từng hỏi một vài thành viên TĐ Âu Châu thì họ bảo những huyền thoại đó phần lớn hoàn toàn bịa đặt, nhưng tôi nghĩ ngược lại là phần lớn đều ít nhiều đúng sự thật. Có điều dễ hiểu là ngay cả những thành viên cũng không biết, hoặc giả – cao cấp đủ để biết thì sẽ không được phép nói ra).

    Trong những thế kỷ đầu, TĐ là một hội kín – hoan toàn bí mật – nên ít người biết đến, nhưng có điều chắc chắn là Tam Điếm có ít nhất từ thế kỷ 14, dựa theo những tài liệu tìm được. Hội chính thức ra mắt – như ở Anh rồi Pháp – vào mãi đầu thế kỷ 18.

    Dù “tên tục” của TĐ (“mason”) có nghĩa là “thợ hồ” (hay “thợ hồ tự do” – Free Masons) nhưng có lẽ đó chỉ là khởi thủy (giống như Chúa Giê-Xu vốn là thợ mộc, thánh Phê-rô là người đánh cá) hoặc ó nghĩa tượng trưng (“Free” đây có thể là thoát khỏi ảnh hường, chống lại hay tranh dành ảnh hưởng với thế lực lớn nhất thời xưa, chính là giáo hội TCG Là Mã). Điều hiển nhiên, là hột TĐ ngày nay không có ai làm nghề “thợ hồ”, ngược lại phần đông là những thành phần có địa vị cai trong xã hội – mọi xã hội, kể cả trong các nước XHCN…

    Hội TĐ cũng theo chân thực dân Pháp vào Việt Nam. Đạo Cao Đài, với biểu tượng con mắt cũng chính là biểu tượng chính của Tam Điểm. Đao Cao Đài cũng thờ văn hào Victor Hugo, người được coi là một “phương trượng” (Grand Lodge) của Tam Điểm, cũng như Leonardo da Vinci etc.

    Hội TĐ có hai mặt: công khai và kín, các hội viên cũng thế. Thường những thành viên cao cấp ít ai biết đến, lý do là họ có thể là Tổng thống của một cường quốc, hay một tài phiệt quốc tế với quyền lực còn hơn cả tổng thống v.v. Nhưng không có nghĩa là có vị TT nào gia nhập hội TĐ mà họ đã là thành viên của TĐ trước – thường là mấy đời – được hội TĐ “nuôi dưỡng” tạo điều kiện tốt nhất để tiến thân trong sự nghiệp. Dĩ nhiên người đó sẽ “mang ơn” Hội suốt đời, có khi sang cả đời con cháu. Chưa nghe nói ai đã mang ơn hội TĐ mà có thể an toàn bước ra khỏi hội được!

    Câu hỏi sau cùng: ông HCM – alias Nguyễn Tất Thành – có phải hội viên của TĐ không? Như tác giả NVT nói, có tai liệu chính thức ông HCM (túuc NTThành) có làm đơn xin gia nhập hội TĐ, nhưng ngoài ra có lẽ không có một dấu vết chứng tỏ là ông đã sinh hoạt với hội như là thành viên chính thức. Ngược lại, chi tiết này phần nào chứng minh là thời HCM mới trở lại Pháp, ngoài việc làm việc vặt vãnh cho hai cụ Phan – dưới biệt hiệu Nguyễn Ái Quốc – ông Hồ lúc đó tìm đủ mọi cách đển tiến thân. Đồng thời với hội TĐ, ông Hồ cũng là thành viện của đảng Xã Hội Pháp (mà cụ Phan Chu Trinh rất gần gũi nhưng tư chối làm hội viên). Khi thành phần thân Nga (LIên Xô) của đảng XH Pháp tách rời ra thành lập đảng CS Pháp, thì ông Hồ đi theo để nghiễn nhiên trở thành “đại diện” cho ba nước Đông Dương (Việt – Miên – Lào). Với tư cách đó ông Hồ được đảng CS Pháp cử đi dự đại hội CS Quốc Tế tai Mạc Tư Khoa (Moscova) và ông không bao giờ trở lại Pháp, mắc sự mong đợi của luật sư Phan Văn Trường, người đã xuất tiền túi ra để trả lộ phí cho HCM/NTThành đi phó hội…

    Tóm lại, ông HCM có thể là “thợ hồ” tí ti, nhưng chưa chính thức mà phải nợ nần gì. Ngược lại, HCM nợ CS Quốc Tế (Đệ Tam) ở Moskova và sau này nợ Tầu Cộng rất nhiều…

    TB. Trên đây có nhiều chi tiết về lịch sử hội TĐ có vẻ trái ngược với những điều tác giả nói, nhưng cũng nên hiểu là lịch sư TĐ của tác giả NVT là version chính thức, nhưng có nhiều versions khác nữa. Chúng ta không biết điều nào ccúng hẳn, nhưng có lẽ tổng hợp lại ta sẽ hình dung đầy đủ thế lực của hội TĐ vẫn còn ngày nay. Đó là điểm chính nên biết…

  3. D.Nhật Lệ says:

    Hình như tác giả có sự lầm lẫn về danh xưng hội kín,bí mật ở Trung Hoa trước đây.
    Không phải gọi như hội tam điểm bên Âu Mỹ mà là hội Tam Hoàng gồm có Phục Hy,Thần Nông,Hoàng Đế
    mà người Tàu tôn thờ đã ghép lại để thành một hội kín,chủ trương phản Thanh phục Minh nhằm đấu tranh
    để đưa Trung Hoa về lại thời hoàng kim xa xưa !

  4. Chi Lan says:

    Hội nầy chính là hội Masonic ở Mỹ mà gần như đa số các Tổng Thống Mỹ từ George Washington đến nay đều là hội viên. Cũng nên lưu ý là phù hiệu Masonic rất giống đạo Cao Đài ở VN.
    Chẳng lẽ nước Mỹ cũng là ……. Cộng hoà Thợ Hồ ?

  5. Minh Đức says:

    Một bài viết của một người sống ở Pháp, am tường về chính trị, cho thấy cơ cấu xã hội của một nước theo chế độ dân chủ, có những người tuy chỉ là dân thường nhưng ảnh hưởng đến chính trị và hướng đi của quốc gia. Quyền lập hội cho phép những người tin theo các giá trị đạo đức giống nhau, có quan niệm về xã hội và chính trị giống nhau kết hợp với nhau. Điển hình là hội Thợ Hồ trong bài này. Nhờ số đông, nhờ uy tín mà họ có ảnh hưởng đến chính trị. Đó là cơ cấu hạ tầng quyết định thượng tầng. Dưới là những người dân kết hợp với nhau thành hội, thành đảng, ảnh hưởng đến bên trên. Hội nào, đảng nào được nhiều người theo, có uy tín trong xã hội thì có ảnh hưởng đến việc bầu ai vào chính quyền. Đó không phải là cơ cấu của chế độ của một đảng rồi bao biện bày ra hội này, đoàn nọ rồi bắt tất cả các hội, đoàn phải tuân lệnh từ trên cao ban xuống.

  6. ĐẠI NGÀN says:

    HỘI KÍN VÀ HỘI HỞ

    Trong lịch sử nhân loại, bất kỳ ở đâu và khi nào cũng có sự dị biệt ý kiến hay dị biệt quyền lợi giữa những cá nhân con người. Bất kỳ chế độ nào mới lên cũng từ những bất mãn của nhiều người đối với chế độ trước đó. Rồi khi chế độ hay nhà nước mới lên, lại gây ra những bất mãn mới cho những người khác và cứ tiếp tục như vậy. Đó là thực tế vận động khách quan của xã hội nói chung từ xưa đến nay không có gì lạ. Một triều đại cũ được thay thế bởi triều đại mới, và cứ lần lượt như thế, có khi ngắn, khi dài trong thời gian, không nhà nước nào trường cửu. Và nguyên tắc vẫn là ban đầu một nhóm nhỏ thành hình và nếu có năng lực, có kết quả, sẽ làm thành các nhóm lớn hơn kết hợp lại và cuối cùng là một triều đại mới thay thế cho triều đại cũ. Nhưng cái then chốt ở đây chính là ý thức nhận thức về điều gì đó đúng hay sai nói chung, và các quyền lợi đời sống nào đó chính đáng hay không chính đáng nói chung của những người, những nhóm người, những tập thể rộng lớn những con người liên quan. Có nghĩa lúc đầu là những hình thức hội kín, bởi sợ bị ngược đãi, tiêu diệt, nhưng khi đã thành công rồi, sự liên kết đó vẫn còn, trở nên chính thống, công khai cho triều đại mới, đó cũng là hình ảnh hội hở nếu muốn nói và có thể nói được như vậy.
    Ý nghĩa của ý thức tâm lý và quyền lợi đời sống thực tế như phân tích trên đây được Các Mác hằn chung vào quy luật đấu tranh giai cấp của xã hội. Thật ra ý nghĩa của đấu tranh giữa cá nhân hay giữa giai cấp đã được nhiều người nghiên cứu kinh tế xã hội trước Mác nói đến. Song Mác gắn thêm vào với quan điểm biện chứng luận của Hegel làm thành nguyên lý đấu tranh giai cấp mang tính nghiệt ngã, siêu hình, có phần hoang tưởng, tất định, mà Mác quan niệm đó là quy luật biện chứng khách quan, tất định của lịch sử xã hội. Có nghĩa nếu không dựa vào ý tưởng của Hegel về biện chứng luận, học thuyết Mác về đấu tranh giai cấp cũng không thể hình thành, cũng không có quan niệm bạo lực của Lênin để hình thành nên quan niệm cách mạng xã hội cộng sản cùng mọi hệ luận của nó về sau. Kết cục toàn bộ những điều này thực tế đã giết chết trên 100 triệu người trên toàn thế giới người ta đã thống kê được kể từ khi cách mạng vô sản 1917 ra đời ở Nga khi đó. Song ngày nay cuộc cách mạng đó đã hoàn toàn tan rã, nên trên 100 triệu nhân mạng đó mà nó bỏ ra cùng với mọi sự đầu tư xây dựng xã hội theo hướng đó mà Mác chủ trương chỉ hoàn toàn bị hoang phí và thật sự trở nên vô ích.
    Nói khác đi, có sở thực tế của xã hội luôn là những thực thể cá nhân mà không phải giai cấp mơ hồ. Bởi những cá nhân có hoàn cảnh như nhau tạo thành giai cấp nào đó, giai cấp không phải một phạm trù nhất định hay bất biến. Nói cụ thể, hoạt động đời sống là hoạt động của mọi người nói chung. Nhưng hoạt động nhận thức hay ý thức là hoạt động chiều cao của nhân loại. Chính nhận thức khoa học và ý thức đạo đức làm cho xã hội phát triển, không phải chỉ sự giao thoa nhau, sự mâu thuẫn nhau về kinh tế đời sống làm xã hội vận động. Bởi sự vận động kiểu đó là sự vận động triệt tiêu nhau, khống chế nhau, thôn tính nhau, không hề là sự hoạt động kết hợp, hợp tác hay tổng hợp nhau. Quan điểm đấu tranh giai cấp và chuyên chính giai cấp, nhất là giai cấp vô sản, là một quan điểm phản tiến hóa, phản động và phản phát triển xã hội nhất của Mác. Bởi vì mỗi cá nhân đều có bản năng, kể cả bản năng tiêu cực. Cho nên nếu sự kết hợp toàn bản năng tiêu cực, đó là sự phản động đối với xã hội. Bởi thế, chỉ có sự giáo dục, ý thức đạo đức, cơ chế tự do dân chủ đúng nghĩa mới giải phóng con người ra khỏi các trì trệ của bản năng tiêu cực, ích kỷ mà không là gì khác. Chủ trương sự chuyên chính vô sản chính là quan điểm phản động nhất trong lịch sử nhân loại mà Mác là tác giả duy nhất đã tạo ra về mặt lý thuyết hay học thuyết. Vậy nhưng nhiều người vẫn nhìn Mác như một vĩ nhân nhằm giải phóng nhân loại, thật là cái hình thức hào nhoáng đánh lừa cái bản chất thật sự ngược lại.
    Cho nên một triều đại tốt là triều đại không tạo nên những chống đối, bất mãn, hay hạn chế tối đa những chống đối, bất mãn bằng bản chất tốt đẹp của nó. Ngược lại nếu nó chỉ ngăn chận hay vô hiệu hóa mọi sự chống đối, bất mãn bằng các biện pháp ức chế, bạo lực, đó không phải là các triều đại tốt đẹp, dù cho nó có thành công nhất thời nào đó. Triều đại nhà Tần và triều đại nhà Hán ở Trung hoa cổ hoàn toàn khác nhau về điều đó. Học thuyết nhân văn của Khổng Mạnh cũng hoàn toàn khác học thuyết hình pháp của phái pháp gia cũng chính là như thế. Sự thất bại trong chính trị của Khổng tử, Mạnh tử, tức về phương diện quyền lực chính quyền, nhưng lại là sự thành công của hai ông này về mặt giá trị xã hội, lịch sử nhân bản cũng chính là như thế.
    Bởi vậy hiện tượng hội kín trong xã hội bao giờ cũng có. Song xã hội nào mà hội kín không tự phát nhiều, đó mới là xã hội tốt, không phải là xã hội mà hội kín hay hội hở đều bị ức chế, cấm đoán một cách hoàn toàn giả tạo và hà khắc. Bởi những kết hợp các cá nhân vì mục đích nào chính đáng đều là quyền và ý nghĩa tự nhiên của xã hội. Ý nghĩa của xã hội là biết khuyến khích, kết hợp những điều đó vào các mục tiêu lợi ích chung, không phải cấm đoán hay triệt hạ vì bất kỳ những lợi ích võ đoán, riêng tư nào đó của kẻ cầm quyền.
    Sự phân chia hai giai cấp thống trị và giai cấp bị trị trong xã hội như một quy luật khách quan, thường cửu cũng là một quan niệm hết sức phản nhân bản và phản động của Mác. Bởi vì Mác quan niệm hủy diệt giai cấp thống trị cũ phải xây dựng một giai cấp thống trị mới, ý nghĩa vấn đề cũng chỉ đảo vế, đảo lộn vị trí mà không hề có lối ra hay giải quyết gì hết. Đây chính là tính cách hết sức ngụy biện và hết sức phản động, phản phát triển, phản nhân văn trong quan điểm chính trị của học thuyết Mác.
    Cho nên một xã hội nhân bản, giải phóng thật sự, chỉ có thể là một xã hội tự do, dân chủ trong khuôn khổ khách quan và khoa học. Có nghĩa chính nhận thức, điều kiện sống công bằng khách quan là yếu tố phát triển mà không phải chỉ là một ý thức hệ áp đặt, một sự chuyên chính vô lý, vô lối của những sự nhân danh hay giai cấp giả tạo nào đó. Xã hội luôn luôn có phương thức tự điều chỉnh, Bởi vì đó là quy luật chung của mọi quần thể sinh học sống thực. Vậy mà Mác hoàn toàn không căn cứ trên cơ sở tự điều chính khách quan này, lại xây dựng nên tảng trên một quan niệm mang tính cách tất định kiểu siêu hình, tiền chế, thật là một tư tưởng, quan niệm đại phản động, phản khoa học, phản tiến hóa, phản nhân văn thực tế trong suốt lịch sử nhân loại. Sự tổ chức xã hội thành một hệ thống, một mạng lưới chặt chẽ, thủ tiêu hết mọi sự sinh động tự nhiên của cá nhân và xã hội, chính là một sự làm bế tắt, làm vô hiệu hóa nhiều mặt phát triển tự nhiên, không giới hạn của xã hội cũng như của cá nhân một cách chính đáng và cần thiết nhất, đó cũng vì do chính Mác đã hữu ý hay vô tình đặt viên đá tảng đầu tiên đã làm nền móng cho các thực tế kỳ quái, nhưng lại đã xảy ra khá lâu dài về sau đó.

    Võ Hưng Thanh
    (06/8/12)

Leave a Reply to Chi Lan