|

Tiếng khóc của muà Xuân

Từ phòng thương binh xã hội về, ông Giáo cởi áo khoác, mệt mỏi ngồi xuống tầm phản được kê ở giữa nhà. Ông với tay lấy bát điếu rít một hơi, rồi nhả khói một cách uể oải. Đó là tính cách của ông Giáo, mỗi khi gặp những chuyện không vui. Bà Giáo nằm trong giường ho lụ khụ. Bà biết trong người ông Giáo đang bực dọc, do vậy chờ sau khi ông than phiền:

- Lương với lậu, chờ nhận được lương hưu, chắc mình chết đói…có mà ăn đất…

Bà Giáo mới dám hỏi:

- Họ bảo sao hở ông ?

Ông Giáo gằn giọng :

- Nó bảo ngân hàng không có tiền, phải chờ.
- Hôm nay 29 tết rồi, mà mấy tháng không có lương, tết với nhất cái gì nữa cơ chứ.

Bà lẩm bẩm trong miệng như tụng kinh, rồi nói đổng :

- Hôm nay cũng chưa thấy thằng Hiếu về. Cơ quan có phân phối cho chút gì để thắp hương ông bà mấy ngày tết không? Con Xuân cũng mấy ngày không thấy vác mặt về nhà.

Ông Giáo chép miệng, thở dài, lấy khăn lau lại bàn thờ tổ tiên ở trên nóc tủ. Ông cẩn thận tỉa và cắm lại từng chân hương cũ cho gọn gàng. Ông rót chén nước mới kính cẩn đặt lên khay. Sau đó lau chùi trên xích đông, nơi để sách của ông. Ông cũng cẩn thận lau những vết hoen ố trên khung ảnh chủ tịch Hồ Chí Minh, được treo giữa nhà. Ông sửa lại ngay ngắn những huy hiệu cháu ngoan Bác Hồ, của con Xuân được thưởng ngày còn đi học, bây giờ đã ngả sang mầu vàng.

Cả xóm Bãi nhuộm, không ai là không biết, gia đình ông bà Giáo sống hiền lành, nhân ái với bà con lối xóm. Với cái đức “Đói cho sạch, rách cho thơm” của gia đình ông bà làm cho cả xóm ai cũng kính nể. Nhất trong việc giáo dục con cái, Hiếu và Xuân luôn được bà con đưa ra làm gương . Năm 1954 chính phủ tiếp quản thủ đô, ông Giáo tham gia tích cực vào phong trào dạy xóa nạn mù chữ, cho bà con xóm nghèo.Sau đó, ông được nhận chính thức giảng dậy cho trường tiểu học gần nhà. Bà Gíáo quanh năm với gánh xôi chè trên vai, đi khắp ngõ ngách Hà nội, tần tảo bán buôn nuôi chồng, nuôi con. Chứ đồng lương của ông Giáo chỉ đủ quà sáng, và cho ông hút thuốc lào vặt. ấy vậy mà bà Giáo chẳng bao giờ kêu ca, phàn nàn chồng con. Gia đình luôn hòa thuận, vui vẻ, nhiều khi ông Giáo chế cả thơ cụ Tú để nịnh bà :

“Quanh năm quang gánh khắp nơi nơi
Nuôi đủ hai con với một chồng“

Tốt nghiệp Đại học Bách khoa, Hiếu được điều lên làm việc tại công trường xây dựng thủy điện Hòa bình. Hàng năm mới về nhà một lần, lương lậu chẳng được bao nhiêu, nhiều khi phải ngửa tay xin mẹ tiền tầu xe. Xuân được ông bà yêu thương và hy vọng nhiều. Năm đó Xuân thi trượt đại học, cũng là lúc bà Giáo tuổi đã cao, sức yếu dần, nên chợ búa bữa đực, bữa cái. Đồng lương hưu của ông giáo thất thường, nên kinh tế gia đình không còn được như trước. Xuân đi xin việc nhiều nơi, nhưng chẳng có nơi nào nhận, vì nhà máy, công sở không có việc làm, sa thải người ầm ầm. Đang lúc bế tắc, đói khổ, đảng ta phá tan học thuyết kinh tế tập chung của Mác, đổi mới, sáng tạo kinh thị trường của chủ nghĩa tư bản. Thật là đang chết đuối bám được cọc, tiền đầu tư đổ vào còn đông hơn quân Nguyên, khách sạn, nhà hàng mọc lên như nấm sau mưa. Tất cả cho du lịch, ngành công nghiệp không khói này, được đảng ta khai thác triệt để. Thông báo tuyển người được dán khắp nơi.

- Trẻ đẹp như các cô, từ nay tha hồ mà kiếm tiền nhé..

Người giám đốc khách sạn cười hềnh hệch bảo vậy, khi Xuân được tuyển vào làm tiếp viên. Từ một con cừu non ngơ ngác, qua những đêm dài thoát lạc, Xuân đã trở thành con Rái của vũ trường. Từ những điệu nhảy lả lơi, cho đến những gam bốc lửa, những lời mời đầy khuyến rũ, tất cả vì khách hàng, người ta dậy Xuân như vậy. Hỡi các anh già, hỡi các anh trẻ, và tất các bác sồn sồn, chúng em xin phục vụ tất cả mọi yêu cầu, trên cả mức tuyệt vời. Ôi! Các thượng đế. Rồi những ly bia, cốc rượu được tràn ra từ môi…tràn xuống cổ…tràn xuống ngực…tràn xuống bụng…tràn xuống..tràn xuống chân, là lúc Xuân học được nhiều phép lạ, moi tiền các thương đế. Nhất là mấy bác sồn sồn Việt kiều yêu nước, vung tay với người đẹp. Chu cha, ở nước ngoài nhìn các bác thấy xam xám, xộc xà, xộc xệch, ki ki, cóp cóp từng xu, từng cắc, người dân bản xứ cứ xuýt xoa, thương các bác nghèo khổ. Ối! Giời đất ơi, về Việt Nam sao các bác nhiều tiền thế không biết.

Tiếng khóc của muà xuân

Không biết kẻ độc mồm, độc miệng nào nói cho vợ chồng ông Giáo biết, Xuân đã trở thành cô gái ăn chơi. Đúng là sét đánh mang tai, ông Giáo lăn đùng ngã ngửa, phải cấp cứu khẩn ở bệnh viện. Bà Giáo nằm liệt giường mấy ngày, bỏ hẳn chợ búa.

- Thế này, nó bôi tro trát trấu vào mặt rồi, còn mặt mũi nào nhìn ông bà ông vải, và bà con láng giềng. Con với cái, chết quách đi cho xong à.

Bà Giáo cứ đai đi, đai lại câu nói như vậy.

Năm sau Xuân bị thải hồi, lý do khách sạn cần những cô gái trẻ, đẹp, mới lạ hơn, theo yêu cầu của các thượng đế. Cuộc đời vốn dĩ đã đắng cay, giờ đây lại còn cay đắng hơn, thân phận làm trò vui cho thiên hạ đã là tầng lớp tận cùng của xã hội, Giờ đây Xuân còn bị đạp xuống hố sâu hơn nữa. Trước mặt Xuân là màn sương mù đầy đặc….

Xuân không thể nào nhấc chân khỏi vũng bùn đen ngòm ấy, đành phải đứng ở ngoài khách sạn đón những khách rẻ tiền hơn. Từ đây Xuân thấu hiểu, nỗi cơ cực, mỗi lần bị cảnh sát vây bắt. Nhất là những ngày lễ tết, tất cả đều bị tống lên xe thùng, vào trại ba, bốn ngày rồi thả. Lần nào có tiền, nhanh tay hối lộ, may mắn ngày tết không phải ăn cơm tù. Có lần Xuân bị đưa vào trại, gặp trưởng trại là khách quen của khách sạn Xuân làm cũ. Nhận ra nhau, Xuân hỏi :

- Thưa cán bộ, trước đây em cũng làm như vậy ở khách sạn sao không bị bắt, mà cán bộ cũng.. thường…
- Câm …câm  câm ngay, có muốn về hay muốn rũ tù, mà dám thọc mạch vào chuyện đó.
- Em không biết, thì em hỏi vây thôi, -

Sợ quá, Xuân lẩm bẩm không thành tiếng:

- Thì ra làm điếm ở ngoài là bất hợp pháp

Người trại trưởng đỏ mặt, chỉ tay vào mặt Xuân- Liệu hồn đấy- quay ngoắt bước đi.
Đường phố Hà Nôi những ngày giáp Tết thật tấp nập xe cộ rối rả dọc ngang. Từng gánh hoa Ngọc Hà đổ về phố. Giá hoa năm nay xuống thật rẻ, thế mà mấy cô hàng hoa đứng nhìn nhau, ta thán ế ẩm. Thật là người mua thì ít, người xem thì nhiều. Hà Nội về chiều mưa xuân lại càng dầy hạt hơn, từng đợt gió mùa đông bắc còn rớt lại, se se lạnh. Thỉnh thoảng lại dội lên một tràng pháo tép, và đì đùng từng quả pháo cối, của mấy chú bé đốt ở cuối phố nào đó, báo hiệu một mùa xuân đã và đang đến thật gần. Hiếu đi chuyến xe cuối cùng trong ngày, từ Hòa Bình về Hà Nôi.Có lẽ mùa xuân năm nay là mùa xuân chán chường, và thờ ơ nhất đối với Hiếu. Từng bước, từng bước chân nặng nề trên đường phố quen thuộc, nhưng cảnh vật dường như xa lạ. Hiếu vẩn vơ suy nghĩ về quyết định cắt thưởng cuối năm, của cả đội, do anh làm đội trưởng, với lý rất đơn giản, đội anh không hoàn thành chỉ tiêu, chào mừng ngày thành lập đảng. Những câu hỏi luôn được lặp đi lặp lại trong đầu Hiếu. Đảng là đảng- khoa học là khoa học. Không thể nói thần thánh có đảng trong ta, mà công việc hai ngày có thể hoàn thành trong một ngày. Nguyên nhân không hoàn thành chỉ tiêu, không phải lỗi của đội anh, lỗi đó thuộc về các chuyên gia người Nga và đội khảo sát công trình. Trong bản vẽ, có một số chỗ khác với thực tế khi đội anh thi công đặt cáp ngầm, cho nên đẻ ra một sồ vấn đề phải xử lý, mới đảm bảo kỹ thuật. Có lẽ họ làm ẩu cho xong việc mong được nhận tiền thưởng chăng?.

Đường phố đã lên đèn, từng đoàn xe hơi đời mới, đỗ dọc phố để vợ con họ chọn mua hoa. Có lẽ các cô bán hoa chỉ bán được vào các buổi tối và đêm. Các khách sộp, các khách sành chơi hoa, dường như đều là những người có chức, có quyền, có lẽ mùa xuân là của riêng họ. Đi quanh hàng hoa, được các cô mời chào Hiếu cũng cảm thấy vui vui. Nhìn những cành đào bắt đầu nở hoa, những cây quất trĩu quả, Hiếu cũng muốn mua, nhưng anh đắn đo mãi, vì sáng nay anh lên phòng tài vụ nói mãi họ mới cho tạm ứng trước một tháng lương, tiền tầu xe, còn lại còn phụ mẹ hương hoa ngày tết. Cuối cùng anh cũng phải bỏ qua lời chào mời đon đả đó.
Bước chân vào nhà, Hiếu đã nghe thấy tiếng mắng Xuân của bố :

- Mày còn dám vác mặt về nữa sao? Tao không có thứ con như mày..mày ..mày là..

Hiếu thấy bố dừng lại không quát hết câu, nước đã ngân ngấn trên tròng mắt ông. Chưa bao giờ Hiếu thấy ông giận, và xúc động như vậy. Thấy Hiếu về, ông cũng nguôi ngoai đi phần nào. Hiếu chưa kịp chào, ông đã bỏ lên giường nằm. Hiếu hỏi bệnh tình của mẹ xong, quay sang hỏi Xuân:

- Có chuyện gì vậy em?

Xuân không trả lời, bật khóc, đi đến cạnh giá sách của ông Giáo xé hết những giấy khen của mình, mà bấy lâu nay là niềm hãnh diện của ông Giáo. Đứng trước ảnh“ Bác Hồ“, Xuân nói không thành tiếng :

- Bác ơi, bác cứu cháu với, thực sự cháu đã hết đường đi rồi… Cháu tuyệt vọng rồi..

Bất chợt Xuân cười khành khạch như điên như dại, hai mắt trắng dã long sòng sọc, tóc trên đầu xổ tung rũ rượi, hai tay múa như lên đồng. Xuân nhảy tót lên bàn, đá tung cốc chén, giựt ảnh Bác Hồ, ném xuống nền nhà, kính vỡ tung tóe, chém rách toạc BỘ RÂU của Bác. Trong giường, tiếng ông Giáo quát vọng ra:

- Nó điên, nó điên thật rồi. Giời đất ơi! Thằng Hiếu mày gọi xe bắt nó đi Trâu Quì ngay đi..

Nghe tiến bố quát, và thở hồng hộc, Hiếu choàng tỉnh, chạy đến ôm chặt Xuân vào lòng. Có tiếng hắng giọng ngoài cửa, của người công an hộ tịch. Ông Giáo chồm dậy tái mặt nhìn Xuân và Hiếu, vơ vội tấm ảnh Bác dấu vào đằng sau cánh cửa.
Người công an nhìn vào nhà hỏi:

- Có chuyện gì thế này – Cô Xuân sao cô dám trốn trại về đây ?- Nể cụ Giáo, tôi không gọi người đưa cô đi bây giờ, sáng mai cô ra phường viết giấy cam đoan nhé…

Không để người cảnh sát nói hết, Xuân giẫy người thoát ra khỏi vòng tay của Hiếu, hai tay cầm hai chiếc dép cắm đầu chạy. Ông Giáo sững người nhìn, bà Giáo hét rống lên:

- Hiếu ơi, con chạy đi tìm em về cho mẹ

Hiếu như tỉnh ngủ, chạy vụt đi tìm em. Người cảnh sát ái ngại nhìn vợ chồng ông Giáo, thở dài.

Pirmasens, một ngày xuân.

© Đỗ Trường

© Đàn Chim Việt Online

1 Phản hồi cho “Tiếng khóc của muà Xuân”

  1. Người Sông Lam. says:

    Người con gái Việt Nam da vàng, yêu quê hương như yêu đồng lúa chín. Em là hình ảnh của một Đặng Ngọc Trâm bị lừa gạt trong cuộc chiến tương tàn Nam Bắc. Em là hình ảnh của cô Xuân tàn tả, thê lương trên con đường xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa. Em là hình ảnh bi thương của cả một đất nước, một dân tộc đang bị nô lệ dưới ách thông trị của tà quyền Cộng Sản. Tôi nhìn thấy em vật vả thật đáng thương trên mọi ngã đường của quê hương, từ gầm cầu cho đến bãi rác, từ học đường cho đến trường, từ cơ xưởng cho đến chợ búa.

Phản hồi