|

Từ ngõ Phất Lộc tới Weimar [16]

Tiếp theo phần trước

Ảnh khoahoc.com

Ảnh khoahoc.com

Không có ai nói chuyện, tôi lấy giấy bút ra ngồi tập viết cho có cái mà nghĩ. Câu truyện tôi viết có nhan đề

Những con chuột trong buồng kiên giam.

Phòng kiên giam ở dãy cuối trong trại tù, biệt lập. Những tù nhân thường chả có cơ hội nhìn thấy khu kiên giam, họ đi làm qua cánh cổng khu kiên giam nhìn vào bên trong gặp bức tường cao ngất, phải đi vòng qua bức tường đó mới vào được khu kiên giam. Qua bức tường đó khu kiên giam chia làm hai, phần kiên giam bên ngoài giam những tên tù vi phạm kỷ luật cần phải cách ly với các tù nhân khác. Còn khu bên trong lại đi qua cánh cổng nhỏ của một bức tương cao ngất nữa mới đến nơi, đó là nơi tận cùng của nhà tù sát với bốt gác, dưới chân bốt gác là một cái ao to. Như thế có nghĩa khu kiên giam trong cùng ấy hoàn toàn yên tĩnh. Sự yên tĩnh trong nhà tù không phải là ân huệ, trái lại đó là hình phạt, một sự cô lập hoàn toàn.

Đến bữa người quản giao khu kiên giam mở cửa cho tù bếp mang vào cho phạm nhân một nắm cơm có trộn ít muối. Tù trong không được nhận quà, không có gì khác ngoài chăn màn, quần áo được phép mang theo vào buồng kiên giam. Mọi nguồn tiếp tế của gia đình đều bị cấm ngặt, thậm chí giao tiếp với các tù nhân khác cũng hoàn toàn bị chặn triệt để.

Tù trong kiên giam khu hai là kẻ thù của tù nhân khác, không thể ở chung, nhưng cũng có lúc tù trong kiên giam là kẻ thù của chính ban lãnh đạo trại giam. Bởi thế tù trong kiên giam hai khi ra ngoài thể lực đều kiệt quệ, gầy gò, phù thũng, suy nhược…có kẻ hoảng loạn ngớ ngẩn, có kẻ lại trở thành hung hãn. Hàng tháng trời mỗi ngày hai nắm cơm to hơn quả trứng vịt, ít muối. Không có cả cọng rau, ít gia vị hay bất kỳ cái gì có thể bỏ vào miệng. Chỉ hai lần nghe tiếng mở cửa lúc mang cơm, một tên tù bếp lẻn nhanh vào đặt cái túi nilong có nắm cơm rồi nhanh chóng lẩn mất. Tù bếp là bán tự giác, chân đó phải lo lót mới có được, nên tù bếp tránh giao tiếp với tù giam khu trong vì nếu bị phát hiện đưa một điếu thuốc, một cái kẹo, cọng rau sẽ bị kỷ luật.

Hắn ở trong khu kiên giam hai, một mình một căn buồng giam rộng mênh mông. Đêm nằm nhìn dãy sàn trống trơn cảm giác lạnh người. Ngày hắn trèo lên cửa sổ bám đu người ngồi trên đó để cố gắng nhìn qua bờ tường thấy các tù nhân khác đi lại, nhưng tầm nhìn đã được người xây tường tính toán cho nên chỉ thấy lớt phớt chỏm tóc của tù nhân hay cái mũ kepi xanh của cán bộ. Ban ngày trại đi làm bên ngoài hết, nên người đi lại lâu lắm mới có một cái chỏm tóc, cái mũ thấp thoáng, còn âm thanh hầu như là không có ngoại trừ tiếng kẻng.

Những ngày đầu trong trại kiên giam, hắn nằm, ngồi nghĩ nhiều thứ, nghĩ cách thoát ra khu này về với bạn tù trong đội, nghĩ cách kiếm được mẩu thuốc, một ít gia vị, một cọng rau… đêm nằm thao thức vì đói và thèm một mẩu mỳ tôm ngâm nước lã lạnh đến lúc nở bung ra để cho hai ngón tay vào gắp, hắn sẽ đưa sợi mỳ lên cao và cho nó chạy vào cuống họng từ từ.

Khoảng một tháng sau thì hắn không thèm khát những thứ thuộc về ăn uống đấy nữa, hắn đã trở thành một người thoát khỏi những ham muốn ăn uống, kể cả giấc mơ cũng không có những thứ đó. Hắn chỉ ước nhìn thấy ai đó, nói với họ dăm câu để biết mình còn là người, ước nhặt được mẩu báo, hay giấy ghi bất kỳ nội dung gì đó để đọc tiết kiệm từng chữ một. Giờ ước mơ là những thứ thuộc về tinh thần. Nhưng cũng không có nốt, ngoại trừ ngày hai lần cánh cổng khu kiên giam hai mở toang để tên tù bếp đi như chạy đến cửa buồng giam hắn vất vào túi nilong đựng nắm cơm rồi nhanh chân biết mất.

Ngày cũng dài và đêm cũng dài hơn. Ngày thì mong đêm đến để ngủ, nhưng khi đêm đến lại chẳng ngủ được thì trằn trọc mong ngày. Cứ mong loanh quanh như vậy. Một hôm hắn chợt thấy có hai con chim sẻ bay xuống khu sân trước mặt kiếm mồi, mắt hắn bừng sáng nhìn lũ chim. Rồi hắn tưởng tượng rằng con chim nhỏ bé kia đã có lần bay qua mái ngói nhà hắn, cái bàn chân nhỏ xíu của con chim kìa, cái móng nhỏ tí tí ấy đã đậu lại trên sân thượng nhà hắn và có khi mổ đỗ xanh mà mẹ hắn phơi để dành ngày Tết gói bánh chưng. Đến bữa hôm ấy hắn dành lại một ngón tay cái cơm để ném ra sân, mong lũ chim có cái mà còn tìm đến để hắn ngắm nhìn. Mấy con chim sẻ quê ăn thóc quen, mới đầu lạ chúng rỉa hạt cơm được hai ngày thì chúng chán chẳng quay lại nữa.

Buồn lại hoàn buồn.

Một đêm bỗng hắn nghe thấy tiếng động cuối phòng giam, hắn hé mắt từ từ, nghiêng đầu rất chậm để nhìn về hướng đó. Ồ thì ra chuột. Không phải một con mà là hai con, chúng đã rúc rích chạy. Kỳ lạ ở nơi này có gì ăn mà chúng ở đây. Nhưng dù phán đoán thế nào thì bọn chuột là có thật, có khi là một đôi anh ả mới bén duyên định về đây xây tổ ấm chăng?

Hôm ấy hắn dành một nửa nắm cơm cho chuột, có bớt đi như thế cũng chả ăn thua gì vì dạ dày hắn chắc đã teo lắm rồi, còn cơ thể thì cần nhiều chứ thêm nửa nắm cơm cũng không có thêm chất là bao. Hắn quyết để nửa nắm cơm cho bọn chuột ăn. Khi rắc cơm ra và trùm chăn quan sát, hắn nhận ra là có đến bốn con chuột chứ không phải hai. À thì ra chắc mùa gặt đã đến, chúng chạy nạn ngoài đồng kéo vào đây tá túc theo ngóc ngách nào đó.

Ban ngày bọn chuột đi đâu không biết, nhưng cứ đến quãng 11 giờ đêm đến 1 giờ sáng là chúng nháo nhác chạy đi, chạy lại, rúc rích đầy vẻ khẩn trương. Lúc đầu chúng còn sợ nên chạy ra ăn cơm rất rón rén, cảnh giác. Sau thì chúng bạo dạn ăn không biết e ngại nữa, chúng ăn nhoáng cái hết mấy hạt cơm rồi lại dáo dác chạy đi chạy lại rất khẩn trương. Hắn quan sát mãi mà không hiểu bọn chuột làm gì vào tầm thời gian ấy, nhìn bộ dạng chả phải là đi kiếm ăn. À chắc là giờ chúng hẹn hò cưa cẩm nhau như con người vậy. Nếu lúc tối đến những thanh niên nam nữ hẹn hò nhau ríu rít, tậm sự thì bọn chuột cũng vậy, có chăng là khác giờ thôi.

Thế rồi gần sáng một hôm, lúc hắn ngủ thiếp đi bỗng giật mình đau nhói ở ngón tay cái, mở mắt thấy máu và vết răng chuột cắn, nhìn lại thấy một con chuột đang chạy hối hả về góc nhà vệ sinh. Vết căn sưng tấy, đau nhói khiến hắn phát sốt. May là hai hôm thì hết sốt và vết thương không nhiễm trùng, nhưng vẫn tấy nhức. Điên tiết đêm đến hắn cậy hòn gạch ở bậc nhà vệ sinh đập làm hai, cầm nửa viên treo lên sàn trên sau khi rắc cơm như mọi lần.

Bọn chuột chạy ra ăn cơm, hắn nhằm cái con chuột mà hắn ngứa mắt nhất, vì thái độ nhâng nháo, và vì mọi nghi ngờ của hắn đều đổ cho con chuột ấy là thủ phạm cắn hắn. Hòn gạch ném chính xác làm con chuột lăn quay dãy vài cái rồi xuôi lơ, máu mồm ộc ra sàn. Bọn chuột còn lại chạy biến mất, máu con chuột lan ra thấm vào những hạt cơm cạnh nó.

Hắn ngồi trên sàn và nhìn con chuột chết còng queo phía dưới, lúc trước nó còn là một sinh vật nhanh nhẹn, đầy sức sống, linh hoạt và tinh ranh. Thế mà chỉ khoảnh khắc tất cả mọi thứ ấy đã vĩnh viễn biến mất chỉ còn lại một đống xấu xí, ghê tởm. Hắn cứ nhìn còn chuột dù đến lúc chả nghĩ gì nữa hắn vẫn nhìn, đơn giản vì lâu hắn không nhìn được cái gì đáng chú ý, cho nên xác một con chuột chết là thứ rất đáng nhìn sau bao nhiêu ngày đơn điệu với âm thanh và cảnh vật ở đây.

Bất ngờ hai con chuột mò ra, hắn nghĩ chúng mò ra ăn nốt những hạt cơm vương vãi. Nhưng không, hắn mở to mắt nhìn kinh ngạc. Một con chuột cắn cổ con chuột chết lôi đi, một con ủn đằng sau con chuột chết đẩy đi. Chúng tha xác con chết đi đâu? Hắn căng óc ra phán đoán mà không hiểu. Ngày bé hắn đọc truyện thấy chuột ăn cắp trứng, một con ôm một con cắn đuôi kéo, thấy không tin. Giờ nhìn cảnh đưa xác đồng loại đi thế này hắn mới tin là chuyện ăn cắp trứng của chuột là có thật. Loay hoay một hồi hai con chuột sống cũng đưa được con chuột đã chết qua cái lỗ ở góc nhà vệ sinh ra ngoài.

Hắn thẫn thờ, không tin những gì mình nhìn thấy là có thật, hắn không thể nào hình dung bọn chuột bất chấp nguy hiểm để đến mang xác đồng đội đi. Chúng mang đi như thế để làm gì, chắc không phải là làm món ăn. Thế nhưng chúng mang đi làm gì? Chả lẽ chúng chấp nhập nguy hiểm quay lại để mang xác đồng bọn đi về ổ chăng? Chúng không nỡ bỏ xác đồng đội của chúng chơ vơ lại giữa sàn nhà trống trải ấy chăng. Nếu quả thật chúng mang xác con chuột đã chết đi vì chúng không nỡ để xác đồng loại phơi thây như vậy… thì… hắn rùng mình sợ hãi.

Hắn múc nước dội sàn và lấy cái cái áo cũ làm giẻ lau sạch chỗ máu chuột, đến đêm hắn để cho lũ chuột nguyên một nắm cơm, hắn ước có que hương để thắp tạ lỗi cho con chuột bị hắn ném chết. Đêm hôm đó lũ chuột không ra ăn cơm, mấy ngày sau cũng thế. Lũ chuột bỏ đi và hắn lại nằm một mình nhìn tường, nhìn trần nhà giam.

Những tháng ngày ở trong khu kiên giam hai ở trại giam đó khiến hắn cười nhạt với cái xà lim của trại giam B14 sau này. So với khu kiên giam ấy thì B14 là một khách sạn 4 sao với cái nhà trọ bình dân. Bởi thế hắn có thể bình thản như vậy, không phải do bản lĩnh gì mà chẳng qua vì hắn trước đó đã ở những nơi tồi tệ hơn mà thôi.

Nhưng những gì để lại sau thời gian ở khu kiên giam 2 ấy, không chỉ là thói quen chịu đựng được khổ cực về vất chất, tinh thần. Mà ấn tượng lâu nhất với hắn là hình ảnh những con chuột (một loài vật được ví về sự hèn nhát, dút dát) đã không bỏ rơi đồng loại của mình.

Gần một tháng trong khu kiên giam 2 tôi viết đủ thứ, viết lại cả những câu chuyện tôi chứng kiến trong tù. Một hôm trực trại vào thấy tôi đang mải viết, ông ta hỏi khinh miệt.

- Viết đơn à?

Tôi gật đầu. Ông ta nói.

- Mày kiện ai, chứ kiện tao thì tao còn nguyên 4 sao.

Tôi nhìn quân hàm đại úy của ông ta và bộ mặt nung núc thịt nói.

- Nguyên bốn sao thì có, nhưng cũng mất chục triệu để giữ.

Ông ta bất ngờ trước câu nói của tôi, ngạc nhiên hỏi.

- Chục triệu nào?

Tôi từ tốn.

- Chục triệu dí cho đoàn thành tra cảm ơn. Giờ tôi cứ làm cái đơn gửi đến thanh tra. Thanh tra xuống đây kiểm tra, kết luận cứ cho là tôi đơn sai đi. Nhưng ông cũng biết là đoàn thanh tra thừa sức biết là nó đúng mà không cần xem đơn. Tuy nhiên họ kết luận tôi đơn sai, rồi họ đi về, kéo nhau cả đoàn xuống rồi lục tục cả đoàn về. Ai đón tiếp, ai cảm ơn họ vì không kết luận tôi đúng. Đón tiếp cơm rượu, rồi cảm ơn phong bì cho cả đoàn về lẽ nào không đến chục triệu.

Trực trại chửi thề.

- đm mày văn vở thế nào tao biết hết.

Văn vở là từ lóng chỉ mưu toan, thủ đoạn của tù. Tôi nghe từ ấy cười nhạt đáp.

- Cán bộ biết hết ”văn vở” của tù. Nhưng cũng có loại tù biết hết nghiệp vụ cán bộ. Đây thầy xem một tờ đi.

Tôi rút đại một tờ giấy trong tập đang viết, trực trại đọc xong nhìn quanh hạ giọng nói chân tình.

- Mày tự gây chuyện vào đây, không ai cố ý làm gì mày. Nhìn xem , mày chẻ sàn gỗ ra đun gần hết tao có nói gì đâu, tao chả thù oán gì với mày.

Tôi gật đầu.

- Tại thầy nói thế, chứ em cũng có ý gì với thầy đâu.

Ông ta đi ra, cầm theo tờ giấy, nói mà không quay đầu lại.

- Cho tao mượn tờ này.

Ngay sáng hôm sau, ông ta vào sớm, mở cửa bảo tôi.

- Đi ra gặp Ban, mang hết những gì viết theo.

Tôi cười.

- Thầy thu lúc nào chả được, những gì viết ra ở trong đầu, có mất cũng chẳng sao.

- Mày cứ cầm theo, ai lấy của mày mà lo.

Tôi cầm tập giấy theo, lại gặp ban Bình, ông ta hỏi tôi khỏe không, gia đình hay đến thăm không. Tôi nói tôi ở trong kiên giam 2, không được gặp gia đình, không được nhận đồ tiếp tế. Ban Bình bảo.

- Thôi chết, anh là dạng cách ly chứ có phải kỷ luật đâu mà không cho nhận quà và gặp gia đình. Để tôi báo lại dưới kia, quên đấy, họ cứ thế mà làm. Anh uống nước đi.

Tôi uống trà. Lần đâu tiên trong tù tôi được cán bộ gọi bằng anh, mà là cán bộ cao cấp của trại giam chứ không phải loại nhàng nhàng. Ban Bình nói.

- Anh cũng sắp về, chẳng còn bao lâu, thôi anh cứ ở riêng một chỗ cũng an toàn cho anh, đợi ngày về. Mọi thứ cần gì anh cứ báo với cán bộ trực trại, với anh chúng tôi rất linh động. Biết anh cũng là người nghĩa khí, sòng phẳng. Ông quan giảo anh nói tốt về anh lắm, ông ấy bảo tại chúng tôi, chứ anh ở với ông ấy bao lâu có gây chuyện gì đâu. Đây cũng là cái không may, hiểu lầm nhau từ cái này rồi dây dưa sang cái khác. Chúng tôi và anh cũng là con người, rồi anh cũng về xã hội làm người tốt. Biết đâu còn quay lại đây thăm nhau, nhiều người về rồi vẫn quay lại thăm chúng tôi đấy.

Tôi không nói gì, vẫn uống trà. Ông ta ngừng lại nhìn tôi với tập giấy trên tay. Tôi tự động vớ bao thuốc trên bàn ông ta nói.

- Xin ban điếu thuốc.

Ông ta vồn vã.

- Anh hút đi, thuốc đó cứ tự nhiên gì mà khách sáo thế, cầm cả bao mà hút.

Đợi tôi châm thuốc, nhả khói. Ông Bình hỏi.

- Anh cho tôi xem anh viết những gì được không.

Tôi cầm tập giấy đưa ông ta, đó là truyện về những con chuột trong buồng kiên giam và truyện đôi vai.

(Còn nữa)

© Đàn Chim Việt

3 Phản hồi cho “Từ ngõ Phất Lộc tới Weimar [16]”

  1. Hòa says:

    Hiếu ơi! Đã ghiền đọc tự truyện của Hiếu và Đại Vệ Chí Dị.
    Tôi có niềm tin là sách của Hiếu như Đại Vệ Chí Dị rất xứng đáng đứng trong lãnh vực văn chương thuộc loại chính trị như những sách xưa của Tầu. Nay người VN mình cũng có một nhân tài viết sách chính trị vừa châm biếm vừa dạy dỗ như Hiếu để hảnh diện.
    Khi đọc tự truyện của Hiếu về “vào khám” “vô hộp” … tôi không nhìn thấy Hiếu ở góc độ tội phạm mà chỉ thấy vì muốn sinh tồn trong xã hội xuống hàng chó ngựa mà Hiếu đã bị vào tù. Với tôi, cái nhìn về xã hội Việt Nam của Hiếu, dù trong xã hội gian manh đàn áp nầy nhưng cái tâm của Hiếu vẫn chưa vẩn đục. Thank God for that.

  2. NGÀN PHƯƠNG says:

    XÓT XA

    Xót xa cái kiếp người tù
    Ai làm đày đọa những người thế gian
    Dễ chi luận chỉ vội vàng
    Hồng trần bao chuyện ưng oan tõ tường
    Dẫu sao thân phận con người
    Duyên tu mới trọn một đời thong dong

    NẮNG NGÀN
    (21/8/13)

  3. TovanLai says:

    Đọc Đêm Giữa Ban Ngày của ông Vũ Thư Hiên đã hay. Đọc chuyện này của Người Buôn Gío cũng hấp dẫn, khó đơi mỗi ngày như chuyện chưởng của Kim Dung. Viết dài hơn một chút nữa và đeu hon mot chút nữa Người Buôn Gió ơi. Cảm ơn Anh.

Leave a Reply to NGÀN PHƯƠNG