|

Hiểu sai hai chữ “Đồng Minh”, TS Nguyễn Tiến Hưng viết sách không đúng

Sơ lược qua 7 điểm vừa nêu ra trên, người viết trình bày cho độc giả thấy đặc điểm của nhà lãnh đạo Miền Nam, một người chỉ biết thủ lợi cá nhân, sẵn sàng phản chủ (đảo chánh Ngô Đình Diệm), phản bạn (đẩy Tướng Nguyễn Cao Kỳ ra khỏi chính trường), phản đảng (đi lập đảng Dân chủ), phản chiến hữu và đồng bào (thề sẽ sống chết với Đất Nước, rồi bỏ trốn). Thật khó lòng tìm ra được một thành tích nào đáng kể mà Tổng thống Thiệu đã làm vì nhân dân, vì đất nước. Cho nên với chừng ấy bằng chứng, Tiến sĩ Hưng không thể nào phục hồi danh dự hoặc giải bày tâm tư cho Tổng thống Thiệu.

Là một Tướng lĩnh từng làm Tư lệnh Sư đoàn, Tư lệnh Quân Đoàn, Tổng trưởng Quốc Phòng, chẳng hiểu tại sao ông Thiệu có phương cách sử dụng Quân đội một cách hết sức lạ lùng. Hai đơn vị nổi tiếng thiện chiến là Sư đoàn Nhảy Dù và Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến thì bị đẩy ra vùng hỏa tuyến làm nhiệm vụ đóng chốt phòng thủ. Chức năng của hai Sư đoàn này là Lực Lượng Tổng Trừ Bị, nghĩa là Lực Lượng Xung Kích (“Force de Frappe” hoặc “Strike Force”) dùng để giải cứu quân bạn đang đụng trận nặng hoặc bất thần tấn công vào mật khu địch rồi rút về hậu cứ để tái bổ sung quân số và dưỡng sức cho cuộc can thiệp khác. Sử dụng hai đơn vị tinh nhuệ nhất của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa để đóng đồn thì chẳng khác nào giết con gà mà dùng dao mổ trâu; dùng con ngựa chiến để kéo xe thồ, ai hiểu được thâm ý của vị Tổng Tư lệnh? Chẳng cần phải là nhà chiến lược quân sự để biết sự phí phạm đó! Phải chăng Tướng Thiệu sợ hai đơn vị thiện chiến này ở gần thủ đô thì dễ đảo chánh? Suốt 8 năm cầm quyền, Tổng thống Thiệu không có một kế hoạch sử dụng Quân đội để phá vỡ chiến thuật của Võ Nguyên Giáp: “Căng địch quân ra để đánh”. Đời sống binh sĩ cùng cực, nghèo khổ chẳng được quan tâm; tinh thần quân nhân sa sút cũng mặc. Nạn thương phế binh cắm dùi lung tung cứ để yên, không thèm giải quyết. Kẻ nào chết ngoài chiến trường cứ việc chết; kẻ nào ăn chơi phè phởn cứ việc ăn chơi. Người lãnh đạo vô trách nhiệm, không hề có một động thái nào nêu cao tấm gương của người đứng đầu sóng ngọn gió, dám hy sinh cho Dân, cho Nước để động viên toàn lực quốc gia.

Dùng mọi thủ đoạn, mánh khóe để bước lên đài danh vọng tột bực, ông Thiệu không ý thức được sự hữu hạn của kiếp người. Quyền lực, tiền bạc, cơ ngơi không thể đi theo mình khi hai tay buông xuôi. Cái có thể còn lại mãi mãi là lưu danh thơm tiếng tốt cho hậu thế. Ở vào cương vị có điều kiện để thực hiện lợi ích cho nhân quần xã hội nhằm lưu danh thiên cổ, ông Thiệu lại chọn con đường lưu xú vạn niên. Hai bên đánh nhau, tất có kẻ thắng, người bại. Nhưng cuộc bại trận năm 1975 là cuộc bại trận quá sức nhục nhã, bởi vì binh hùng tướng mạnh vẫn còn đó, vũ khí đạn dược vẫn còn đó mà đành tan tác như một đàn gà mất mẹ. Chấp nhận khoác chinh y, không người lính nào có ý định đào ngũ khi được chỉ huy bởi cấp chỉ huy can trường sống chết với thuộc cấp. Bản năng con người là tham sống sợ chết, nhưng mọi sự trên đời đều có cái giá của nó. Người chỉ huy phải vượt bản năng để tùy tùng cấp dưới noi theo. Đó là lý do tại sao trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt đào tạo sĩ quan chỉ huy tương lai nêu cao phương châm: “Tự Thắng Để Chỉ Huy”. Tức là thắng cái bản năng tham sống sợ chết. Tướng Thiệu nguyên là Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, chắc chắn ông phải thuộc nằm lòng câu đó hơn ai hết. Tiếc thay, khi nếm mùi vinh hoa phú quý, Tướng Thiệu trở thành con cừu, đêm khuya lén lút đào thoát, để lại Tướng lãnh dưới quyền ông phải kê súng vào đầu tự sát và anh em đồng đội bị hành hạ thể xác, chịu nhục tinh thần trong lao tù khổ sai của bạo quyền bất nhân.

Những câu trả lời của Tiến sĩ Hưng với độc giả về vấn đề tham nhũng của ông Thiệu là lối ngụy biện, chối quanh giống như cán bộ tuyên truyền của Đảng Cộng Sản đang cai trị Đất Nước bây giờ. Chẳng hạn, ông Hưng nói rằng ông đã du hành nhiều quốc gia trên thế giới, ông thấy nước nào cũng có tham nhũng; thậm chí Hoa Kỳ cũng có tham nhũng. Theo lời Phật dạy, “tham – sân – si” là bản tính của con người nên phải tu tâm dưỡng tính để đạt chánh quả. Phương Tây cũng có câu: “Power corrupts; absolute power corrups absolutely”. Bởi thế, người ta mới bày ra tam quyền phân lập để kiềm chế lẫn nhau; cộng thêm quyền tự do báo chí để phanh phui những vụ ăn cắp, hối lộ. Và giới hạn thời gian cầm quyền (term limit) để tránh sự việc gian nhân hiệp đảng cấu kết lẫn nhau để bòn rút tài sản quốc gia. Nắm chính quyền trong tay, vừa đá bóng, vừa thổi còi, tất nhiên máu tham lam không bị ai ngăn chặn thì tha hồ vơ vét. Bản cáo trạng của linh mục Trần hữu Thanh có chữ ký của 301 linh mục và các dân biểu trong Khối Độc Lập Hạ Viện tố giác những vụ mua quan bán chức, buôn bạch phiến, đầu cơ thực phẩm là những sự kiện không thể chối cãi. Tổng trưởng Thông Tin – Dân Vận Hoàng Đức Nhã ra lệnh tịch thu những tờ báo nào đăng tải bản cáo trạng thì đâu còn gì là công lý nữa?

Khi nhà báo của đài Á Châu Tự Do (RFA) nhắc lại câu trả lời của Tổng thống Thiệu cho một nhà báo ngoại quốc “I have nothing to do with them” (Tôi không mắc mớ gì đến đám người đó). Đám người đó là những thuyền nhân vượt biển, những người tù khổ sai trong trại tập trung cộng sản. Tiến sĩ Hưng bào chữa cho ông Thiệu, đổi thành “I have nothing to do for them” (Tôi không còn gì nữa để làm cho họ). Chắc chắn nhà báo ngoại quốc có thu băng câu trả lời của Tổng thống Thiệu. Nếu quả tình ông Thiệu trả lời “I have nothing to do for them”, ông Hưng phải tìm cho ra ông ký giả đã phỏng vấn ông Thiệu xin bản sao của cuốn băng để chứng minh với thính giả thì sự bào chữa mới có sức thuyết phục. Sau khi đã ổn định cuộc sống ở xứ người, Tổng thống Thiệu đã không làm bất cứ điều gì mà trong khả năng của ông có thể làm được để tỏ ra ân hận vì sự vô trách nhiệm của mình với đồng bào, với chiến hữu. Chẳng hạn, lấy tư cách là cựu lãnh đạo của Miền Nam, ông Thiệu có thể bay sang Bangkok gặp vua Thái Lan và các Tướng lĩnh Thái để nhờ họ diệt trừ hải tặc, dành mọi sự dễ dàng cho thuyền nhân. Xin Nam Dương, Mã Lai, Tân Gia Ba đừng xua đuổi tầu bè của người vượt biển thì chẳng còn ai có thể trách móc câu trả lời bất nhân mà Tổng thống Thiệu trót lỡ miệng nói ra.

Tiến sĩ Hưng nói rằng Hoa Kỳ không cho ông Thiệu vào định cư nước họ vì Hoa Kỳ lo ngại thành phần phản chiến sẽ gây ra cảnh rối loạn. Luận điệu bào chữa đó tỏ ra xem thường người nghe. Chiến tranh chấm dứt rồi, lực lượng phản chiến cũng tan theo, lấy cớ gì để mà ồn ào? Hơn nữa, ông Thiệu chưa bao giờ bị bọn phản chiến gào thét: “child killer”, “war criminal” như ông Nguyễn Cao Kỳ. Tại sao các Đại học Hoa Kỳ mời ông Kỳ đi nói chuyện về chiến tranh Việt Nam chẳng có vấn đề sinh viên la ó phản đối, lại từ chối cho ông Thiệu đến định cư tại Mỹ? Hơn ai hết, Tiến sĩ Hưng biết rõ nguyên nhân vì sao ông Thiệu ban đầu không được Mỹ đón chào. Cũng như Trung tướng Đặng văn Quang, Cố vấn An ninh của ông Thiệu, phải định cư tại Canada bị tình nghi có dính dáng đến buôn lậu ma túy!

Tổng Bí thư Lê Duẩn là người phạm tội ác chẳng kém gì Hồ Chí Minh, nhưng ngày nay không ai nhắc tới để lên án, bởi vì Đảng Cộng sản không bắt buộc cán bộ học tập tư tưởng và noi gương “Bác Lê Duẩn” giống như noi gương “Bác Hồ”. Tương tự như thế, nếu Tiến sĩ Hưng không viết sách chạy tội cho Tổng thống Thiệu thì ngày nay chẳng ai buồn đả động đến cái tội đào tẩu của ông Thiệu.

Con em Việt Nam ra nước ngoài có hoàn cảnh, có cơ hội được theo đuổi học vấn đều thành công một cách vẻ vang. Điều đó chứng tỏ dòng giống Việt Nam thông minh chẳng thua sút một giống dân nào trên thế giới. Tại sao cho đến ngày hôm nay nước Việt Nam là một quốc gia đứng cuối bản của nền văn minh nhân loại? Phải chăng nghiệp chướng của dân ta quá nặng nề?

Ông Hồ Chí Minh bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước thì rước về một chủ nghĩa ngoại lai phi nhân phá hủy tận gốc rễ truyền thống đạo đức, luân lý nước nhà. Bộ mặt đạo đức giả của ông Hồ rơi xuống từ lâu, cái ác của ông Hồ và tập đoàn đã hiển hiện qua Cải Cách Ruộng Đất, Nhân Văn, Xét lại Chống Đảng. Thế mà vẫn có những kẻ thông minh, tài giỏi răm rắp trung thành và cao giọng tán dương.

Ông Ngô Đình Diệm đã vào tu viện đi tu thì bị vua Bảo Đại bao phen nài nỉ về nước để bảo vệ thành trì Tự Do nhằm chống lại làn sóng Đỏ. Ông Diệm hết lòng phụng sự Đất Nước, có cuộc sống đạo đức gương mẫu, cương quyết bảo vệ chủ quyền Quốc gia thì bị thuộc hạ làm phản vì bọn nối giáo cho giặc vu cho cái tội tày trời: Đàn áp tôn giáo. Bản báo cáo của phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc năm 1963 đã cho mọi người thấy rõ sự cáo giác đàn áp Phật giáo là hoàn toàn bịa đặt, thất thiệt.

Ông Nguyễn Cao Kỳ được Hội đồng Tướng lãnh tín nhiệm làm người đại diện Quân Đội đứng ra tranh cử Tổng thống vào năm 1967, nhưng trong một phút “bốc đồng” (chữ của Tướng Loan) đã nhường cho ông Thiệu. Chiếc ghế Tổng thống, địa vị cao nhất mà hằng triệu người mơ ước, coi như nắm chắc vào tay, không ai có thể ngờ có người đặt sự đoàn kết quốc gia trên cả quyền lợi bản thân, nên đã có dư luận cho rằng ông Kỳ bị Mỹ ép buộc nhường chiếc ghế Tổng thống cho ông Thiệu. Chứng cứ lịch sử ngày nay cho thấy Tướng Kỳ vì muốn giữ sự đoàn kết Quân đội mà nhường cho ông Thiệu là sự thật.

Ông Nguyễn văn Thiệu, một Tướng lãnh nhưng không mang bản chất quân nhân. Ông là một nhà chính trị nhiều mưu mẹo, sử dụng bất cứ tiểu xảo nào để đạt mục đích tối hậu: Chiếc ghế Tổng thống. Điều đáng tiếc là ông Thiệu có cơ hội làm lịch sử, nhưng ông đã không làm!

Chắc chắn không ai có thể lý giải được vì sao dân tộc Việt Nam thông minh, cần cù, dũng cảm mà nay bị cầm đầu bởi một tập đoàn vừa ngu, vừa dốt, không còn một chút lòng tự trọng để biết xấu hổ. Thôi thì đành đổ tội “Cái Số”. Đúng vậy! Cái số phận dân tộc Việt Nam (trong đó có cả người viết bài này nữa) là cái số phận con rệp, số ăn mày. Sách của Tiến sĩ Hưng là một trong những đóng góp kéo dài cái số con rệp của Việt Nam, bởi vì không giúp điều gì cho tuổi trẻ để nhìn về tương lai.

Người Việt Chống Cộng ở Hải ngoại thường nhắc câu nói của ông Thiệu “Đừng nghe những gì cộng sản nói; hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm” để cảnh giác những người ngây thơ cả tin. Thực ra nguyên văn câu nói ấy là của triết gia người Pháp gốc Nga Do Thái –  Vladimir Jankélévitch –  dạy học ở Paris, mà bà Ann Hobart dịch ra Anh ngữ như sau: “Do not listen to what they say; look at what they do”. Ông Thiệu chỉ đổi chữ “They” ra thành hai chữ “cộng sản” mà thôi.
Ông Thiệu là người cực kỳ đa nghi đến độ ông đứng trước gương soi mà còn phân vân cái hình phản chiếu trong gương là ai. Cho nên chuyện ông Thiệu tin vào lời cam kết không bỏ Việt Nam của Tổng thống Richard Nixon là điều đáng ngờ. Ông Thiệu chỉ tin vào số tử vi “bốn tí” (sinh giờ tí, ngày tí, tháng tí, năm tí, cầm tinh con chuột) thì sinh mạng ông, gia đình ông sẽ không hề hấn gì, cho dù Miền Nam rơi vào tay cộng sản. Ông đã có kế hoạch “dĩ đào vi thượng” (đào tẩu là thượng sách).

Nếu tâm tư có điều cần bày tỏ, thổ lộ thì Tổng thống Thiệu tự tay viết ra; chứ ông chẳng tin ở ai mà trao phó phần vụ đó. Ông Thiệu tự biết ông có tội với đồng bào, nên khi ở Mỹ, ông đi đứng lén lút; chứ không dám ngang nhiên công khai như ông Kỳ. Tiến sĩ Hưng viết tâm tư giùm cho Tổng thống Thiệu chỉ là một chiêu “mượn hoa cúng Phật” để người đời chú ý, vì một người có bằng Tiến sĩ, làm Tổng trưởng Kế Hoạch, Phụ tá Tổng thống mà không hiểu ý nghĩa đích thực của hai chữ “Đồng Minh” thì tâm tư bản thân ông Tiến sĩ chẳng có gì đáng cho thiên hạ lưu tâm. Vì vậy, tôi bắt chước Tổng thống Thiệu, đổi chữ “cộng sản” ra thành ba chữ “Tiến sĩ Hưng” để kết luận bài viết này: “Đừng tin những gì Tiến sĩ Hưng viết; mà hãy đọc kỹ những gì Tiến sĩ Hưng trả lời báo chí hoặc đài phát thanh”.

Người ta thường nói “Hãy để lịch sử phán xét”. Câu hỏi đặt ra: “Lịch sử là ai?”. Ba mươi lăm năm chưa phải là thời gian dài, nhưng cũng đủ cho ta nhìn thấy công tội của các nhân vật lịch sử. Nếu gạt ra ngoài định kiến chính trị, soi xét vấn đề một cách công minh, ta vẫn đánh giá được ai công ai tội. Là người gia nhập Đảng Đại Việt rất sớm, nhưng không biết Đảng trưởng của mình lập chiến khu Ba Lòng chống Ngô Đình Diệm; là người có tín ngưỡng Phật giáo và hoạt động trong Gia đình Phật tử, nhưng không biết Võ Đình Cường ở Huế là cán bộ Tôn giáo vận, Trí vận của cộng sản có chủ trương vu cáo Ngô Đình Diệm đàn áp tôn giáo, tôi đã chống chế độ Ngô Đình Diệm.  Nhờ tiếp cận với thông tin đáng tin cậy, ngày nay tôi biết Ngô Đình Diệm là người thực tâm yêu Đất Nước Việt Nam, yêu Dân Tộc Việt Nam. Vì thế, tôi nói lên sự hối tiếc của tôi về một nhà ái quốc mà không sợ ai vu vạ tôi bênh vực Cần Lao Công Giáo.

Hằng đêm tôi cầu xin cố Tổng thống tha tội sự vong ân của người Việt Nam, đừng trừng phạt dân Việt Nam như Ngài đã trừng phạt gia đình Tổng thống Kennedy, để Việt Nam sớm thoát sự dữ do đảng cộng sản gây ra. Người viết tin rằng dân ta muốn qua khỏi kiếp nạn của ngày hôm nay thì mỗi người trong chúng ta ở mọi phía, mọi nơi cần phải thành tâm sám hối và cầu nguyện.

Houston, Ngày 16 tháng 6 năm 2010

© Bằng Phong Đặng văn Âu

© Đàn Chim Việt

Bài liên quan:

Tâm tư Tổng Thống Thiệu

Pages: 1 2

22 Phản hồi cho “Hiểu sai hai chữ “Đồng Minh”, TS Nguyễn Tiến Hưng viết sách không đúng”

  1. Minh Đức says:

    Bài viết này lập luận sai. Chữ “đồng minh” là người quốc gia dùng để chỉ hai nước cộng tác với nhau trong việc chống Cộng. Đồng minh hàm nghĩa là hai bên tạm thời hợp tác trong việc làm nào đó, rồi sau đó chia tay. Những gì trong cách cư xử của những người cầm quyền của hai nước thì cũng không thể làm thay đổi động cơ của hai phía là Mỹ muốn bảo vệ các đối tác của mình trong chính sách đối ngoại là phải đối phó với sự bành trướng của phe Cộng Sản và việc người quốc gia không chấp nhận chủ nghĩa CS nên phải nhận viện trợ Mỹ mà chống lại Cộng Sản.

  2. Thật nực cười khi bài báo tựa đề Võ Nguyên Giáp cảnh báo về Nguyễn chí Vịnh. Rõ ràng người viết bài này thật sự kém hiểu biết đến không tưởng. Không hiểu nguyên tác làm việc của Đảng Cs. Vậy nên đừng nói bừa.. Trongbài tác giả đưa ra toàn những nhânvật tai to mặt lớn nhưng có khi chẳng liên quan gì đến công việc. Ví dụ Võ NGuyên Giáp khi đã về hưu sao còn cảnh báo .. chỉ được hỏi và góp ý trong họp chi bộ . Hoặc với tư cách là đảng viên gặp những người lãnh đạo đương chức đểt đuwọcgiải thích.. Sau khi nghị quyết đã đưa mặc anh không toạinguyện , anh là thiểu số đều phải tuân theo phục tùng đa số. và không thể có lời nói trái với nghịquyết được. Nên không thể có chuyện Võ Nguyên Giáp góp ý hay cảnh báo.. Với người từng tổ chức hàng triệu người xông vào lửa đạn , với tư tưởng và bản lĩnh của Vị tổng tư lênh tối cao không thể có chuyện Võ nGuyên Giáp viết thư hay cảnh báo..
    -Tổ chức của Đảng Cs và nguyêntắc sinh hoạt Đảng rất nguyên tắc đừng tưởng con kiến nghe được kể cả Vợi con chưa chắc biết. Ngay Đại tướng Văn Tiên Dũng đuwọc điều vào Nam 1974 để chuẩn bị cho Chiến dịch giải phóng Miền nam mà bạn bè, vợ con, gia đình đều không biết Ông ở đâu. Trong suốt từ 10-3-1975 đến 30-4-1975 Võ Nguyên Giáp ở trong đại bản doanh không về nhà , mặcdù chỉ cách nhà 200 m. Bác gái Đặng bích Hà cũng không bao giừo hỏi chồng đi đâu, Và bác thừa hiểu nguyêntắc làm việccủa Đảng..
    - Thứcự Tờ báo Đàn chim Viẹt là tờ lá cải..

    • Vũ duy Giang says:

      “-Thứcự Tờ báo Đàn chim Viet là tờ lá cải” (?!), thì đúng là”lưu vô lễ” mà còn lạc đề khi phản hồi về”…bài báo tựa đề về VNG cảnh báo NCV”(?)cho bài báo:”Hiểu sai 2 chữ đồng minh” !

      Chắc lưu”vô”lể đến tuổi lẫn cẫn rồi, thì”dựa cột mà đọc,mà nghe”,chớ đừng phản hồi lẩm cẩm nữa!

  3. Thật nực cười khi bài báo tựa đề Võ Nguyên Giáp cảnh báo về Nguyễn chí Vịnh. Rõ ràng người viết bài này thật sự kém hiểu biết đến không tưởng. Không hiểu nguyên tác làm việc của Đảng Cs. Vậy nên đừng nói bừa.. Trongbài tác giả đưa ra toàn những nhânvật tai to mặt lớn nhưng có khi chẳng liên quan gì đến công việc. Ví dụ Võ NGuyên Giáp khi đã về hưu sao còn cảnh báo .. chỉ được hỏi và góp ý trong họp chi bộ . Hoặc với tư cách là đảng viên gặp những người lãnh đạo đương chức đểt đuwọcgiải thích.. Sau khi nghị quyết đã đưa mặc anh không toạinguyện , anh là thiểu số đều phải tuân theo phục tùng đa số. và không thể có lời nói trái với nghịquyết được. Nên không thể có chuyện Võ Nguyên Giáp góp ý hay cảnh báo.. Với người từng tổ chức hàng triệu người xông vào lửa đạn , với tư tưởng và bản lĩnh của Vị tổng tư lênh tối cao không thể có chuyện Võ nGuyên Giáp viết thư hay cảnh báo..
    -Tổ chức của Đảng Cs và nguyêntắc sinh hoạt Đảng rất nguyên tắc đừng tưởng con kiến nghe được kể cả Vợi con chưa chắc biết. Ngay Đại tướng Văn Tiên Dũng đuwọc điều vào Nam 1974 để chuẩn bị cho Chiến dịch giải phóng Miền nam mà bạn bè, vợ con, gia đình đều không biết Ông ở đâu. Trong suốt từ 10-3-1975 đến 30-4-1975 Võ Nguyên Giáp ở trong đại bản doanh không về nhà , mặcdù chỉ cách nhà 200 m. Bác gái Đặng bích Hà cũng không bao giừo hỏi chồng đi đâu, Và bác thừa hiểu nguyêntắc làm việccủa Đảng..

  4. Đô Quan says:

    Thực tế, với bản chất võ biền, các vị tướng lãnh VNCH và các cố vấn dân sự hèn nhát đã không có khả năng tiên liệu những biến cố trọng đại sẽ xẩy ra cho đất nuớc khi trật tự thế giới đã xoay chiều. Tại sao với tư cách lãnh đạo quốc gia, TT/Thiệu và các quân sư đã không thấy được các hậu quả bất lợi cho VNCH sau khi TT. Nixon đi Bắc Kinh.
    Tôi không phủ nhận lý tưởng quốc gia và ý chí chống cộng tuyệt đối cuả các vị tướng lãnh VNCH, nhưng quả thực các vị quân nhân nói chung không đủ tư cách và khả năng chính trị lãnh đạo đất nuớc từ địa phương tới trung ương, ngõ hầu đối chọi lại với một tập đoàn nhan hiểm của Hà Nội.
    Theo tôi, TS. Nguyễn Tiến Hưng, không nên vì mục đích bào chữa cho TT.Thiệu để tiếp tục cho xuất bản những tác phẩm với rất nhiều chi tiết phi lý như3 tác phẩm vừa qua và nguy hiểm nhất, qua 3 tác phẩm này, TS.Hưng đã vô tình mạ lỵ một số người đã một thời sống chết với đất nuớc và vô tình đã đánh giá thấp ý chí kiên cường cuả quân dân Miền Nam đã bảo vệ và xây dựng mảnh đất miền Nam thân yêu cuả những người quốc gia chúng ta.
    Đô Quan (Úc Châu)

Phản hồi