|

Nhớ chị Bội Trâm- Đám cưới và đêm tân hôn

Bữa trước mình ra Huế, anh Ngô Minh nhắc mình, nói mi mần chi thì mần, cố sắp xếp thời gian viếng mộ anh Quán chị Trâm. Anh Ngô Minh nhắc hơi thừa, mình đã viếng mộ anh Quán chị Trâm cách đó mấy ngày, trước khi bù khú với anh em văn nghệ Huế.

Nhờ sáng kiến của Ngô Minh, những người yêu mến Phùng Quán đã nhiệt tình hưởng ứng, khu mộ vợ chồng nhà thơ Phùng Quán đã được cất lên phía tây làng Thủy Dương (quê Phùng Quán) phía Nam thành phố Huế, đã trở thành một địa chỉ văn hóa của thành phố Huế cho khách thập phương, thật tuyệt vời.

Mình nhớ năm 1995, ngày đưa anh Quán về trời, an táng ở quê chị Trâm thuộc Nhổn huyện Từ Liêm. Đám tang giữa mưa xuân.Từ khi đầu đám cho đến khi hạ huyệt mình không khóc. Nhưng khi hạ quan tài, thấy cái huyệt ngập nước, quan tài lún dần trong nước mình đã bật khóc. Chị Bội Trâm cũng xỉu đi, có lẽ chị không chịu nổi khi thấy anh Quán phải nằm trong nước. Liền mấy năm sau đó, ngày giỗ anh Quán nào chị Trâm cũng nói chuyện với mọi người ước nguyện của chị là đưa anh Quán về Thủy Dương quê anh.

Chị nhắc đi nhắc lại hoài nghe thật sốt ruột. Từ khi anh Quán mất, chị mỗi ngày mỗi héo đi. Gặp mình lần nào cũng nói chuyện anh Quán, chỉ nói chuyện anh Quán không nói chuyện nào khác. Chị nói anh Quán đã cho chị sống như chị muốn, giờ anh mất rồi, chỉ một ước nguyện cuối cùng là đưa anh về Thủy Dương, mai mốt chị về trời, chị cũng muốn về Thủy Dương với anh Quán. Rồi ngước lên bàn thờ rưng rưng nhìn anh Quán, chị chép miệng nói biết hoàn cảnh mình không nhờ con được, chị đành trông cậy hết vào bạn bè.

Hai chục năm sau ước nguyện của chị Bội Trâm mới thành. Thực ra việc đưa anh Quán về quê không khó. Họ hàng nhà anh Quán đã xin làng Thủy Dương một mảnh đất làm khu mộ, bất kì khi nào chị Trâm muốn anh Quán về quê họ cũng sẵn sàng. Nhưng khi chị Trâm còn sống không ai nỡ đưa anh Quán về quê, chị ở Hà Nội anh nằm ở Huế sao đành. Ngày giỗ tết chị phải về Huế thắp hương, đường xá xa xôi rất vất vả cho chị. Hơn nữa khi chị Trâm còn sống, nếu đưa anh Quán về quê thế nào chính quyền cũng ra tay giúp đỡ, điều mà anh Quán không muốn. Cho nên hai năm sau ngày chị Bội Trâm về trời anh Ngô Minh mới bàn với họ hàng anh Quán đưa anh chị về Huế.

Anh Ngô Minh là người có công rất lớn trong việc đưa chị Trâm anh Quán về Huế, tạo nên khu mộ vợ chồng nhà thơ đầu tiên của cả nước. Vợ chồng về trời được xây mộ bên nhau thì nhiều nhưng đó là do con cái dựng nên, việc vợ một nhà nhà thơ được bạn bè và họ hàng nhà thơ kính cẩn rước về quê ở trong khu mộ của nhà thơ là chuyện xưa nay hiếm. Có lẽ chị Bội Trâm là người duy nhất được hưởng cái phúc này, bởi vì chị là vợ nhà thơ xưa nay hiếm.

Gia đình Phùng Quán

Gia đình Phùng Quán

Chị Trâm bằng tuổi anh Quán, năm 23 tuổi chị là cô gái xinh đẹp phố Hàng Cân, là giáo viên văn trường Chu Văn An, trường học danh giá ở Hà Thành. Năm 1955 chị gặp và yêu anh Quán ngay trong năm đó, năm mà anh Quán vừa mang cái án Nhân văn giai phẩm. Anh Quán bị đuổi ra khỏi quân đội, năm trước vừa về Văn nghệ quân đội ở 4 Lý Nam Đế năm sau đã bị buộc phải rời khỏi 4 Lý Nam Đế. Cuốn sách Vượt Côn Đảo được giải thưởng, nổi tiếng như cồn khắp cả nước cũng không cứu được anh, Hội nhà văn khai trừ anh khỏi hội. Từ nhà văn quân đội danh giá Phùng Quán bỗng trở thành kẻ vô gia cư, một homeless hưởng trợ cấp của Hội nhà văn mỗi tháng 25 đồng, tiền cơm bụi cho loại nhà văn bị treo bút. Thế cũng gọi là may, nhiều người bị tù đày, bị đuổi ra khỏi thành phố và không một xu trợ cấp.

Chuyện chị Bội Trâm yêu Phùng Quán gian nan thế nào có thể viết cả một cuốn sách. Chị Trâm không kể cho ai nghe, lần nào mình hỏi chị cũng chép miệng nói cực lắm em à, nhắc lại thêm buồn. Nhưng anh Quán thì kể, kể rất nhiều, cứ mỗi lần hai người cãi nhau, giận nhau vì chuyện gì đó anh Quán thường đem chuyện chị Trâm quyết lấy anh kể cho mọi người như là lý do vì sao họ không thể chia tay nhau được.

Thời đó nghe mấy tiếng “bọn nhân văn” ai nấy đã dựng tóc gáy nổi da gà, việc chị Trâm quyết yêu anh Quán đúng là chuyện lạ. Nhà trường kiểm điểm, gia đình ruồng bỏ, họ hàng bà con ai ai cũng phản đối. Mẹ chị uất quá, vừa khóc vừa mắng chị, nói lấy chồng như thế thì thà nhảy nhảy xuống giếng cho xong. Chị Trâm vẫn không nao núng, nói con đã yêu anh Quán nên con không thể yêu người khác. Nếu bố mẹ không cho con lấy, con xin vâng lời, nhưng con sẽ không lấy người đàn ông nào khác nữa. Cuối cùng bố mẹ chị cũng phải xuống thang cho cưới.

Thực ra anh Quán chị Trâm được đăng kí kết hôn thôi còn lễ cưới đã không xảy ra. Trăm sự vì cái tên Phùng Quán. Họ sợ cái tên Phùng Quán có trong thiệp cưới liệu có mấy ai dám đến dự? Bạn bè anh Quán hầu hết đã cắt đứt quan hệ, lặn một hơi không sủi tăm, anh này chê anh kia hèn nhưng hễ gặp anh Quán anh nào cũng mắt trước mắt sau chuồn lẹ. Bạn bè văn nghệ vẫn gần gũi với anh Quán trong những ngày hoạn nạn như nhà thơ Tạ Vũ, nhà báo Xuân Đài, họa sĩ Lê Huy Quang, nhà báo Xuân Trung… thật là hiếm.

Phông chính đám cưới thời đó thường có đôi bồ câu cắp mỏ nhau, tên cô dâu chú rể được treo lên đấy. Nếu đám cưới xảy ra, bà con hai họ thấy cái tên Phùng Quán, “phần tử chống Đảng”, liệu có ai dám bước vào hôn trường nữa không? Hơn nữa đang khi chính quyền đang phê phán bọn nhân văn mà một phân tử nhân văn lại tổ chức đám cưới ngay trước mũi chính quyền, khác nào thách đố nhau.

Nghĩ vậy nên họ không làm đám cưới, chỉ gửi cầu trau báo hỉ, cũng chỉ báo hỉ tên chi Trâm: “Trầu cau chạm ngõ của cô Trâm”, ngay cái từ cưới cũng không dám dung, chỉ dám nói “ra riêng”. Anh Ngô Minh tìm được cái thiệp báo hỉ do họa sĩ Lê Huy Quang vẽ, “mặt trước là hai bông hoa do bạn thân, họa sĩ Lê Huy Quang vẽ, mặt sau có đôi chim bồ câu và mấy chữ của Phùng Quán viết tay . Đây là thiếp báo tin gửi cho cô giáo Mai Thị Từ của chị Trâm :” Chúng em đã ra ở riêng ngày 12-1-1962. Chúng em nhờ những bông hoa này mang tin vui đến với cô. Mong cô chia vui và mừng cho hạnh phúc của chúng em”.

Anh Ngô Minh đã nói về đám cưới anh Quán chị Trâm thế này: “Chị Vũ Bội Trâm có lẽ là người con gái Việt Nam duy nhất lấy chồng không có lễ tơ hồng, không đám cưới, không được mặc áo cưới, không lên xe hoa, không có đưa dâu, không có phòng tân hôn sang trọng, không chụp ảnh, quay phim…như các đám cưới bình thường khác…” Nghe mà ứa nước mắt. Vợ chồng Phùng Quán tổ chức tiệc cưới tại nhà bà Tưởng Dơi, mẹ nuôi của Phùng quán. Bữa tiệc có vợ chồng Tạ Vũ và hai nhà báo Xuân Đài, Xuân Trung. Anh Ngô Minh kể Phùng Quán ra chợ mua hai con gà, ra Hồ Tây câu trộm ít cá, cùng với mấy lít rượu kí nợ nhà bà Hai Hạnh…thế là thành bữa tiệc. Mình hỏi anh Quán, anh cười, nói đâu có, mọi việc do bà mẹ nuôi lo cả. Sau này mới cá trộm rượu chịu văn chui chứ khi đó chẳng dám làm gì, chỉ biết trông vào 25 đồng trợ cấp của Hội nhà văn, cực lắm.

Sau bữa tiệc là đêm tân hôn. Nhà bà Tưởng Dơi nhỏ hẹp, chỉ hơn chục mét vuông chỉ có hai cái giường đơn, loại giường tập thể hồi đó rộng chừng một mét, dài chừng mét sáu, anh Quán một giường, bà Tưởng Dơi một giường. Bữa đó Tạ Vũ say, phải ngủ lại không về được, bà Tưởng Dơi phải nhường giường cho họ, bà nằm võng. Vì nhà chỉ hơn chục mét vuông, để có khoảng không mắc võng, hai cái giường phải xếp lại gần nhau. Đêm tân hôn vợ chồng Phùng Quán nằm sát giường vợ chồng Tạ Vũ.

Họ nằm im bên nhau, không dám ôm nhau, không dám hôn nhau dù là cái hôn rất khẽ. Họ nằm ngửa, tay nắm chặt tay thở đều cố làm như mình đang ngủ ngon, kì thực trắng đêm không ai chợp mắt.

Đó là đêm tân hôn có một không hai khắp thế gian này.

Blog Nguyễn Quang Lập

2 Phản hồi cho “Nhớ chị Bội Trâm- Đám cưới và đêm tân hôn”

  1. Trúc Bạch says:

    Viết về Phùng Quán mà không kèm bài thơ Lời Mẹ Dặn là một thiếu xót lớn .

    Chình bài thơ đầy tính Lương Thiện này của Phùng Quán đã bị Hồ Chí Minh và đồng đảng trù dập cho dở sống, dở chết xuốt ba mươi mốt (31) năm trời – từ 1957 đến mãi tới 1988 .

    Lời Mẹ Dặn

    Tôi mồ côi cha năm hai tuổi

    Mẹ tôi thương con không lấy chồng

    Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải

    Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.

    Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ

    Ngày ấy tôi mới lên năm

    Có lần tôi nói dối mẹ

    Hôm sau tưởng phải ăn đòn.

    Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn

    Ôm tôi hôn lên mái tóc

    - Con ơi

    Trước khi nhắm mắt

    Cha con dặn con suốt đời

    Phải làm một người chân thật.

    - Mẹ ơi, chân thật là gì?

    Mẹ tôi hôn lên đôi mắt

    Con ơi một người chân thật

    Thấy vui muốn cười cứ cười

    Thấy buồn muốn khóc là khóc.

    Yêu ai cứ bảo là yêu

    Ghét ai cứ bảo là ghét

    Dù ai ngon ngọt nuông chiều

    Cũng không nói yêu thành ghét.

    Dù ai cầm dao dọa giết

    Cũng không nói ghét thành yêu

    Từ đấy người lớn hỏi tôi:

    - Bé ơi, Bé yêu ai nhất?

    Nhớ lời mẹ tôi trả lời:

    - Bé yêu những người chân thật.

    Người lớn nhìn tôi không tin

    Cho tôi là con vẹt nhỏ

    Nhưng không! những lời dặn đó

    In vào trí óc của tôi

    Như trang giấy trắng tuyệt vời.

    In lên vết son đỏ chói.

    Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi

    Đứa bé mồ côi thành nhà văn

    Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm

    Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ.

    Người làm xiếc đi dây rất khó

    Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn

    Đi trọn đời trên con đường chân thật.

    Yêu ai cứ bảo là yêu

    Ghét ai cứ bảo là ghét

    Dù ai ngon ngọt nuông chiều

    Cũng không nói yêu thành ghét

    Dù ai cầm dao dọa giết

    Cũng không nói ghét thành yêụ

    Tôi muốn làm nhà văn chân thật

    Chân thật trọn đời

    Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi

    Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

    Bút giấy tôi ai cướp giật đi

    Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

    * Phùng Quán 1957 *

  2. Hiep Ton says:

    Đọc câu chuyện của anh Phùng Quán và chi Bội Trâm làm tôi rất cảm động và thấy xót xa. Chế độ hà khắc tàn bạo CS đã làm con người khiếp sợ. Xin được đốt nén nhang và tưởng nhớ anh Quán chị Trâm. Và cũng mong sao CS VN mau xụp đổ để Việt Nam tròn vẹn lảnh thổ, dân Việt thật sự sống an vui hạnh phúc.

Phản hồi