|

Truyền thông và cách mạng

Ảnh minh hoạ. Nguồn: www.dw.de

Ảnh minh hoạ. Nguồn: www.dw.de

Xã hội, bất cứ hình thức xã hội gì, cũng đều được xây dựng trên nhiều nền tảng, nhưng một trong những nền tảng căn bản và quan trọng nhất là: truyền thông. Không có truyền thông, một tập thể người, dù đông đảo đến mấy, cũng không thể trở thành một xã hội.

Điều kiện để một xã hội được hình thành không phải là số đông mà là sự nối kết. Điều kiện để có sự nối kết là một mẫu số chung nào đó.

Cái mẫu số chung ấy, dù rất hiển nhiên, như là huyết thống và quyền lợi kinh tế, vẫn không thể được ghi nhận và chia sẻ nếu thiếu một yếu tố: truyền thông. Đó là lý do tại sao, ngay từ xưa, trong quá trình lập quốc, người ta đã đề cao việc có một ngôn ngữ chung; trường hợp không có một ngôn ngữ chung, người ta cố gắng xây dựng một hệ thống chữ viết chung (như trường hợp chữ Hán của Trung Hoa).
Theo Benedict Anderson, trong cuốn Imagined Communities (Verso, 1983), hầu hết các biến chuyển lớn ở Tây phương thời hiện đại đều gắn liền với kỹ nghệ ấn loát mới với việc nở rộ của sách và báo khắp châu Âu. Trước, La Mã dễ dàng đánh bại mọi kẻ thù nhờ họ làm chủ một phương tiện truyền thông hoàn hảo và có ưu thể hơn hẳn (tr. 39). Sau, với sự xuất hiện của máy in, kiến thức được phân phối rộng rãi và tự do, làm cơ sở cho sự nảy nở và phát triển của phong trào Cải cách, dẫn đến sự ra đời của đạo Tin Lành với vai trò nổi bật của Martin Luther, người có sách bán chạy nhất trong nửa đầu thế kỷ 16 – được xem là tác giả best-seller đầu tiên trong lịch sử (tr. 39). Kỹ nghệ ấn loát mới cũng dẫn đến sự hình thành của quốc gia và chủ nghĩa quốc gia (nationalism): Qua sách báo được xuất bản, mọi người, bất kể những khác biệt về huyết thống, giai cấp và phái tính, có một ký ức chung và một tưởng tượng chung vốn là những yếu tính để hình thành một cộng đồng có tên là dân tộc hay quốc gia.
Giống xã hội hay quốc gia dân tộc, các cuộc cách mạng cũng được xây dựng trên truyền thông. Xin lưu ý, cách mạng là một khái niệm khá mới, chỉ xuất hiện trong thời hiện đại. Xưa, người ta có thể cướp ngôi nhau nhưng lại không có cái gọi là cách mạng. Để được xem là cách mạng, ngoài việc thay đổi tầng lớp thống trị, người ta còn phải thay đổi cả hệ thống quyền lực và ý thức hệ làm nền tảng cho hệ thống quyền lực mới ấy cũng như toàn bộ cấu trúc xã hội. Với ý nghĩa như thế, hai cuộc cách mạng lớn được ghi nhận nhiều nhất là: một, cuộc cách mạng tư sản Pháp vào năm 1789 và cuộc cách mạng vô sản ở Nga vào năm 1917.
Hai cuộc cách mạng vừa kể khác hẳn nhau, trong đó, hai sự khác biệt lớn nhất là: một mở đầu cho trào lưu dân chủ và một mở đầu cho hệ thống toàn trị; một thành công, càng ngày càng thành công, và một thất bại sau hơn 70 năm thử nghiệm một cách đẫm máu. Tuy nhiên cả hai lại giống nhau ở một điểm: tận dụng các phương tiện truyền thông hiện đại. Trong Cách mạng Pháp, truyền đơn và các cuốn sách tuyên truyền mong mỏng (pamphlet) được in và phân phát khắp nơi. Trong Cách mạng Nga cũng vậy. Ngoài truyền đơn, lãnh tụ của cuộc cách mạng Lenin còn là một tác giả có sức sáng tác dồi dào dưới nhiều hình thức khác nhau (sau, ở Nga, người ta sưu tập và in các tác phẩm của ông thành 54 tập, mỗi tập dày khoảng 650 trang, như vậy, tổng cộng khoảng 35000 trang!).
Ở Việt Nam, vào đầu thế kỷ 20, trong cuộc vận động chống lại thực dân Pháp để giành độc lập, hầu như tất cả các sĩ phu yêu nước đều ý thức rất rõ tầm quan trọng của truyền thông. Họ làm thơ và viết văn để cổ vũ lòng tự hào dân tộc và tinh thần đoàn kết cũng như bất khuất. Quan trọng nhất, họ sẵn sàng hy sinh tự ái dân tộc để chấp nhận chữ quốc ngữ do các cố đạo Tây phương sáng chế và được thực dân Pháp ủng hộ như hệ thống chữ viết mới cho cả nước, thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm, với hy vọng, với thứ chữ viết mới ấy, trình độ dân trí sẽ nhanh chóng được nâng cao và quá trình hiện đại hóa đất nước sẽ dễ dàng được thực hiện.
Ngay từ giữa năm 1944, chưa cướp được chính quyền, Việt Minh, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, cũng đã ý thức được ngay tầm quan trọng của truyền thông. Đội quân chủ lực đầu tiên do họ thành lập mang tên là Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với hai nhiệm vụ chính: vừa quân sự vừa chính trị, trong đó, chính trị được xem là quan trọng hơn quân sự. Thực chất đó là “đội tuyên truyền”. Ngay sau khi cướp chính quyền, Hồ Chí Minh đã nêu lên ba nhiệm vụ chính của chính phủ mới: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm. Nhiệm vụ trung tâm của chiến dịch “diệt giặc dốt” là phong trào Bình dân Học vụ nhằm xóa nạn mù chữ để ai cũng có thể đọc được… truyền đơn.
Chính vì ý thức rất sớm tầm quan trọng của truyền thông như vậy nên trong suốt thời gian đảng Cộng sản cầm quyền, từ năm 1954 ở miền Bắc và từ năm 1975 trong cả nước, giới lãnh đạo Cộng sản luôn luôn chủ trương độc quyền về truyền thông. Kinh tế có thể đa nguyên hóa. Giáo dục có thể đa nguyên hóa. Xã hội có thể đa nguyên hóa. Nhưng với truyền thông thì tuyêt đối không: Tất cả mọi cơ quan truyền thông, từ xuất bản đến báo chí, từ báo in đến báo nói và báo hình, đều nằm trong tay nhà nước và đều bị kiểm soát và kiểm duyệt nghiêm ngặt. Giới lãnh đạo xem đó là một trong những biện pháp chính yếu để bảo vệ quyền lực của họ.
Nói chung, có ba loại quyền lực chính: Thứ nhất là quyền lực ý tưởng (idea power) thể hiện qua các phương tiện truyền thông, nhằm chinh phục cả trái tim lẫn khối óc của quần chúng để họ không những tin và phục mà còn sẵn sàng vâng lệnh nhà cầm quyền. Thứ hai là quyền lực kinh tế (ở Việt Nam, trước, thể hiện qua chính sách phân phối lương thực, sau, qua vai trò ưu tiên của hệ thống quốc doanh) nhằm kiểm soát bao tử và túi tiền của dân chúng khiến họ phải khuất phục. Và thứ ba, quyền lực vật lý (physical power) thể hiện qua quân đội, cảnh sát, công an, hệ thống tòa án và nhà tù nhằm làm cho mọi người khiếp sợ.
Đối với ba loại quyền lực trên, những nhà đối kháng và muốn đấu tranh cho dân chủ, phần lớn chủ trương bất bạo động, đã né tránh việc đối đầu với chính quyền ở góc độ quyền lực vật lý và, thành thực mà nói, hoàn toàn không có điều kiện và khả năng để thách thức chính quyền về quyền lực kinh tế. Chỉ còn một không gian duy nhất có thể biến thành nơi tranh chấp và có thể làm xuất hiện một thứ đối-quyền lực (counterpower) với chính quyền: quyền lực ý tưởng.
Tập trung vào quyền lực ý tưởng là chọn truyền thông làm mặt trận chính.
Cuộc đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam, trong giai đoạn hiện nay, chủ yếu là cuộc đấu tranh trên phương diện truyền thông để giành giật phần thắng về ý tưởng. Trong cuộc đấu tranh ấy, người Việt có một phương tiện mới rất đắc dụng: internet.
Với internet, người ta có thể xây dựng được một thứ quyền lực từ dưới lên (power from below), hay nói theo chữ của Vaclav Havel, “quyền lực của những kẻ vốn không có quyền lực” (the power of the powerless).
Nhưng đó là chuyện dài. Xin đề cập sau.

1 Phản hồi cho “Truyền thông và cách mạng”

  1. NGÀN KHƠI says:

    TRUYỀN THÔNG : CHÂN VÀ GIẢ

    Truyền thông là sự chuyển giao thông tin trong xã hội. Đây là nhu cầu thiết yếu vì nó là nhu cầu đầu tiên của mọi nhu cầu hay nhu cầu của các nhu cầu. Con người là một đơn vị có nhận thức. Xã hội là sự liên kết của những đơn vị cá nhân có nhận thức. Đó chính là ý nghĩa, cơ sở hay nguồn gốc của truyền thông.
    Truyền thông như vậy là sự chuyển giao thông tin, sự lan truyền tin tức, sự liên kết tin tức.
    Tinh tức là yếu tố thông tin, nội dung thông tin. Nó cũng là nội dung hay đơn vị của sự hiểu biết về mọi loại.
    Như vậy giá trị của thông tin, hay sự hữu ích của thông tin chính là sự thật, là ý nghĩa khách quan của nội dung nguồn thông tin đó. Người mình có nói mười voi không được bát xáo, hay nói láo như cuội, đó là sự phản đối, sự chê trách, sự lên án những thông tin giả. Thông tin giả là những thông tin không có nội dung thật, phản lại nội dung đúng đắn, nó chỉ phịa đặt, phản hiệu dụng và phản kết quả.
    Thông tin ngoài ra cũng như ngôn ngữ, nó có hình thức thông tin và nội dung của thông tin. Các hình thức thật ra chỉ là phương cách chuyển tải. Chính nội dung thông tin mới là yêu cầu đích thực. Cái đầu chỉ cái vỏ, chính cái sau mới là cái ruột. Mọi cách thông tin tuyền truyền dối gạt với con người trong xã hội đó là loại đồ vật chỉ có vỏ mà không có ruột, nó hoàn toàn không giá trị, phản giá trị, lừa đảo giá trị.
    Cho nên chất lượng của thông tin cũng quan trọng không kém. Chất lượng là tinh chất của thông tin. Người ta có thể biết cả vài ngàn trang sách, nhưng nếu nội dung của nó chỉ nghèo nàn hoặc sai sự thật, ý nghĩa của các thông tin đó cũng chẳng để làm gì. Nên nói chung ý nghĩa của thông tin cần phải khách quan, đúng đắn, chân thật, đồng thời phải có giá trị sử dụng, tức chất lượng cần thiết của nó. Một bài văn, một bài báo, một bài thơ, một tác phẩm văn học mang ý nghĩa thông tin chân thật, súc tích chính là các tính cách như thế.
    Cho nên thông tin cũng giống như mọi sự truyền thông khác trong thực tế, tức nó phải có nguồn, có đích, có phương thức và có nội dung, ý nghĩa. Chính ý nghĩa là cái quyết định sau cùng. Tất cả mọi cái đi trước cũng đều là cái vỏ, cái phương tiện, cái bên ngoài nếu có thể nói như vậy.
    Nguồn nói lên tính chính đáng, ý thức chính đáng của người truyền đạt thông tin. Đích có nghĩa là nội dung được phục vụ của người tiếp thu, tiếp nạp, được chuyển giao hay được truyền đạt thông tin.
    Bởi thế những xã hội văn minh, khoa học, mọi thông tin phải bào đảm tính khách quan, tính chính xác, tính đúng đắn, tính hữu ích của nó. Trái lại những xã hội lạc hậu, thông tin dễ rơi vào kiểu tuyên truyền chủ quan, một chiều, tùy tiện, tạo dựng, giả tạo để nhằm những mục đích nhất thời nào đó.
    Nên nói chung lại, ý nghĩa của xã hội chính đáng không phải chỉ có sự hoạt động, sự sinh hoạt tự do dân chủ đúng đắn, mà ý nghĩa của thông tin cũng phải mang tính tự do dân chủ và tính khách quan, đúng đắn. Những sự tuyên truyền chính trị kiểu giả dối đó là phản truyền thông, phản xã hội, phản nhân văn. Bởi vì nó coi thường con người, coi thường xã hội, xem con người, xem xã hội chỉ là công cụ thuần túy mà không phải mục đích đúng nghĩa. Đó là sự khác nhau về tính chân và giả của yếu tố truyền thông. Truyền thông nói tóm lại không phải là phương tiện cai trị mà là mục đích phục vụ. Nếu truyền thông chỉ là phương tiện cai trị, tức truyền thông giả dối, đó là xã hội phi nhân văn, trái văn minh. Trái lại ý nghĩa của truyền thông chính là phục vụ thông tin và ý nghĩa thông tin trung thực, đầy đủ và khách quan nhất nhằm đáp ứng mọi yêu cầu hiểu biết chính đáng, cần thiết, giá trị của cá nhân cũng như xã hội. Tính ác hay tính thiện của truyền thông cũng chính là như thế. Truyền thông đúng đắn là sự thông tin khách quan mà không chủ đích tuyên truyền sai trái. Trái lại truyền thông không đúng đắn, thực chất chỉ là công cụ hay phương tiện lừa đảo cá nhân cũng như toàn xã hội về phương diện nhận thức, để nhằm phục vụ những ý đồ sai trái hoặc xấu xa, thấp kém nào đó. Chính chất lượng của thông tin, tính chân chính của thông tin là cái quyết định giá trị và ý nghĩa của truyền thông mà không phải hình thức, số lượng, phương thức hoặc ý đồ gian dối của mọi loại truyền thông trong tương quan cá nhân cũng như trong tương quan xã hội.

    ĐẠI NGÀN
    (23/9/13)

Phản hồi