|

Thi ca và nghệ thuật

Nơi xuất phát ra thơ

Tứ diệu đế: Đất – Nước – Gió – Lửa, tạo nên đời sống vạn vật và con người. Nó cũng tạo nên Thơ. Tinh túy thơ từ đó phát sinh. Và con người biết khai thác, tận dụng làm sinh thú

Thơ...

cho đời sống tinh thần của mình.

 

Nguyên lý của Trời đất tự bao giờ có. Chẳng ai biết, rồi nó ban phát cho muôn loài, được gọi là thiên nhiên. Sông núi hữu tình, hoa nở bốn mùa thắm xinh, khí trời nóng ấm, mát lạnh. Chất thơ mênh mang không thể thiếu hòa quyện vào đời sống, tâm hồn con người, để con người vui sống, sinh tồn hiện hữu và hưởng thụ. Người ta gọi đó là nghệ thuật mà nghệ thuật là cái đẹp. Thi ca là cái đẹp. Những tác phẩm được gọi là nghệ thuật đều tỏa ra ngạt ngào vẻ đẹp.

Tứ diệu đế thăng hoa thành cái đẹp, mà con người phải tìm kiếm. Đi tìm cái đẹp, dĩ nhiên cái đẹp là một sự vật đã có sẵn. Có sẵn không phải là nó lộ diện, hiện hình, mà ta phải đi tìm kiếm. Đi tìm bằng cách sáng tác. Người sáng tác là nghệ sĩ. Nghệ sĩ tạo nặn ra, làm ra, tìm ra cái đẹp để đáp ứng, cầu toàn cái nhu cầu đời sống tâm linh. Do vậy mà người nghệ sĩ là người suốt đời đi tìm. Họ tìm trong thiên nhiên, Trời đất con người. Họ tìm nơi chính họ. Cào cấu nơi chính tư duy của họ. Họ gào thét từ niềm đau, từ trong sâu thẳm cuộc sống để làm nên nghệ thuật. Vậy thì tính chất của nghệ thuật được gạn lọc từ nơi chốn xù sì nhất, ảm đạm nhất, hoang vu nhất. Nó được lấy ra từ một hố thẳm nào thâm sâu nơi con người. Một nơi tăm tối nào từ vực sâu, rồi người nghệ sĩ dùng tài năng, kiến thức của mình mài dũa, gột rửa, lau chùi rồi nó sẽ được ban cho một thứ ánh sáng huyền diệu, một thứ hào quang đặc biệt nào mà người nghệ sĩ hà hơi vào, biến nó thành cái đẹp. Họ không thể dễ dàng kiếm ngay ra được một thứ vật quí hiếm, mà phải cất công đi tìm khó nhọc, có khi cái giá phải trả bằng máu hay bằng mạng sống của họ!

Chúng ta thấy người nghệ sĩ điêu khắc, từ khi nắm một vật vô tri, vô hình như thỏi đất đá, gỗ sắt, không phải anh làm chỉ ngày một ngày hai, mà nó trở thành ra pho tượng nghệ thuật theo ý mình. Người họa sĩ đứng trước một khung vải cũng phải ưu tư, tìm tòi, để kiếm ra một đường nét, một mầu sắc, một bố cục cho riêng minh. Cái bố cục và đường nét của bức tranh làm cho bức tranh độc đáo, bắt mắt người thưởng ngoạn, phải tốn biết bao lần phác họa, có khi vẽ đi vẽ lại, thử nghiệm mệt mỏi, si mê điên dại mới vừa ý. Phải tìm để mong bắt gặp một nguồn ánh sáng phép lạ nào soi chiếu vào người mẫu, vào cảnh vật hữu tình, làm hứng khởi. Vóc dáng mà anh vừa tìm thấy, hay khuôn mặt vừa bắt gặp trong trí tưởng trừu tượng hay hiện thực mà anh cho là nghệ thuật. Ôi chao! Bao nhiêu là khổ cực và nhẫn nại mà kể.

Nhà văn cũng vậy, khi đặt bút viết, anh ta phải suy nghĩ, ưu tư với đề tài mà mình sẽ viết ra. Văn thể, cốt truyện, bút pháp, sao cho câu văn chữ nghĩa lôi cuốn người đọc. Anh ta phải biết gieo hạt mầm sự sống vào tác phẩm thì nó mới thật, mới linh động, lúc đó người đọc mới khám phá ra được sự diệu kỳ của văn chương. Còn người làm thơ, đi tìm tứ thơ, đi tìm ngôn ngữ, nhạc tính cho thơ. Anh ta đi tìm cái gợi hứng, cái xúc động, nguồn cảm hứng để viết nên bài thơ, mong làm rung động lòng người, là người phải sống thực trước đã. Làm thơ mà thiếu cái cảm xúc thực của đời sống, thì không thể gọi được là một thi sĩ tài năng. Bài thơ mà không rung động được lòng người thì chỉ là một bài thơ vô hồn, một bài thơ vô hồn là một bài thơ chết. Nó chỉ là một cái xác chữ không hơn.

Nghệ thuật viết văn, tính chất của sự thật dù là hư cấu trong tác phẩm tự nó đã nói lên giá trị cái phẩm hàm để cảm hóa và thuyết phục người đọc. Nghệ thuật phải vượt lên cao hơn lòng thù hận. Vì lòng thù hận chỉ là cái ngã tầm thường, nó làm giảm đi cái giá trị lớn lao của văn chương, của tác phẩm. Nó là mớ bòng bong để tuyên truyền. Nội lực tài năng và bản lãnh của nhà văn là ở chỗ đó. Tư cách là ở chỗ đó.

Có không ít bài thơ mà chúng ta thấy, chữ nghĩa quá mầu mè ướt át, hay người làm thơ dùng chữ cầu kỳ giả tạo, cốt để làm dáng uyên bác rởm. Ý nghĩa thì vô hồn, tẻ hạt, không có tăm dáng của cảm xúc.

Chúng ta nên nhớ, thơ không dựa và gối đầu lên thứ lý trí vô tri nhạt nhẽo, mà cái nôi của thơ là chiều rộng của cảm xúc và tư tưởng. Thơ dù là thơ Tự do, thơ Đường luật, thơ tiền chiến hay thơ Tân Hình thức (THT), thơ không thể nào là một chuỗi tự sự, kể lể dài dòng, thiếu ẩn dụ gợi mở.

Thơ THT Việt thời gian gần đây sa đà vào một khuyết điểm lớn là: kể chuyện dài dòng, lê thê. Hơn thế nữa thơ THT lại câu nệ vào số chữ trong câu như 7 chữ hay 8 chữ, giống và rập khuôn thơ Tiền chiến, khiến người đọc và nhất là người làm thơ rất khó chịu, vì sự gò bó vào số chữ qui định trong mỗi câu thơ. Nó làm mất sự tự do lẫn cảm hứng khi làm thơ.
Tuy nhiên thơ THT khác thơ vần Tiền chiến là: nó không lệ thuộc vào vần bằng trắc nên người ta còn gọi là thơ không vần. Là thơ không vần thì chỉ loại bỏ được việc gò bó vần điệu, khỏi phải đi tìm chữ để cho đúng vần khi đi tìm ý thơ để câu thơ không bị ảnh hưởng cảm hứng. Nhưng ngược lại, THT tự sự, kể lể như đã nói ở trên nên nó thiếu chất thơ, ít nhạc tính. Thơ THT giống như một đoản văn ngắn. Thiển nghĩ những người thích làm thơ THT Việt cần phải khắc phục để sự phát triển lâu dài và người thưởng ngoạn không bị nhàm chán.

Nên chăng, người làm thơ THT nên loại bỏ một số chữ qui định mỗi câu thơ. Nghĩa là không ấn định số chữ qui định trong mỗi câu thơ, nhưng vẫn giữ cách xuống hàng đột ngột khi câu chưa hết ý. Chúng ta có thể hiểu như là cách làm thơ Tiền chiến phá thể?

Những người thao thức cách tân thơ, làm mới thơ, đó là một cần thiết trong nghề thơ, trong nghệ thuật thơ. Chúng ta trân trọng những nhà thơ có tâm huyết đó. Sáng tạo có nghĩa là làm mới. Vì khi họ không làm mới được nữa, thì sáng tạo cũng không còn tiếp tục được. Lúc đó việc làm thơ cũng chỉ là một việc làm giống như loài trâu, bò nhai lại cái bã của mình và của người khác đã nhả ra.

Còn nhớ hồi gặp nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lúc còn sinh tiền ở Sài Gòn, tôi hỏi. “Sao lúc này anh lại vẽ bộ bỏ viết nhạc rồi sao? “Anh trả lời.” Mình viết nhạc lúc này gặp bế tắc, nên quay sang vẽ một thời gian xem sao. “Cách trả lời đó là lòng tự trọng và khiêm nhường của một người nghệ sĩ lớn.

Những năm sau này âm hưởng dòng nhạc họ Trịnh lan tràn khắp nơi, khiến nhiều người viết nhạc bắt chước, nhái theo âm giai, cung điệu âm nhạc của anh. Ngay cả những người đã có tiếng tăm. Họ quên rằng mỗi người sáng tạo, tác phẩm làm ra phải có một cá tính riêng thì mới được gọi là căn cước của người nghệ sĩ ấy. Người ta không ngạc nhiên khi thấy giới sáng tác âm nhạc Việt Nam đi thụt lùi so với giới nghệ sĩ biểu diễn.

Nhưng làm mới nghệ thuật đến đâu? Làm mới đến chừng nào là do tài năng của người nghệ sĩ ấy thuyết phục thì việc làm mới đó mới có ý nghĩa.
Trong ý nghĩa làm mới thơ, không phải cứ nghĩ ra được một thể thơ mới thì mới gọi là làm mới thơ, là Cách tân thơ. Không phải bất cứ lúc nào, hay bất cứ ai cũng có thể phát minh ra một thể thơ mới được, một trường phái mới được.

Bất luận một thể thơ nào cũng có thể làm mới. Làm mới ở đây là làm mới ngôn ngữ, làm mới thi pháp, làm mới hình thức, làm mới nội dung, ý nghĩa bài thơ.v.v…

Thơ vần

Lâu nay tôi làm thơ Tự do mà không làm thơ vần. Không làm thơ vần, không có nghĩa là bỏ hẳn, là đành đoạn chia tay. Lâu lâu không làm, lắm khi cũng nhớ. Như nhớ một người con gái đã xa. Đến một lúc nào ngồi buồn một mình, suy nghĩ vẩn vơ lại mong có dịp gặp lại.

Dẫu biết thơ vần như Lục bát, thơ 7 chữ hay 8 chữ Tiền chiến, nó giống như một cái hkhuôn bánh đã có sẵn. Cách làm thì giống như một thứ bột đã xay nhuyễn, nhồi bóp theo một loại công thức, rồi đổ vào khuôn, nó sẽ cho ta một loại bánh giống nhau. Tuy vật liệu có gia giảm để làm khác đi mùi vị, nhưng hình thức cái bánh thì cùng một loại. Để tránh đi nhàm chán, người làm thơ phải biết cách tân làm mới.

Nói ngán thơ vần thì nói vậy. Nhưng tình cờ được đọc một bài thơ vần hay thì cũng rất là thú vị. Do vậy mà duyên nợ với thơ vần, không thể nào bỏ được. Lúc buồn tình cũng thỉnh thoảng ngâm nga đọc lại, rồi khi có hứng thì cũng bằng bằng trắc trắc, tìm chữ gieo vần. Thế là ta lại tình ý với nàng vui vẻ, mà bấy lâu nay ta đã ngoảnh mặt như một kẻ phụ tình. Cứ thế cuộc đời làm thơ của tôi luôn luôn “diễn biến một cách phức tạp“.

Trong một bài tiểu luân về thơ trước đây tôi có viết rằng: Làm thơ Tự do. Thơ vần hay thơ THT, tùy theo thời gian hay nhu cầu cảm xúc của tâm hồn mà người làm thơ xử dụng một thể thơ nào cho phù hợp với tâm hồn cảm nhận vào thời gian lúc đó, chứ không nhất thiết là phải làm một thể thơ nào nhất định. Người làm thơ thường thay đổi tâm tánh, nghĩa là thay đổi cái tâm cảnh lúc làm thơ.

Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền được coi như là nhà thơ Tự do. Ông là một trong những nhà thơ cách tân “cách mạng “nhất trong lịch sử thi ca Việt Nam. Nhưng đến khi vào tù ông lại quay sang làm thơ vần. Khi sang Mỹ ông mới cho in một tập thơ vần lấy tên là: Thơ Ở Đâu Xa, là như vậy chứ không phải là một lý do nào khác.

Có lắm người suy luận theo ý mình và cho rằng ông làm thơ vần ở trong tù, mục đích là cho dễ nhớ, dễ thuộc! Hay là ông bỏ lối thơ Tự do hiện đại để quay trở lại với lối thơ cũ.

Làm nghệ thuật khó hay dễ

Có người hỏi tôi: Làm thơ có khó không? Tôi xin trả lời: Bất cứ là làm việc gì, nếu không biết thì đều khó cả, huống chi là làm nghệ thuật. Làm thơ là làm nghệ thuật. Vẽ tranh là làm nghệ thuật. Viết nhạc là làm nghệ thuật. Nhưng làm nghệ thuật phải cho ra là làm nghệ thuật, nghĩa là phải vẽ cho đẹp, viết cho hay. Làm nghệ thuật như thế thì khó. Rất khó. Còn nếu làm dở, thì dễ ẹc. Vì nó đâu phải là nghệ thuật!

Thế nào là thơ dở? Thơ dở trước tiên là một bài thơ không có hồn. Đọc lên không gây được cảm xúc. Nó bắt chước, rập khuôn, vần vè. Thứ thơ ghép chữ dễ dãi. Nó chắp vá những từ ngữ sáo mòn cũ rích với nhau sao cho có vần để người nghe được xuôi tai, câu trên khớp với câu dưới về bằng trắc, mà không cần một cảm xúc nào, một ý tưởng nào.

Còn thế nào là một bài thơ hay thì cũng khó nói, nó tùy cảm nhận nơi người đọc. Nhưng theo tôi, trước hết muốn làm được một bài thơ hay thì bài thơ đó phải đánh động được lòng người. Khi mình đọc bài thơ đó lên, bài thơ phải gây được xúc dộng, xúc động trong cảm xúc, vì người làm thơ có nhận được cảm xúc thì khi viết ra mới làm xúc động lòng người. Đánh đánh động trái tim người thưởng ngoạn. Nói tóm lại người thi sĩ càng nhận được nhiều cảm xúc nghĩa là họ đặt cả tâm hồn mình vào được bài thơ, thì người đọc càng xúc động. Thế là một bài thơ có thể gọi được là hay. Tuy nhiên để gây được xúc động lòng người, nó còn phải hội đủ nhiều điều kiện khác như, ý tưởng, ngôn ngữ, thi pháp, lý luận.v.v… Nói chung, muốn làm được một bài thơ hay, thì người thi sĩ phải có năng khiếu, tài năng và nghiêm túc trong cách làm. Nghĩa là anh ta không được phép dễ dãi với chính mình. Không được theo đuôi hay bắt chước phong trào nhất thời của quần chúng.

Sự dễ dãi làm thơ ở đây là cái hời hợt, cái lười biếng trong suy nghĩ của một người làm nghệ thuật thiếu tài năng, một người nghệ sĩ không chịu học hỏi. Đã là người nghệ sĩ tài năng, thì người nghệ sĩ đó phải chịu khó học hỏi suốt đời. Có học hỏi thì mới có sáng tạo. Sáng tạo ở đây là sáng tạo nên cái mới, cái tự mình nghĩ ra, tự mình làm ra, không giống những cái đã có, của những người đi trước. Nói như thế, không phải là chúng ta gạt bỏ không biết trân quí, gìn giữ những kinh nghiệm quí giá mà người xưa để lại.

Cái nguồn cảm hứng của một người có tài năng, là họ biết học tập cái ý tưởng của những danh nhân bằng cách đọc sách hay nghiên cứu tìm tòi nghệ thuật trong thiên nhiên vũ trụ. Trong cái khuôn mẫu Thượng đế ưu ái dành cho con người, mà kinh nhà Phật gọi là Tứ diệu đế: Gió – Lửa  – Nước – Đất đã có sẵn, như đã nói ở trên. Có như thế thì ta mới hiểu được sự mầu nhiệm của nghệ thuật. Nó là phần cứu cánh của tâm linh con người. Đó cũng là ý nghĩa sống của người văn nghệ sĩ trong các môn nghệ thuật.

Nghệ thuật còn là sự nhạy bén và chắt lọc những suy tưởng triết lý và văn học trong đó: nghệ thuật nghe, nghệ thuật nhìn và nghệ thuật ẩm thực. Tất cả đều là một thứ nghệ thuật sống. Đó là văn học, là linh hồn của loài người. Thứ tinh thần không thể thiếu, và tốt đẹp không gì sánh nổi.

Trong các loại hình nghệ thuật, thi ca là vị vua, là vương giả của các loại hình nghệ thuật. Vì thi ca là linh hồn cái đẹp của những cái đẹp. Nó là tiếng nói của ngợi ca. Chỉ có con người mới nhận thức được thi ca và biết dùng thi ca để ca ngợi sự vật, ca ngợi con người. Sự thanh khiết đó làm chuyển hóa vũ trụ và nó cũng dùng để làm thăng hoa con người. Trong muôn vàn cái đẹp của sự thăng hoa, thì Mỹ nhân là sự tột cùng trong hết thảy cái đẹp đê thi ca ngợi khen.

Ở đây chúng ta đang thảo luận về nghệ thuật thi ca. Về một người làm thơ và cái khó hay dễ trong việc làm thơ. Cái đề tài về thơ thì thật là đa dạng, thú vị và được nhiều nhà phê bình nói đến. Vì ở nước ta rất nhiều người thích làm thơ, nhưng lại rất ít người am hiểu về thơ, họ coi thơ chỉ là thứ gì dễ tiêu khiển, là một nghệ thuật dân gian tầm thường. Những người ít học những nông dân hay ngay cả đứa trẻ chăn trâu chăn bò, cũng có thể biết làm thơ, dù chỉ là vọc vạch vần vè. Nhưng để phân biệt được thơ hay vần vè thì họ lại không phân biệt được. Nghĩa là họ làm thơ theo một thứ quán tính nào đó đã có từ thủa ấu thơ.

Trong văn học Việt Nam, những nhà thơ có thực tài để chọn lọc ra được những bài thơ hay thì không nhiều so với số lượng người làm thơ rất đông.

Làm được thơ hay để được công nhận là một nhà thơ, không phải người làm thơ nào cũng có thể đạt được. Trước hết vị đó phải là một người có năng khiếu bẩm sinh, phải là người có học vấn, có kiến thức rộng, là người có tâm cơ, có tấm lòng nhân ái đối với tha nhân và sau hết phải là người yêu thơ, đến sống chết với thơ trong mọi hoàn cảnh. Thì đó mới gọi được là một nhà thơ có thực tài. Xứng đáng được người đời tôn vinh là thi sĩ.

Sáng tạo và nghệ thuật

Sáng tạo là tự mình nghĩ ra, tự mình làm ra, như đã dẫn ở trên. Đó là những người làm nghệ thuật.

Người sáng tạo thơ nhìn sự vật bằng trực giác, bằng sự đơn sơ tự nhiên như những bông hoa, đến độ thì nở ra, như khói sương u trầm đỉnh núi. Nó tự nhiên như nhiên, giống nụ cười của bé thơ. Người sáng tạo không biết lý luận và giải thích bằng lý trí khi anh ta, chị ta đang sáng tác. Lúc mà họ chỉ còn nỗi đam mê tột cùng, say đắm tột cùng. Nhà thơ lúc đó chỉ biết viết ra những gì vừa nảy sinh, trong phút giây linh diệu. Nỗi ngẫu hứng tuôn trào cuồn cuộn thác đổ, như một làn khói xanh, bềnh bồng như áng mây đang bay lượn vô tận trên trời. Những câu thơ, chữ nghĩa tượng hình trong tâm hồn người thi sĩ lúc đó hầu như bất diệt. Nó hiện ra, tuôn ra, tuôn trào khí phách không sao kìm giữ được. Lúc đó không có luật tắc, không có lý luận, chỉ có nỗi cô đơn thăm thẳm trong phút giây linh hiện ở trạng thái ngây ngất, say mê, dồn dập và ngông cuồng. Bởi chàng đang được uống một thứ rượu hạnh phúc tuyệt vời, không gì sánh được của trần gian.

Người làm thơ trực nhận sự vật, nên thở ra cái vừa lĩnh hội đã trực nhận. Cái mơ hồ lãng đãng kết nên một chữ, một câu, một đoạn. Trong khoảng không trừu tượng, nhiều khi lại đầy ắp tất cả. Nó chỉ muốn trào ra, phọt ra, chỉ muốn ban phát thứ gì đẹp nhất, thơ mộng nhất cho người vừa thụ nhận sự kết tụ, để họ viết ra cái nóng hổi từ con chữ được nâng nưu trân quí, mà thi sĩ gọi là thơ. Phút trừu tượng ấy hiện ra ở trong đầu rồi tỏa ra bát ngát ở trước mặt, ở chung quanh. Nó là một thực tại để sống, để bay lượn hiện hình. Nó đã trở nên một hiện thực sự thật, không còn là những hiện tượng vô hình. Nó là nguyên nhân làm nên người thi sĩ lúc bấy giờ, chứ tuyệt nhiên con người không thể nào làm nên hay tạo dựng nên thi sĩ. Cái thơ mộng không thể nào làm nên bằng lý trí được. Mà thơ mộng lại là cái chất của thi sĩ. Bởi tâm hồn của hắn được nuôi dưỡng bằng mật ong tình yêu. Bằng cỏ cây hoa lá, núi rừng và biển hồ, bằng khung trời lồng lộng. Và hơn thế nữa bằng sự tự do tuyệt đối! Tâm hồn ấy cũng được tạo thành bằng những âm thanh, bằng tiếng chim ca, tiếng suối reo, được hòa nhập vào cái đẹp của đất trời. Do vậy mà thi ca đã trở thành nghệ thuật làm đẹp cuộc đời. Chả thế mà nhà văn Dostoiepki của Liên Xô đã nói: “Cái đẹp cứu chuộc thế giới “.

Những câu thơ hay đã làm rung động lòng người, mà người thi sĩ là tác nhân làm cho thiên nhiên có nhiều sức sống hơn, sinh động hơn và đẹp đẽ hơn. Một đặc điểm nữa trong việc làm thơ là sự nhìn thấy. Nhìn thấy những gì ẩn náu trong sự vật, làm cho sự vật hiện hữu hơn, hiện thực hơn, bát ngát hơn trong cõi thường hằng của sự suy tưởng. Nó tạo nên sự rung động sự vật cả ngoài hiện thể. Những câu thơ do vậy mà người xưa thường xuất khẩu thành chương, trong lúc cao hứng ngâm vịnh. Cái nhìn xuyên suốt không phải lúc nào cũng được xuất hiện. Nó chỉ ban phát cho người có một tâm hồn lớn lao, cho người có thực tài soi rọi những tâm lực yêu thương vào trong cuộc sống.
Làm thơ cũng giống như yêu. Trong lòng cảm thấy thiết tha mãi, bâng khuâng mãi. Lúc nào tứ thơ cũng hiện hình như nhìn thấy người mình yêu ở trong sâu thẳm nhất, mênh mông nhất, dù người yêu ở nơi chốn nào không hiện diện. Ngay cả khi nhà thơ đang ngủ, hình ảnh cũng hiện về mê say. Tình yêu có khác chăng chỉ là sự nhớ thương. Vậy thì. Tình yêu là sự nhớ thương. Bởi hai người yêu nhau lúc nào họ cũng chỉ muốn sống bên cạnh người mình yêu, cho bớt nhớ thương! Nên xúc động của những người yêu nhau và thi sĩ thì cùng một tầng số.

Làm thơ và tim hiểu thơ

Hiểu về thơ đã, rồi mới làm thơ, hay làm thơ rồi mới tìm hiểu về thơ?

Thường thì người ta làm thơ rồi mới tìm hiểu về thơ, đó là phần đông ở Việt Nam chúng ta. Nó không giống những nước phương Tây khác là, họ tìm hiểu về thơ rồi, biết thơ là gì rồi, họ mới làm thơ. Nghĩa là họ phải được học thi ca (poestry) ở trường lớp trước khi họ cầm bút làm thơ. Do vậy thường những nhà thơ của họ là những người có học thức uyên bác, có năng khiếu, là những người có tài năng thực sự. Ngay cả những vị vua chúa thời xa xưa cũng rất trọng vọng nhà thơ, thi sĩ tài năng được mời vào cung đình để đọc thơ cho vua chúa và các quan chức nghe Thời nay nhà thơ ở phương Tây vẫn còn được mọi người kính trọng. Thơ được mọi thức giả xem ngang hàng với Kinh Thánh. Được đọc vào những ngày lễ trọng đại của Quốc gia.

Làm thơ rồi mới tìm hiểu về thơ. Chẳng là chúng ta nghe ca dao từ hồi nằm nôi. Bà ru, mẹ ru, chị ru. Thứ âm nhạc vần điệu nhịp nhàng, êm như gió thoảng, “ngọt như đường cát mát như đường phèn “, thấm nhuần trong dòng nước thánh tuổi thơ. Chả thế mà nó làm dịu đi niềm đau ngay lúc đứa trẻ mới chào đời. Lúc mà mẹ đi chợ xa chưa về kịp, lúc mà mẹ còn đang nhọc nhằn tỉa bắp trồng khoai ngoài đồng ruộng chưa về, lúc mẹ còn phải tảo tần buôn bán ngoài chợ. Niềm đau bé thơ là đói khát, hay khi trái gió trở trời. Những trận ban nóng ngút trời mà mẹ không biết làm sao để dỗ dành cho con nín, con ngủ, lúc đó thì câu ca dao của mẹ, của chị cất lên theo tiếng à ơi, vỗ về tâm hồn non nớt của con, của em. Và thế là thơ đã đưa con, đưa em đi vào giấc ngủ, vào cõi mộng mơ đầu đời. Thơ ca dao lúc đó là một phép lạ nhiệm mầu đi vào tiềm thức tuổi thơ, vỗ về tinh thần con trẻ, dỗ cho con trẻ khỏi khóc, dỗ cho con cười. Ca dao thần tiên hòa vào dòng sữa ngọt từ lúc con người vừa lọt lòng mẹ.

Và như thế, ca dao, câu hò ở nông thôn đã là bản sắc cho con người Việt Nam ngay từ thủa sơ sinh cho đến khi khôn lớn. Lúc biết đọc biết viết thì cái hồn thơ nó đã nằm sẵn nơi tình cảm con người, nó mai phục một cách tự nhiên, một cách không có ý thức nơi con người. Vậy những câu ca dao đầu đời là gì? Đó là những dòng thơ lục bát, những câu thơ lấy trong kinh nghiệm đời sống nghệ thuật dân gian thường ngày. Cái đời sống ấy thế mà nó có tác dụng giáo dục con người, bởi thời xa xưa hay cận đại, mấy gia đình nghèo có tiền cho con đến trường đi học. Phải là những gia đình giàu có hay con nhà khá giả mới có tiền cho con đến thày Đồ học lấy dăm ba chữ Thánh hiền. Đa số những con nhà dân giả chỉ biết dạy con học đạo làm người bằng lời khuyên, bằng gương sáng của người xưa và bằng ca dao tục ngữ, bằng câu hát, câu hò .

Những câu ca dao như: Công cha như núi Thái sơn – Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Hay, Có công mài sắt có ngày nên kim. Hay, Không thày đố mày làm nên.v.v… không biết có từ bao giờ. Có lẽ nó nó được lưu truyền từ lâu lắm. Nó có từ hàng ngàn năm rồi cũng nên. Cho nên người có học hay người không có học cũng biết thế nào là ca dao, tục ngữ và nôm na họ gọi đó là thơ. Đến khi có dịp ngẫu hứng, hay lúc “tức cảnh sinh tình”, thì người có năng khiếu, cứ theo vần bằng trắc mà làm thơ. Lúc đầu thì vò vẽ bằng trắc sao cho ăn khớp với nhau nhịp nhàng. Cứ câu trên bằng thì câu dưới trắc, theo mẫu ca dao đã có sẵn, chẳng cần biết thế nào là niêm luật. Còn hiểu thế nào là một bài thơ thất ngôn, ngũ ngôn hay lục bát thì rồi dần dà sẽ biết sau. Do vậy số rất đông người Việt Nam làm thơ vì đã được thấm nhuần ca dao mẹ từ trong máu thịt.

Thơ tình

Những người mới bắt đầu học làm thơ, thường thì họ hay làm thơ tình. Có phải làm thơ tình dễ làm không? Có thể. Khi đến tuổi dậy thì, trai gái yêu nhau muốn tỏ tình, ai mà không e thẹn run rẩy khi gặp cái người mà mình để ý, cái người làm mình sợ hãi. Cái người lỡ làm mình thương trộm nhớ thầm. Nhưng biết thố lộ cùng ai? Thôi thì ta làm ít câu thơ cho đỡ sầu “vạn cổ “rồi lén đem trao nàng vậy! Nếu sợ quá không biết nhờ cậy ai hay không dám đưa trao, thì đành bạo gan đánh liều chứ biết làm sao, thôi thì ta lén bỏ trộm bài thơ vào cặp của nàng lúc giờ nàng ra chơi!

Tình yêu là mục đích và cứu cánh của con người đi vào đời sống. Vậy thì tình yêu là ý nghĩa của cuộc sống. Là nhu cầu cần thiết mà ai cũng phải khát khao. Một nhu cầu tâm linh cần được nuôi dưỡng để vượt thoát đớn đau tìm về cội nguồn hạnh phúc. Nó đương nhiên lớn lên theo sự phát triển thể chất và tinh thần, bởi nó muốn vượt thoát cô đơn, nó muốn được ve vuốt, mơn trớn không những của người thân yêu cốt nhục của mình, mà của cả tha nhân đồng loại. Đến một lúc nào đó, một phút giây nào đó nó muốn yêu thương và muốn được yêu thương. Tình yêu đến với con người ngay trước khi con người ý thức được về tình yêu. Nó đương nhiên như một nhu cầu sinh lý của đời sống.

Cái sinh linh khi còn nằm trong bụng mẹ, lớn dần lên với tình mẫu tử cho đến khi nó ra đời, cái nhu cầu yêu thương ấy đã được ôm ấp nâng niu và được bảo vệ không ai có thể tách rời được tình yêu thương mẹ con. Cho đến tuổi thành niên, tình thương từ cha mẹ, anh em, chuyển sang một thứ tình yêu thương khác là tình yêu trai gái. Thế là những vần thơ khóc gió thương mây thành hình. Lúc đó đôi mắt của họ dõi theo một bóng hình nào mà họ thấy bâng khuâng, rung động rôi tương tư không phút nào nguôi. Những vần thơ tương tư đó bật ra, bởi một con tim đau khổ và sung sướng. Thơ bắt đầu đến với người muốn làm thơ từ đó.

Thơ và đạo

Tiến trình diễn tiến theo thời gian, người làm thơ bắt đầu làm thơ tình, nay đã có nhiều suy tư hơn, nhiều niềm đau hơn và nhiều kinh nghiệm hơn, tự nó dần chuyển sang một trạng thái suy tư về cuộc sống, về kiếp nhân sinh. Cái đòi hỏi đương nhiên của con người, đi từ tình yêu trai gái, tình thương ruột thịt tới một đời sống trọn vẹn hơn đó là một nhu cầu. Và bên kia cái đời sống đang cần, đi tìm câu trả lời và lý giải là một mong muốn cấp bách, bao la như một bầu trời. Con người cứ thắc mắc, cứ ưu tư, cứ đòi hỏi, mà nhu cầu trả lời về kiếp nhân sinh, cái kiếp cụ thể mà mình đang sống, thì không sao thỏa mãn được. Rất giới hạn. Con người càng lý giải và càng tìm cách trả lời thì những thắc mắc, những vấn nạn càng gia tăng. Càng lúc câu hỏi càng hóc búa, cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay cũng không thể trả lời thỏa đáng được. Vậy thì chỉ có thi ca chỉ có thơ, may ra mới giải quyết được phần nào cái vấn nạn, cái lý giải của sự tồn sinh của con người, mà mọi triết lý, mọi tư tưởng, văn chương, các loại hình nghệ thuật, hay khoa học trên trần gian này, xem ra bất lực! Tựu trung chỉ còn lại là một nguồn rung động là Thơ và Đạo (đạo lý làm người). Tiếng hát bâng khuâng của ngàn năm với thiên nhiên mưa nắng làm hạnh phúc cho đời sống tâm linh con người.

Kết luận

Thơ bắt đầu tri kỷ với con người như thế và kết thúc với tri kỷcủa nó là như thế. Cái học của người làm thơ, hay cái học vấn của con người nói chung. Cái cốt lõi không hẳn là tri thức, là kiến thức mà là cái đạo lý làm người.

Cái đạo lý làm người mới xem qua thì thấy dễ học hơn là cái kiến thức chuyên môn về kỹ thuật của ngành học. Vì muốn nhận được sự hiểu biết có tri thức thì phải đến trường, đến lớp để học tập. Phải có điều kiện về tài chánh tiền bạc, sức khỏe.

Còn cái đạo lý học làm người thì ai cũng có thể học được, không cần phải đến trường lớp. Nhưng để tiếp thu được cái đạo đức làm người đó. Thì lại rất là khó khăn. Nhiều người học hành đã thành đạt, làm ông nọ bà kia, tiền bạc dư giả, giầu có. Nhưng cái đạo lý làm người. Học không cần phải tốn tiền, thì chưa học được. Có khi đến hết đời, người đó vẫn trơ tráo làm một kẻ bất nhân!

Cái loại bất nhân có học thức lại còn gây nguy hiểm hơn loại bất nhân không có học. Suy cho cùng, cái đạo lý làm người cũng xuất phát từ lòng yêu thương con người mà ra. Nếu không có tình yêu thương thì sẽ không nẩy mầm ra được đạo lý, sẽ không hiểu được cách làm một con người cho ra một con người, sẽ không hiểu được sự cao quí của con người hơn những sinh vật nào khác.

Cách thể hiện lương tri đành rằng là do sự giáo dục, là do được giáo dục. Nhưng cái đạo lý và kiến thức phải đi song hành thì mới trọn vẹn. Bằng không thì cách chọn lựa, làm một con người có đạo đức vẫn xứng đáng hơn, làm người hơn, là làm một người có bằng cấp, có học vấn mà không có đạo đức. Vì đạo đức làm người là một hành vi của một tinh thần cao thượng. Đời sống vật chất ta có, nó phải gắn liền với đời sống tinh thần cao cả, thì mới gọi được là một đời sống con người đầy đủ. Đời sống đầy đủ vật chất và tinh thần là một là như vậy.

Thơ và đạo bao gồm là nghệ thuật. Nghệ thuật hay cái đẹp CHUYỂN HÓA Thế Giới./.

© Đàn Chim Việt

9 Phản hồi cho “Thi ca và nghệ thuật”

  1. Võ Hưng Thanh says:

    琵琶行 Tỳ Bà Hành

    潯陽江頭夜送客 Tầm Dương giang đầu dạ tống khách
    楓葉荻花秋瑟瑟 Phong diệp địch hoa thu sắt sắt
    主人下馬客在船 Chủ nhơn hạ mã khách tại thuyền
    舉酒欲飲無管絃 Cử tửu dục ẩm vô quản huyền

    醉不成歡慘將別 Túy bất thành hoan thảm tương biệt
    別時茫茫江浸月 Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt
    忽聞水上琵琶聲 Hốt văn thủy thượng tỳ bà thanh
    主人忘歸客不發 Chủ nhơn vong quy khách bất phát

    尋聲暗問彈者誰 Tầm thanh ám vấn đàn giả thùy
    琵琶聲停欲語遲 Tỳ bà thanh đình dục ngữ trì
    移船相近邀相見 Di thuyền tương cận yêu tương kiến
    添酒回燈重開宴 Thiêm tửu hồi đăng trùng khai yến

    千呼萬喚始出來 Thiên hô vạn hoán thủy xuất lai
    猶抱琵琶半遮面 Do bão tỳ bà bán già diện
    轉軸撥絃三兩聲 Chuyển trục bát huyền tam lưỡng thanh
    未成曲調先有情 Vị thành khúc điệu tiên hữu tình

    絃絃掩抑聲聲思 Huyền huyền yểm ức thanh thanh tứ
    似訴平生不得志 Tự tố bình sanh bất đắc chí
    低眉信手續續彈 Ðê my tín thủ tục tục đàn
    說盡心中無限事 Thuyết tận tâm trung vô hạn sự

    輕攏慢撚抹復挑 Khinh long mạn nhiên mạt phục khiêu
    初為霓裳後六么 Sơ vi Nghê thường hậu Lục yêu
    大絃嘈嘈如急雨 Ðại huyền tào tào như cấp vũ
    小絃切切如私語 Tiểu huyền thiết thiết như tư ngữ

    嘈嘈切切錯雜彈 Tào tào thiết thiết thác tạp đàn
    大珠小珠落玉盤 Ðại châu tiểu châu lạc ngọc bàn
    間關鶯語花底滑 Gian quan oanh ngữ hoa để hoạt
    幽咽泉流水下灘 U yết tuyền lưu thủy hạ than

    水泉冷澀絃凝絕 Thủy tuyền lãnh sáp huyền ngưng tuyệt
    凝絕不通聲漸歇 Ngưng tuyệt bất thông thanh tiệm yết
    別有幽愁暗恨生 Biệt hữu u sầu ám hận sanh
    此時無聲勝有聲 Thử thời vô thanh thắng hữu thanh

    銀瓶乍破水漿迸 Ngân bình sạ phá thủy tương bính
    鐵騎突出刀鎗鳴 Thiết kỵ đột xuất đao thương minh
    曲終收撥當心畫 Khúc chung thu bát đương tâm hoạch
    四絃一聲如裂帛 Tứ huyền nhứt thanh như liệt bạch

    東船西舫悄無言 Ðông thuyền tây phảng tiễu vô ngôn
    唯見江心秋月白 Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch
    沈吟放撥插絃中 Trầm ngâm phóng bát sáp huyền trung
    整頓衣裳起斂容 Chỉnh đốn y thường khởi liễm dung

    自言本是京城女 Tự ngôn bổn thị kinh thành nữ
    家在蝦蟆陵下住 Gia tại Hà mô lăng hạ trú
    十三學得琵琶成 Thập tam học đắc tỳ bà thành
    名屬教坊第一部 Danh thuộc giáo phường đệ nhứt bộ

    曲罷曾教善才服 Khúc bãi tằng giáo thiện tài phục
    妝成每被秋娘妒 Trang thành mỗi bị Thu Nương đố
    五陵年少爭纏頭 Ngũ lăng niên thiếu tranh triền đầu
    一曲紅綃不知數 Nhứt khúc hồng tiêu bất tri số

    鈿頭銀篦擊節碎 Ðiền đầu ngân bề kích tiết toái
    血色羅裙翻酒汙 Huyết sắc la quần phiên tửu ô
    今年歡笑復明年 Kim niên hoan tiếu phục minh niên
    秋月春風等閑度 Thu nguyệt xuân phong đẳng nhàn độ

    弟走從軍阿姨死 Ðệ tẩu tùng quân a di tử
    暮去朝來顏色故 Mộ khứ triêu lai nhan sắc cố
    門前冷落車馬稀 Môn tiền lãnh lạc xa mã hy
    老大嫁作商人婦 Lão đại giá tác thương nhơn phụ

    商人重利輕別離 Thương nhơn trọng lợi khinh biệt ly
    前月浮梁買茶去 Tiền nguyệt Phù Lương mãi trà khứ
    去來江口守空船 Khứ lai giang khẩu thủ không thuyền
    繞船月明江水寒 Nhiễu thuyền nguyệt minh giang thủy hàn
    夜深忽夢少年事 Dạ thâm hốt mộng thiếu niên sự
    夢啼妝淚紅闌干 Mộng đề trang lệ hồng lan can
    我聞琵琶已嘆息 Ngã văn tỳ bà dĩ thán tức
    又聞此語重唧唧 Hựu văn thử ngữ trùng tức tức

    同是天涯淪落人 Ðồng thị thiên nhai luân lạc nhơn
    相逢何必曾相識 Tương phùng hà tất tằng tương thức
    我從去年辭帝京 Ngã tùng khứ niên từ đế kinh
    謫居臥病潯陽城 Trích cư ngọa bịnh Tầm Dương thành

    潯陽地僻無音樂 Tầm Dương địa tịch vô âm nhạc
    終歲不聞絲竹聲 Chung tuế bất văn ty trúc thanh
    住近湓江地低濕 Trú cận Bồn giang địa đê thấp
    黃蘆苦竹繞宅生 Huỳnh lô khổ trúc nhiễu trạch sanh

    其間旦暮聞何物 Kỳ gian đán mộ văn hà vật
    杜鵑啼血猿哀鳴 Ðỗ quyên đề huyết viên ai minh
    春江花朝秋月夜 Xuân giang hoa triêu thu nguyệt dạ
    往往取酒還獨傾 Vãng vãng thủ tửu hoàn độc khuynh

    豈無山歌與村笛 Khỉ vô sơn ca dữ thôn địch
    嘔啞嘲哳難為聽 Ẩu nha triều triết nan vi thính
    今夜聞君琵琶語 Kim dạ văn quân tỳ bà ngữ
    如聽仙樂耳暫明 Như thính tiên nhạc nhĩ tạm minh

    莫辭更坐彈一曲 Mạc từ cánh tọa đàn nhứt khúc
    為君翻作琵琶行 Vị quân phiên tác tỳ bà hành
    感我此言良久立 Cảm ngã thử ngôn lương cửu lập
    卻坐促絃絃轉急 Khước tọa xúc huyền huyền chuyển cấp

    淒淒不似向前聲 Thê thê bất tự hướng tiền thanh
    滿座重聞皆掩泣 Mãn toạ trùng văn giai yểm khấp
    座中泣下誰最多 Tọa trung khấp hạ thùy tối đa
    江州司馬青衫濕 Giang châu Tư Mã thanh sam thấp

    白居易 BẠCH CƯ DỊ

    GẢY ĐÀN TỲ

    Bến Tầm Dương, canh khuya đưa khách.
    Quạnh hơi thu, lau lách đìu hiu.
    Người xuống ngựa, khách dừng chèo,
    Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ty.
    Say những luống ngại khi hầu rẽ,
    Nước mênh mông đượm vẻ gương trong.
    Tiếng tỳ chợt vẳng trên sông,
    Chủ khuây khỏa lại, khách dùng dằng xuôi.
    Lần tiếng sẻ, hỏi ai đàn tá ?
    Lửng tiếng đàn, nấn ná làm thinh.
    Dời thuyền theo hỏi thăm tình,
    Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui.
    Mời mọc mãi thấy người bỡ ngỡ,
    Tay ôm đàn che nửa mặt hoa.
    Vặn đàn vài tiếng dạo qua,
    Tuy chưa trọn khúc, tình đà thoảng hay.
    Nghe não nuột mấy dây bứt rứt,
    Dường than niềm tấm tức bấy lâu.
    Chau mày, tay gảy khúc sầu,
    Giãi bày mọi nỗi trước sau muôn vàn.
    Ngón buông, bắt, khoan khoan dìu dặt,
    Trước Nghê thường, sau thoắt Lục yêu.
    Dây to nhường đổ mưa rào,
    Nỉ non dây nhỏ như trò chuyện riêng.
    Tiếng cao thấp lần chen liền gảy,
    Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu.
    Trong hoa, oanh ríu rít nhau,
    Suối tuông róc rách chảy mau xuống ghềnh.
    Tiếng suối lạnh, dây mành ngừng tắt,
    Ngừng tắt nên phút bặt tiếng tơ.
    Ôm sầu, đau giận ngẩn-ngơ,
    Tiếng tơ lặng lẽ bấy giờ càng hay.
    Bình bạc vỡ tuôn đầy mạch nước,
    Ngựa sắt giong, thét ngược tiếng đao.
    Cung đàn trọn khúc thanh tao,
    Tiếng buông xé lụa, lựa vào bốn dây.
    Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt,
    Một vầng trăng trong vắt lòng sông.
    Ngậm ngùi đàn bát xếp xong,
    Áo xiêm khép nép hầu mong giải lời.
    Rằng xưa vốn là người kẻ chợ,
    Cồn Hà mô trú ở lân la.
    Học đàn từ thuở mười ba,
    Giáo phường đệ nhất sổ đà chép tên.
    Gã thiện tài sợ phen dừng khúc,
    Ả Thu Nương ghen lúc điểm tô.
    Ngũ lăng, chàng trẻ ganh đua,
    Biết bao the tấm chuốc mua tiếng đàn.
    Vành lược bạc gãy tay nhịp gõ,
    Bức quần hồng hoen ố rượu rơi.
    Năm năm lần lữa vui cười,
    Mãi gió trăng chẳng đoái hoài xuân thu.
    Buồn em trẩy, lại sầu dì thác,
    Lần hôm mai đổi khác hình dung.
    Cửa ngoài xe ngựa vắng không,
    Thân già mới kết đôi cùng khách thương.
    Khách trọng lợi khinh thường ly cách,
    Mãi buôn chè, sớm tếch miền khơi.
    Thuyền không đậu bến mặc ai,
    Quanh thuyền trăng dãi, nước trôi lạnh lùng.
    Ðêm khuya, sực nhớ vòng tuổi trẻ,
    Lệ trong mơ hoen vẻ phấn son.
    Nghe đàn ta đã chạnh buồn.
    Lại rầu nghe nỗi nĩ non mấy lời,
    Cùng một lứa bên trời lận đận,
    Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.
    Từ xa kinh khuyết bấy lâu,
    Tầm Dương đất trích, gối sầu hôm mai.
    Chốn cùng tịch lấy ai vui thích,
    Tai chẳng nghe đàn địch cả năm.
    Sông Bồn gần chốn cát lầm,
    Lau vàng, trúc võ nảy mầm quanh hiên.
    Tiếng chi đó nghe liền sớm tối,
    Cuốc kêu sầu, vượn hót nỉ non.
    Hoa xuân nở, nguyệt thu tròn,
    Lần lần tay chuốc chén son riêng ngừng.
    Há chẳng có ca rừng địch nội,
    Giọng líu lo, nhiều nỗi khó nghe.
    Tiếng tỳ nghe dạo canh khuya,
    Dường như tiên nhạc gần kề bên tai.
    Hãy ngồi lại gảy chơi khúc nữa,
    Sẽ vì nàng soạn sửa bài ca.
    Tần ngần dường cảm lời ta,
    Đến ngồi bắt ngón đàn đà kíp dây.
    Nghe não nuột khác tay đàn trước,
    Khắp tiệc hoa tuôn nước lệ rơi.
    Lệ ai chan chứa hơn người ?
    Giang châu Tư Mã đượm mùi áo xanh.

    PHAN HUY VỊNH (dịch)
    (1800 – 1870)

    TRONG ĐÊM NGHE TIẾNG ĐÀN TỲ BÀ

    Bến Tầm đêm tiễn người đi
    Hơi thu hiu hắt cỏ cây ngậm ngùi
    Người lên ngựa kẻ xuống thuyền
    Mời nhanh chén rượu tiếng đàn còn chưa
    Men nồng quyện với sầu đưa
    Biệt ly trăng luống bến sông nghẹn ngào
    Bổng dưng vẳng tiếng tỳ bà
    Phút giây tiễn biệt ngỡ ngàng lắng nghe
    Nương chiều gió hỏi đàn ai
    Ngại ngùng bặt mất tiếng tơ đàn cầm
    Dời thuyền để được lân la
    Rượu châm, khêu tỏ đèn hoa, tiệc mời
    Ngại ngùng người ngọc buông lơi
    Che đàn nửa mặt nàng thời bước ra
    Lên dây so phiếm vài ba
    Tay buông một khúc phát ra chưa tròn
    Sao nghe tấm tức trong lòng
    Xót xa bao nổi đoạn trường tâm tư
    Chau mày rồi lại gảy thêm
    Biển sầu lai láng càng tuông dạt dào
    Dâng cao lên ngón tay ngà
    Bao nhiêu ý nhạc thoát ra tràn trề
    Dây to như thể mưa rào
    Tỉ tê dây nhỏ sụt sùi tái tê
    Ào ào gió cuộn ngàn khơi
    Hòa theo lệ ngọc chứa chan đôi hàng
    Thoảng nghe như tiếng oanh vàng
    Trong hoa cùng với tiếng ngàn suối ca
    Rồi càng lạnh buốt xót xa
    Tiếng đàn im bặt tưởng đà vắng theo
    Lặng yên giấu kín nổi niềm
    Tiếng lòng lặng lẽ thay cho tiếng đàn
    Nghe như được dịp vỡ òa
    Xé lòng cuồn cuộn ngỡ là đao binh
    Rồi xong dịu lại tiếng tơ
    Bốn dây cao vút thanh tao nhẹ nhàng
    Đông tây lặng ngắt bao thuyền
    Dòng sông hòa với nhip nhàng ánh trăng
    Lặng thinh đàn đã xếp xong
    Y xiêm tề chỉnh thong dong ra ngồi
    Kể rằng xưa phận hoa thôi
    Nhà nàng cũng vốn chỉ là gần đây
    Lên mười ba tuổi học thầy
    Tiếng đàn sắc sảo khắp nơi chào mừng
    Thói thường đố kỵ tự nhiên
    Ghét ganh vì bởi tiếng đàn phát ra
    Giai nhân tài tử hẳn là
    Tiếng đàn định mệnh quả là ai hay
    Xót thương từ đó vơi đầy
    Đàn ngưng dây, luống dập vầy phận hoa
    Quần hồng ố những rượu sa
    Tháng qua ngày lại, xót xa gượng cười
    Gió trăng thật uổng bao ngày
    Người thân cũng đã mấy lần biệt ly
    Tháng ngày tàn tạ xuân thì
    Yến oanh rồi cũng thưa dần trước sau
    Tuổi già lại nghĩ bạc đầu
    Khách thương gởi phận dễ đâu tâm tình
    Đường xa bao lợi rập rình
    Thuyền không đậu bến mặc tình đơn côi
    Hững hờ trăng lạnh sóng khuya
    Đìu hiu quạnh quẽ xót thương lạnh lùng
    Lệ nhòa nhạt phấn phai hồng
    Tiếng đàn mới khiến chạnh lòng đêm nay
    Càng nghe càng thấm lại buồn
    Xót xa thân phận thuyền quyên lỡ làng
    Tương phùng dẫu mới lần đầu
    Tựa mình lưu lạc giang hồ ngày xưa
    Tầm Dương bệnh phải nằm chờ
    Lạc loài xứ lạ ơ hờ nước mây
    Suốt năm vắng cả tiếng đàn
    Đìu hiu quạnh quẽ muôn vàn xót xa
    Đêm nghe khóm trúc vàng ca
    Sáng chiều chỉ một xót xa điệu buồn
    Quyên kêu vượn hót đầu nguồn
    Xuân hoa thu nguyệt thẹn thùng theo trăng
    Một mình chuốc lấy chén vàng
    Tiếng rừng thay tiếng địch vang giữa trời
    Hoang vu bao nổi bời bời
    Bổng dưng vẳng tiếng tỳ bà đêm khuya
    Tiếng đàn như thể tay tiên
    Xin nàng nán lại gảy thêm khúc nào
    Để ta soạn bản tơ vàng
    Nàng chừng xúc động bởi ta nhận lời
    Dạo thêm vài khúc tuyệt vời
    Tiếng tơ sao lại nỉ non hơn nhiều
    Chiếu ngồi như đẫm lệ nhiều
    Biết ai đã nhỏ lệ nhiều hơn ai
    Áo lam Tư mã Giang Châu

    VÕ HƯNG THANH (dịch)
    Sàigon, 26/6/2010

  2. vinh pham says:

    Tôi nghĩ ông Lotxac dùng tên giả.

  3. Vinh Pham says:

    Chào ông Lotxacs .

    Ngay cái tên tác gia ông Lotxacs đã viết sai , thì chấp làm gì .

  4. Thi Ca & Cuộc Sống

    “Nếu người bình thường yên lặng, đó là thủ thuật sống. Nếu một nhà văn đồng lõa với yên lặng, y là tên đang nói láo”

    * Thi sĩ Tiệp Jaroslav Seifert – Nobel Văn Chương (Thi Ca) 1984

    Tôi Nguyễn Hữu Viện ủng hộ Thi ca Dấn thân, với điều kiện Người viết phải có toàn vẹn Tự do.

    Không Nhà thơ nào có thể dửng dưng lãnh đạm với Công chuyện của Dân tộc và Quốc gia mình. Càng không thể lãnh đạm dửng dưng đối với người thuộc về một quốc gia nhỏ bé như của chúng ta, mà sự sinh tồn thường bị đe dọa.

    Cố nhiên, sự dấn thân như tôi quan niệm không phải là việc gia nhập thụ động. Thi ca là cuộc đối thoại về Sự Thật, một cuộc đối thoại chắc chắn & chắc hẳn không những cuốn hút mà còn đam mê .. ..

  5. quangtam says:

    Bai viet qua dai, mong lung va doc xong nhung khong ro y tac gia muon gi!!!

  6. Võ Hưng Thanh says:

    PHIẾM LUẬN NHỎ VỀ THI CA

    Thi ca là phiếm linh hồn
    Ngân lên khúc nhạc tâm hồn cao sâu
    Thi ca chữ nghĩa vô cầu
    Như dòng nghệ thuật khơi sâu trong ngoài
    Thơ luôn có đạo có đời
    Tùy theo khuynh hướng nơi người thi nhân
    Con thuyền trôi nổi tự do
    Là thơ phá cách ít khi có vần
    Nhưng thơ mà muốn cân phân
    Trước vần sau điệu lắm phần xênh xang
    Hoặc thơ lục bát dịu dàng
    Hoặc thơ tám chữ điệu đàng lắm thay
    Hoặc thơ bảy chữ đều hay
    Ngủ ngôn đường luật gió lay vạn cành
    Trên trời mây trắng nền xanh
    Dưới đời thi tứ thả nhanh lòng người
    Có thêm Tứ Đế càng vui
    Ấy là bốn Diệu trong vòng Tư duy
    Có đâu “đất, nước, lửa … gì”
    Thơ luôn vượt hẳn thị phi trên đời
    Thơ hay tính cách của trời
    Phải đâu là cách thường tình thế gian !

    VHT

  7. lotxac says:

    LỜI NÀY CHO NGƯỜI VIẾT: Huynh Thi viết về THI CA và NGHỆ THUẬT;
    (BBT: Đề nghị bạn đọc Lotxacs xưng hô đúng mực và góp ý nghiêm túc)

    • Võ Hưng Thanh says:

      Quả lớp trẻ ngày nay tri thức yếu
      Có những điều cơ bản lại chưa thông
      Tứ diệu đế đường tư duy của Phật
      Lại lầm ra với vật chất ngoài đồng
      Song tuy vậy bài này đầy cảm xúc
      Một điểm son, chữa lại vẫn là xong !

      VHT

  8. Toi nghi nguoi viet bai nay Tam Hon that la dep va rat dac biet !!

Phản hồi