|

Sự suy tàn của các Thành Quốc ở Hy Lạp

Trần Thanh Hiệp, LS

hy-lapVào thời điểm thế kỷ thứ VII trước CN, sự đột xuất của các Thành Quốc tại Hy Lạp đã được hậu thế chào đón như một “Phép Lạ” mở đường cho loài người bước từ cổ đại sang tân đại. Những xã hội tân tiến ngày nay, gần 30 thế kỷ sau, vẫn còn mang nhiều thành tố nền tảng xuất phát từ cơ cấu do các Thành Quốc Hy Lạp thủa xưa đã sáng chế. Tuy sự tôn sùng này không phải là đã không dựa trên những lý do xác đáng, và tuy rằng chỉ có tên tuổi của ba người nổi tiếng là Socrate, Platon và Aristote thường được gắn liền với phép lạ đó, nhưng công bình mà nói, các Thành Quốc ở Hy Lạp này thật ra chính là sự đóng góp âm thầm, trên cả hai bình diện khái niệm và định chế, của nhiều nhà tư tưởng, nhiều nhà cải cách vô danh. Cũng như các Thành Quốc ấy còn là những đáp ứng cho một loạt nhu cầu của xã hội Hy Lạp đương thời đang trải qua một cuộc khủng hoảng về chủ quyền, đang cần có một không gian công cộng chung, chủ trương phải đề cao vai trò của lý trí và ngôn ngữ, đang đòi hỏi sự bình đẳng cũng như sự biến đổi của tôn giáo. Sự thỏa mãn được các nhu cầu trên đã dẫn tới sự ra đời của các Thành Quốc mà các tác phẩm chính trị nổi tiếng như Cộng Hòa (La République) của Platon và Chính Trị (La Politique) của Aristote đã miêu tả, phê bình và lưu lại kiến thức, kinh nghiệm chính trị cho hậu thế.

Suy tàn không phải chỉ là tự băng hoại

Trên dòng thời gian, các Thành Quốc ở Hy Lạp, vào thời điểm từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ IV trước CN, như một “phép lạ”, đã mang lại cho vùng đất này một nếp sống văn minh sáng chói về mọi mặt, chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa… Người ta cứ tưởng rằng với đà tiến hóa đó, Hy Lạp trong tương lai sẽ trở thành một ngọn đuốc soi đường cho văn hóa nhân loại. Nhưng không ngờ rằng từ phần nửa sau thế kỷ thứ IV trước CN, cuộc sống chung tại các Thành Quốc bỗng trở nên sa sút, quyền tự do chính trị của người dân, dưới nhiều hình thức, đã tiêu trầm.

Paul Valéry, khuôn mặt văn hóa hàng đầu của nước Pháp, đầu thế kỷ trước, đã đưa ra một nhận định trong tác phẩm Tạp Lục (Variétés) của ông – được rất nhiều người trích dẫn – rằng “Chúng ta, văn minh, bây giờ biết được rằng chúng ta không thể là bất tử (Nous autres, civilisations, nous savons maintenant que nous sommes mortelles). Qua nhận định này, hình như Paul Valery muốn nhắn gửi suy nghĩ của ông theo đó, mỗi khi cần lấy thái độ trước những hiện tượng về văn minh, thì đừng thất vọng, cũng như đừng hy vọng, mà phải tìm hiểu.
Và nếu tìm hiểu, thay vì thất vọng hay hy vọng trước sự kiện các Thành Quốc ở Hy Lạp vào cuối Thế kỷ thứ IV trước CN đã lần lượt ra khỏi vũ đài lịch sử, thì sự suy tàn của những thực thể một thời sáng chói ấy đã không hoàn toàn chỉ là một sự tan rã vật thể. Mà là một bước chuyển đoạn, một sự tiếp nối, mở đường cho phát triển. Dĩ nhiên, bước chuyển hóa này không phải đã không có những nguyên nhân tiêu cực mà còn có những nguyên nhân tích cực nữa. Hay nói cách khác, cho chính xác hơn, đã có những nguyên nhân chủ quan và những nguyên nhân khách quan của một sự biến đổi, dưới đòi hỏi có tính cưỡng hành của tiến bộ.

Những nguyên nhân “bên trong hay tiêu cực” của sự suy tàn của các Thành Quốc

Đối với nhóm du mục người Ấn Âu (India-Europa) từ phương Bắc, nhiều đợt di dân xuống bán đảo Grecia (Hy Lạp), một mỏm nhỏ hẹp và trắc trở mọc trồi ra từ bụng của lục địa Europa, sống tụ tập thành những nhóm nhỏ trên những vùng đất đồng bằng hay những thung lũng nhỏ của bán đảo, vì hình thể của bán đảo đã không cho phép họ họ hội tụ đông đảo. Đợt di dân cuối cùng, vào thời điểm thế kỷ thứ XII trước CN, đã diễn ra như một cuộc xâm lăng của những đoàn cướp võ trang của những người nói thổ ngữ Dorian, giống như tiếng nói của dân Helen ở thành Dorit, đến tàn phá cung điện, đền đài xua đuổi thổ dân và chiếm đất để ở lại định cư tại vùng đất mới. Biến cố này đã là nguồn gốc của sự đột xuất của các Thành Quốc ở Hy Lạp vào khoảng thế kỷ thứ VIII, thứ VII trước CN.

Cuộc sống chung, trên một lãnh thổ có địa hình chia cắt, rất ít đất liền xen lẫn với núi và biển, đã sản sinh ra một loạt thực thể tự trị, tự túc, độc lập với nhau. Nhưng chính nhờ vậy mà một nền “văn minh thành quốc” đã ra đời, mang lại cho Hy Lạp một nếp sống tự do, trù phú trong đa nguyên, đa dạng, dĩ nhiên còn tương đối thôi vì những hạn chế của ngoại cảnh. Và cũng là điều tự nhiên, nếu tình trạng chia cắt tự nhiên của hình thể lãnh thổ đã dẫn tới tâm lý đam mê độc lập, trong nội bộ một Thành Quốc, và, chia rẽ sâu sắc giữa những Thành Quốc. Cho nên với sự hiện hữu của hàng trăm Thành Quốc độc lập – thực ra là biệt lập – Hy Lạp đã gặp trở ngại tới mức không thể thực hiện được sự thống nhất làm nền tảng cho một Quốc gia chừng nào các Thành Quốc còn tồn tại. Tức là các Thành Quốc này là những nguyên nhân “bên trong, chủ quan” của sự suy tàn của các Thành Quốc.

Mặt khác, sự tranh hùng vì bá quyền giữa các Thành Quốc, hay đúng hơn, giữa hai Thành Quốc hàng đầu là Athènes và Sparte, cùng với các liên minh của hai Thành Quốc này, cũng là những nguyên nhân “tiêu cực,chủ quan” khác đưa tới sự sụp đổ của các Thành Quốc.

Ngoài ra, những biến đổi của xã hội Hy Lạp đương thời không phải chỉ bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ quan ở bên trong, mà còn đến từ bên ngoài. Những nguyên nhân khách quan này có thể chia ra làm hai loại. Một đằng là những nguyên nhân văn hóa, đằng khác là những nguyên nhân quân sự.

Về mặt tư tưởng chính trị, một khi Thành Quốc không còn giữ được địa vị nhất tôn nữa thì một số xu hướng chống Thành Quốc đã xuất hiện để đánh phá và chối bỏ Thành Quốc, cổ võ cho tư tưởng “thế giới đại đồng” (cosmopolitisme). Đó là các xu hướng “Xi Ních” (Cyniques), trong trường hợp này tạm dich ra tiếng Việt là “Phái Khuyển Nho” mà người sáng lập là Diogène de Sinope, người tự nhận mình là “chó”, thường truyền bá tư tưởng của mình nơi một ổ chó, “Phái Khoái Lạc” (Epicuriens) và “Phái Khắc Kỷ” (Stoiciens).

Phái “Xi Ních” chủ trương phải thiết lập một thế giới chính trị mới, trong đó con người sống tự nhiên, nghĩa là thật gần với thiên nhiên, ngoài mọi ràng buộc của lề thói, của các định chế, luật lệ của xã hội. Một lối sống hoàn toàn ngoài vòng cương tỏa, tự nhiên như khi chưa có xã hội. Một lối sống không cần quê hương, tổ quốc, chỉ biết cá nhân, bất cần tập thể. Thứ chủ nghĩa cá nhân tuyệt đối này rõ ràng là thù địch của tư tưởng Thành Quốc.

Phái “Khoái Lạc” (Epicuriens, danh xưng đặt theo tên của người sáng lập là Epicure) không chủ trương đi tìm khoái lạc cho riêng cá nhân, không chối bỏ các định chế xã hội, nhưng đòi hỏi rằng cuộc sống của con người phải được khoái lạc, trong thanh bình và công lý. Và đó là hạnh phúc mà ai cũng có quyền hưởng. Vì vậy sẽ không thể có được cái gọi là luân lý tự nhiên mà phải tùy thời, tùy hoàn cảnh. Tức là phải tương đối hóa luân lý, chính trị bằng sự kết ước khi thành lập xã hội. Tức là không có tư tưởng xã hội tự nhiên. Không bó buộc phải sống trong Thành Quốc.

Phái “Khắc Kỷ” (Stoiciens) chủ trì rằng thế giới loài người chịu sự chi phối của thần quyền nên chỉ có một xã hội độc nhất để con người sống, đó là Vũ Trụ. Vũ Trụ là xã hội của của thần thánh của con người đều bình đẳng. Do đó, trong vũ trụ mọi người đều bình đẳng và sống tự nhiên khi nghe theo lý trí và trí thông minh. Các định chế quốc gia hay chế độ nô lệ đều không phải là sản phẩm của tự nhiên. Tuy nhiên, trong thực tế không ai đứng ra thực hiện sự bình đẳng này và sự bình đẳng ấy rút lại chỉ còn là một triết lý sống thuần túy, ngay cả khi dưới sự áp bức.

Những nguyên nhân “bên ngoài” kể trên, tuy là những mũi tấn công hướng vào các Thành Quốc, nhưng không phải là những sức mạnh cưỡng hành đẩy các Thành Quốc vào tình trạng phải tan rã. Phải đợi năm 338 trước CN, xảy ra việc vua Philippe II của Macedonia đánh chiếm bán đảo Grecia và con của Philipp II là Alexandre III, thường được gọi là Alexandre Đại Đế (A Lịch San Đại Đế) đem quân mở cuộc trường chinh sang Châu Á, và như một cơn lốc, chinh phục tất cả Đế quốc Persia, chỉ dừng ngựa lại ở vùng Ngũ Hà (Punjab) của Ấn Độ, thì các Thành Quốc mới bị chìm ngập trong cái không gian chính trị mà danh tướng Alerxandre III, với giấc mộng hợp nhất châu Á với châu Âu, đã mở rộng như một chiến công oanh liệt bậc nhất trong lịch sử loài người.

Và nhìn trong toàn cảnh của những biến động đầy kịch tính nhưng thật vĩ đại này thì sự suy tàn của các Thành Quốc ở Hy Lạp đã là, và cũng chỉ là, một trang sử đã viết xong, không có gì để “thất vọng hay hy vọng”.

© Trần Thanh Hiệp

June 21, 2014

Nguồn: Chuyển Hoá
——————————-
TÀI LIỆU BỔ TÚC:

Tôi chuyển tới độc giả link sau đây: http://xemphimso.com/phim-alexander-dai-de/4924.html để nếu quí vị có thời giờ vô coi cuộc trường chinh của Alexander Đại Đế mà tôi đã coi, sau khi viết bài “Sự suy tàn…”. Cảm tưởng của tôi là mấy dòng chót của bài đó vô tình đã phản ánh được cái nhìn toàn bộ trong phim của đạo diễn Olivier Stone…

3 Phản hồi cho “Sự suy tàn của các Thành Quốc ở Hy Lạp”

  1. ĐẠI NGÀN says:

    ĐÓA HOA HY LẠP

    Vào thế kỷ thứ VII trước CN, nền văn minh văn hóa và tinh thần Hy lạp bùng nở ra như một đóa hoa rực rỡ. Và khi đã kết trái trong vài trăm năm, cuối cùng nó cũng đã lụi tàn. Đây cũng là quy luật khách quan của nhiều nền văn minh thời cổ khác nhau, từ Phi đến Á và cả Nam Mỹ mà không riêng chỉ Hy lạp.
    Có điều nếu các thành quả văn hóa văn minh cùng quân sự ở các nơi khác chủ yếu hướng về sức mạnh vật chất, chính các thành quốc Hy lạp lại hướng lên những bước đi tư tưởng và tinh thần hết sức giá trị và phong phú.
    Bởi thế khi Hy lạp cổ lụi tàn, toàn bộ tinh hoa tinh thần đó của Hy lạp được chuyển sang cho phương Tây và Hy lạp được coi như cái nôi của mọi phát triển khoa học và triết học của các nước Tây phương sau này. Như vậy Hy lạp đã lụi tàn mà như không lụi tàn, bởi vì mọi cái gì tinh hoa của nó đã được chuyển sang và tiếp tục phát triển ở trời Tây cho đên mãi ngày nay và cũng đã trở thành di sản chung của toàn nhân loại.
    Như vậy rõ ràng có hai loại dạng văn minh : văn minh vật chất và văn minh tinh thần. Hay cũng có thể nói có hai sức mạnh : sức mạnh quân sự và sức mạnh tinh thần. Thời hiện đại thì có sức mạnh tài chánh và sức mạnh văn hóa.
    Còn thời cổ đại, Hy lạp là sức mạnh trí tuệ, tinh thần. Trong khi đó đế quốc Mông Cổ, Ba tư chủ yếu là sức mạnh quân sự. Thời thễ chiến thứ hai, phe Đồng Minh là sức mạnh dân chủ tự do, trong khi phe Trục là sức mạnh của bạo lực, phát xít. Tất nhiên Đồng minh cuối cùng đã thắng có nghĩa chính nghĩa nhân loại cuối cùng vẫn thắng.
    Thật ra mọi sự vật trên thế gian này không có gì tồn tại vĩnh cửu, kể cả các đế quốc lớn cũng như các con vi sinh cũng vậy. Vấn đề là nó sẽ héo hắt và rụng đi hay nó phát triển hợp xu thế và truyền giống nòi để hòa nhập vào dòng tiến hóa lớn của nhân loại về sau. Đóa hoa Hy lạp đã trở thành quả ngọt và những mầm sinh mới của nhân loại sau này chính là như thế. Trong khi đó khối gọi là XHCN của Liên xô trong thế kỷ quả đã tàn lụi nhanh chóng chỉ trong vòng bảy thập niên mà chẳng để lại dấu vết gì tích cực ở ngày nay cả.
    Nên nói chung lại, chỉ có những nền văn minh tinh thần, trí tuệ mới là dòng chảy vĩnh cửu của nhân loại. Trong khi đó các sức mạnh độc tài thấp kém mọi loại chỉ hướng về vật chất cuối cùng cũng phải lụi tàn.
    Ngày nay đất nước VN ta có nền văn minh văn hóa lâu đời, nhưng nay chỉ bị khung vào trong thời gian dài trên nửa thế kỷ rồi, chỉ với một ý thức và trí tuệ nghèo nàn, kiểu ý thức hệ giả tạo, và kiểu chỉ biết tôn thờ lãnh tụ, tôn thờ quyền lực, tức thần thánh hóa chủ nghĩa Mác Lê, thần thánh hóa Bác, tôn vinh đảng CS, chỉ như những giá trị duy nhất, và đã trải qua nhiều thế hệ, mà nếu không sớm sáng suốt nhận thấy ra, để ý thức được các mặt trì trệ, các thụt lùi, bế tắt về tinh thần, trí tuệ, nhằm để có sự xem xét lại, hay có sự giải quyết hiệu quả nào đó, thì quả thật tương lai của dân tộc, tương lai của đất nước biết đâu cũng sẽ có nguy cơ tàn lụi sau này, như các gương kim cổ cho thấy, đó chính là điều mà mọi người thức thời, mọi người tâm huyết ngày nay quả thật đều hết sức lo lắng hoặc đều lấy làm ngao ngán.

    THƯỢNG NGÀN
    (26/6/14)

    • Dao Cong Khai says:

      Cảm ơn Đại Ngàn, ý kiến rất hay. Tôi đồng ý và thấy rất lý thú là ngày xưa thời VNCH khi học lên tới lớp 12 thì môn Việt Văn của mình không còn nữa, mà nó bị thay thế bởi môn triết học. Lần đầu tiên, từ khi sinh ra, chúng tôi bắt đầu đối diện với chữ triết học… Tuy nhiên ở chương trình lớp 12, chúng tôi chỉ học Luận Lý Học và Đạo Đức Học. Nếu theo ban A (sinh vật) thì lớp triết có the^m môn Tâm Lý Học nữa.

      Ngạc nhiên, hoang mang, tò mò và choáng váng; tuổi mới lớn chúng tôi phải tiếp nhận những vấn đề cao siêu của người lớn như vậy nên phải tới khi học ôn chuẩn bị thi Tú Tài, có dịp đọc đi đọc lại những bài text nên mình mới từ từ hiểu được một chút. Càng hiểu càng thấy hay và chí lý… Lúc đó mới thấy thấm và cảm thấy mình trưởng thành, cảm thấy mình là người lớn, và tin tưởng đối diện với xã hội. Chính lúc đó tôi cảm thấy mình giã từ những cái thơ ngây…. dễ thương thời niên thiếu.

      Sau này khi học về văn minh và văn hoá tư tưởng Hy Lạp, tôi mới nhận ra nền tang? môn Luận Lý Học mình học hồi lớp 12 thời VNCH là lấy toàn căn bản ý thức lý luận của thời Hy Lạp. Tôi chưa tưởng tượng được đến khi nào nhân loại mới có những nền tang? lý luận nào mới hơn để thay thế những PHƯƠNG THỨC TỔNG QUÁT CỦA TƯ TƯỞNG, bao gồm trực giác, suy luận; diễn dịch, quy nạp, loại suy; tam đoạn luận và các nguyên lý…

      Trang bị trong đầu những nền ta?ng Tây Phương đó, ne^n khi tiếp cận với cái XU THẾ CÁCH MẠNG XHCH của CS Bắc Việt; họ tiến vô xâm chiếm đất nước và xã hội chúng tôi bằng quân sự, nhưng họ không lấn được một inch nào vào khoảng sâu vô biên tron tâm hồn chúng tôi. Chúng tôi chỉ biết im lặng để khinh bỉ những cái “ní nuận” của họ.

      Trong phần kết luận của Đại Ngàn, tôi có ý kiến khác biệt với you một chút. Đồng ý là “đất nước VN ta có nền văn minh văn hóa lâu đời…” nhưng có những khó kha*n trong lịch sử và xã hội VN khi chúng ta tiếp nhận văn hoá Tây Phương nói chung và tư tưởng Hy Lạp nói riêng. Qua kinh nghiệm xã hội và Việt Sử cận đại, tôi thấy có nhiều xung khắc; mà kẻ chủ động gây ra xung khắc đó chính là cái văn hoá lâu đời của VN mình, cái văn hoá Khổng Nho (nói trắng ra nó là văn hoá Tàu chứ không phải văn hoá VN). Quả that, Vietnam is the trouble of Vietnamese. Từ it nhất 5 thế kỷ qua, chính cái văn hoá đó đã làm cho cả ta và Tàu lâm vào những cuộc nội chiến và cai trị bất công không theo kịp trào lưu dân chủ trên thế giới cho đến ngày nay.

      Không chỉ riêng những người VN theo CS hay XHCN, chính cái văn hoá lâu đời của VN (thực ra của Tàu) đó đã giúp cho chế độ CS tồn tại được ở VN và Trung Quốc. Đảng CSVN ngày nay không còn tuyên truyền chủ nghĩa Mac Lenin nữa, mà họ tuyên truyền truyền thống văn hoá dân tộc, họ mang triết lý đông phương ra để tuyên truyền và chống đỡ cũng như ngăn chặn những tư tưởng công ba*ng`, dân chủ của tây phương. Chính cuộc chiến tranh do đảng CSVN gây ra để xâm chiếm mien Nam cũng được đảng CS vận dung cái văn hoá lâu đời của VN để tuyên truyền, dụ dỗ thanh niên mien Bắc hy sinh làm bia đỡ đạn cho họ. Đâu phải thanh niên miền Bắc hy sinh vì XHCN, nhưng họ hy sinh vì “độc lập và thống nhất tổ quốc”. Nếu người VN không có truyền thống bảo vệ ngoại xâm (kiểu đó) mà chỉ có văn hoá nhân bản của Hy Lạp như thanh niên VNCH chúng tôi thì đất nước VN đâu có bị cuộc nội chiến Quốc Cộng tương tàn như đã xẩy ra? Chúng tôi đâu muốn chiến tranh, đâu muốn bắn giết những người cùng chủng tộc mình cho dù để tho^ng’ nhất đất nước; mà chỉ cái văn hoá truyền thông’ của VN mới đủ sức khích động thanh niên mien Bắc hành động man rợ với những người VN cùng chủng tộc với họ như vậy.

      • DẶM NGÀN says:

        VẠN SỰ KHỞI ĐẦU HAY

        Bản thân tôi thuộc truyền thống gia đình thi ca. Tôi làm thơ từ khi còn nhỏ, không đến nỗi tệ. Chẳng những vậy còn làm thơ quá dễ dàng.
        Tới khi học lớp đệ tam (10), tôi bắt đầu đọc Tạp chí “Đại Học” của Viện Đại Học Huế thời đó, thế là lần đầu tiên bắt đầu lĩnh hội triết học. Đây là tờ Tạp chí viết nhiều về đề tài triết học rất chuyên sâu. Bởi vậy sang năm đệ nhất (12), tôi mạnh bạo chuyển ngay sang Ban C để tiếp tục học chuyên ngành triết học cho đến khi ra trường bậc đại học và bậc cao hơn tốt nghiệp triết học phương Tây. Tuy nhiên cũng trong thời kỳ học đại học tôi được học triết học phương Đông và về sau cũng nghiên cứu triết học phương Đông khá sâu sắc. Cuối cùng tôi kết luận, chỉ có một nền triết học chung mà không phải chia ra phương Đông hay phương Tây. Đó chẳng qua chỉ là hai nhánh lớn của một thân cây lớn thế thôi.
        Bởi trong ý thức tổng hợp như thế, tôi quyết định đi theo con đường nghiên cứu và sáng tạo độc lập của riêng mình. Và trong khi nhiều người đang tôn sùng triết học Mác, tôi đã từng bỏ ra khá nhiều thời gian để đọc toàn bộ các tác phẩm của Mác. Kết luận tôi thấy Mác chỉ là anh ba xàm, bởi triết học cũng không thông mà khoa học cũng không tới, chính trị thì cũng lại làng nhàng, nói chung chẳng tới đầu tới đũa gì cả, nên thật là đáng tiếc.
        Và để phá tan hoài nghi về ý nghĩa tối hậu của triết học, tôi chuyển sang nghiên cứu toàn diện về lý thuyết toán học, lý thuyết khoa học tự nhiên mọi mặt, để cuối cùng khẳng định con đường triết học vẫn là con đường bao quát, cao quý và hấp dẫn nhất.
        Nên đã từ lâu tôi vẫn độc lập một mình đi trên con đường ấy cho dù bao khó khăn trở ngại trong thực tế đường đời, giờ thì muôn dặm dài cũng đã được vượt qua, còn có tới đâu hay có sẽ để kết quả sáng tạo gì riêng cho đời thì chưa dám nói.
        Tuy nhiên ý nghĩa của việc “vạn sự khởi đầu hay” là như thế. Và cũng mượn “cửa sổ” ĐCV để ghi lại một kinh nghiệm triết học ở đây cho giới trẻ VN, và để họ hiểu biết thêm nền giáo dục cũ của Miền Nam luôn đầy tính cách nhân văn là như vậy.

        BẠT NGÀN
        (30/6/14)

Leave a Reply to Dao Cong Khai