|

Tuyên bố Về thực thi quyền Dân sự và Chính trị

civil

Hiến pháp hiện hành của nước ta quy định tại điều 69: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.

Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị (mà Nhà nước Việt Nam ký tham gia ngày 24/9/1982) quy định cụ thể về quyền bày tỏ quan điểm, quyền hội họp và lập hội: “Mọi người đều có quyền giữ vững quan niệm mà không bị ai can thiệp. Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia” (trích điều 19 [1]); “Quyền hội họp có tính cách hoà bình phải được thừa nhận” (trích điều 21); “Ai cũng có quyền tự do lập hội, kể cả quyền thành lập và gia nhập các nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình” (trích điều 22). Những quy định tương tự cũng có trong Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hiệp Quốc được công bố ngày 10/12/1948 mà mọi quốc gia thành viên đếu phải tôn trọng [2].

Căn cứ vào những quy định đó, các ý kiến đóng góp cho việc sửa đổi Hiến pháp khác với quan điểm của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp do Quốc hội lập, đặc biệt là về những điều cơ bản của thể chế chính trị (như Kiến nghị do 72 người ký trực tiếp ngày 19-1-2013, thường được gọi tắt là Kiến nghị 72, Tuyên bố của Hội đồng Giám mục, Tuyên bố công dân tự do, ý kiến trên trang mạng Cùng viết Hiến pháp, và nhiều ý kiến của đồng bào trong và ngoài nước trên các trang thông tin điện tử) là hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp và Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị (dưới đây gọi tắt là Công ước quốc tế). Điều đó cũng đúng với nhiều tiếng nói đòi dân chủ và thực hiện các quyền tự do đã được quy định trong Hiến pháp, gắn liền với yêu cầu bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, hòa nhịp với các hình thức đấu tranh của nông dân bị mất đất, của công nhân đòi việc làm và cải thiện đời sống. Những tiếng nói đó của các tổ chức và nhóm như Hội đồng Giám mục, nhóm các chức sắc tôn giáo, nhóm công dân tự do, nhóm Tuyên bố 258, câu lạc bộ NoU, v.v…, hoặc của nhiều cá nhân ở trong và ngoài nước mang tinh thần yêu nước và khát vọng dân chủ, đều được bày tỏ một cách ôn hòa, hợp pháp.

Chúng tôi, những người ký tên dưới đây hoan nghênh ý thức xây dựng của những tiếng nói đó và thấy rằng để phản ảnh yêu cầu của đông đảo nhân dân, cần khởi xướng một Diễn đàn trao đổi và tập hợp các ý kiến nhằm góp phần chuyển đổi thể chế chính trị của nước ta từ toàn trị sang dân chủ một cách ôn hòa. Đó là mục đích hoạt động của Diễn đàn, hoàn toàn phù hợp với hiến pháp của nước ta và Công ước quốc tế. Diễn đàn này mang tên “Diễn đàn xã hội dân sự” và có trang thông tin điện tử là nơi bày tỏ ý kiến của các tổ chức, các nhóm, các cá nhân cùng theo đuổi mục đích nêu trên, với mong muốn xã hội dân sự ở nước ta phát triển đúng với yêu cầu của một nước dân chủ.

Chúng tôi yêu cầu nhà cầm quyền tôn trọng quyền bày tỏ quan điểm của công dân, thẳng thắn tranh luận và đối thoại, từ bỏ cách đối xử không công bằng, không minh bạch và không đường hoàng như đã và đang áp dụng đối với những kiến nghị sửa đổi Hiến pháp và những tiếng nói đòi dân chủ khác với quan điểm của nhà cầm quyền. Ý kiến khác nhau cần được tranh luận thẳng thắn để tìm chân lý; còn dựa vào quyền lực để cản trở việc công bố, không đối thoại mà chỉ đơn phương phê phán, quy kết, thậm chí dùng nhiều cách ngăn cấm và trấn áp thì không những vi hiến và trái với Công ước quốc tế mà còn không đúng với tư cách chính đáng của một nhà cầm quyền.

Việc sửa đổi Hiến pháp đang còn ý kiến khác nhau về những vấn đề cơ bản của thể chế chính trị. Dự thảo Hiến pháp sửa đổi dự định trình Quốc hội thông qua trong kỳ họp cuối năm tuy có một số điều chỉnh chi tiết nhưng về cơ bản vẫn duy trì thể chế toàn trị của giới cầm quyền nhân danh Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN). Thực tế ở nước ta cho thấy rõ: thể chế này đã tạo nên một bộ máy cầm quyền có nhiều quyết sách sai trái và quan liêu, tham nhũng nặng; một “bộ phận không nhỏ” trong bộ máy lợi dụng quyền lực (cả quyền cai trị và quyền sử dụng, định đoạt đất đai, tài nguyên, tài sản công) cấu kết với một số nhà kinh doanh làm giàu bằng nhiều thủ đoạn bất minh (cả trong khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân), hình thành các nhóm lợi ích bất chính, xâm phạm quyền lợi của nhân dân, dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo quá bất công ở nước ta. Không ít người trong giới cầm quyền các cấp cùng với các nhóm lợi ích và sự hậu thuẫn của thế lực bên ngoài đang dựa vào bạo lực cùng nhiều thủ đoạn không chính đáng để duy trì quyền thống trị đất nước theo thể chế toàn trị, có phần do tư duy giáo điều, bảo thủ, nhưng phần quan trọng hơn, phổ biến hơn là do muốn bảo vệ và giành thêm lợi ích riêng bất chấp lợi ích chung của đất nước, của dân tộc. Đó là nguyên nhân gốc rễ khiến nước ta lâm vào khủng hoảng trên nhiều mặt: kinh tế suy giảm nặng và không ổn định, văn hóa suy đồi, đạo đức băng hoại, môi sinh bị tàn phá, trình độ phát triển và năng lực cạnh tranh thua kém nhiều nước trong khu vực, dân mất lòng tin đối với bộ máy cầm quyền; trong khi đó, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta đang bị thế lực bành trướng Trung Quốc gia tăng các hành động xâm phạm.

Để vượt qua những thách thức hiểm nghèo đối với đất nước và dân tộc, giải pháp cơ bản là phải cải cách thể chế chính trị, chuyển từ toàn trị sang dân chủ, qua đó phát huy sức mạnh hòa giải và đoàn kết dân tộc, mở ra thời kỳ phát triển mới cho đất nước và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia. ĐCSVN, với vị trí là đảng đang cầm quyền, tự nhận vì nước vì dân, có trách nhiệm thúc đẩy quá trình chuyển đổi đó một cách chủ động, mở đầu bằng việc sửa đổi Hiến pháp. Đó là mệnh lệnh của cuộc sống và cũng là phương án tối ưu cho sự chuyển đổi thể chế chính trị một cách ôn hòa ở nước ta.

Nếu Hiến pháp sửa đổi vẫn duy trì thể chế toàn trị được thông qua và ban hành chính thức thì các thách thức mà đất nước và dân tộc đang đối mặt càng thêm nghiêm trọng dẫn tới hệ quả khôn lường, dân càng thất vọng và bất bình, uy tín của nước ta trong quan hệ quốc tế càng giảm sút. Đó thật sự là tai họa cho đất nước mà trách nhiệm thuộc về giới cầm quyền.

Vì vậy, Diễn đàn xã hội dân sự yêu cầu Quốc hội dừng việc thông qua bản Hiến pháp sửa đổi trong đó thể chế chính trị hiện hành vẫn được duy trì về cơ bản, kéo dài thời gian thảo luận về Hiến pháp và thật lòng tổ chức nghiên cứu, tranh luận một cách thẳng thắn, nghiêm túc và công khai về những điều cơ bản của thể chế chính trị đang còn ý kiến khác nhau.

Tuyên bố này được gửi tới các thành viên cơ quan lãnh đạo ĐCS và Nhà nước; đồng thời được công bố trên mạng xã hội để phổ biến rộng rãi, mong đồng bào trong và ngoài nước biểu thị sự đồng tình, hưởng ứng.

Ngày 23 tháng 9 năm 2013

Những người khởi xướng Diễn đàn xã hội dân sự

———————————————————

Ghi chú:

- Ý kiến hưởng ứng Tuyên bố này

xin gửi về địa chỉ e-mail: [email protected]

- Cách thức tham gia Diễn đàn sẽ được thông báo sau.

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI KÝ TÊN TUYÊN BỐ THỰC THI QUYỀN DÂN SỰ VÀ CHÍNH TRỊ 23-9-2013
STT Họ và tên, chức danh (nghề nghiệp, nơi làm việc), thành phố/ nước
01 Nguyễn Đông Yên, GS TSKH, nhà toán học, Hà Nội
02 Phạm Xuân Yêm, GS Vật lý, Paris, Pháp
03 Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn, nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hoá Huế, Huế
04 Tô Nhuận Vỹ, nhà văn, Huế
05 Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, cựu Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, Hà Nội
06 JB Nguyễn Hữu Vinh, blogger, Hà Nội
07 Nguyễn Hữu Vinh, cử nhân luật, doanh nhân, Hà Nội
08 Vũ Quang Việt, nguyên chuyên viên cấp cao của Liên Hiệp Quốc, New York, Hoa Kỳ
09 Phan Thế Vấn, bác sĩ, TP HCM
10 Trần Thanh Vân, kiến trúc sư, Hà Nội
11 Lưu Trọng Văn, nhà báo, nhà nghiên cứu văn hóa, TP HCM
12 Hà Dương Tường, GS Toán học, Paris, Pháp
13 Trần Thị Tươi, cộng tác viên báo chí, TP. HCM
14 Hoàng Tụy, GS Toán học, nguyên Chủ tịch IDS, Hà Nội
15 Vũ Quốc Tuấn, nguyên trợ lý của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội
16 Phạm Quang Tuấn, PGS, Đại học New South Wales, Sydney, Australia
17 Nguyễn Thế Trường, đại tá, cựu chiến binh, nguyên phóng viên báo Quân đội Nhân dân, nguyên Tổng biên tập báo Quân giải phóng Trung Trung Bộ, Hà Nội
18 Nguyễn Trung, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, nguyên trợ lý cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên IDS, Hà Nội
19 Phạm Đình Trọng, nhà văn, TP HCM
20 Nguyễn Thị Khánh Trâm, nghiên cứu viên, Phân viện Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam tại TP HCM, TP HCM
21 Nguyễn Thị Ngọc Trai, hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà Báo Việt Nam, nguyên Phó Tổng biên tập báo Văn nghệ, Hội Nhà Văn Việt Nam, Hà Nội
22 Nguyễn Thị Ngọc Toản, GS, bác sĩ, đại tá cựu chiến binh, TP HCM
23 Phạm Gia Toàn, cán bộ nghỉ hưu, Hà Nội
24 Phạm Toàn, nhà giáo, Hà Nội
25 Nguyễn Tường Thụy, blogger, cựu chiến binh, Hà Nội
26 Nguyễn Thị Thục, nhà báo, nguyên phóng viên đài Phát thanh Truyền hình Lâm Đồng, Đà Lạt
27 Phan Văn Thuận, Giám đốc Công ty TNHH Phú An Định, TP HCM
28 Trần Quốc Thuận, luật sư, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, TP HCM
29 Võ Văn Thôn, nguyên Giám đốc Sở Tư pháp TP HCM, TP HCM
30 Trần Văn Thọ, GS Kinh tế, Tokyo, Nhật Bản
31 Đào Tiến Thi, thạc sĩ Ngữ văn, Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội
32 Lê Thân, cựu tù chính trị Côn Đảo trước 1975, nguyên Tổng Thư ký Lực lượng Nhân dân Tranh thủ Dân chủ Đà Lạt (1966), TP HCM
33 Giuse Maria Lê Quốc Thăng, linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
34 Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM
35 Nguyễn Văn Thạch, kỹ sư, TP Đà Nẵng
36 Trần Công Thạch, cán bộ hưu trí, TP HCM
37 Bùi Ngọc Tấn, nhà văn, Hải Phòng
38 Lê Văn Tâm, TS Hóa học, nguyên Chủ tịch Hội Người Việt Nam ở Nhật Bản, TP HCM
39 Nguyễn Văn Tạc, giáo học hưu trí, Hà Nội
40 Trần Đình Sử, GS TS, Hà Nội
41 Tô Lê Sơn, kỹ sư, TP HCM
42 Đào Xuân Sâm, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng, Hà Nội
43 André Menras – Hồ Cương Quyết, nhà giáo, cựu tù trước 1975, Pháp
44 Trần Thị Quyên, nghề nghiệp tự do, TP HCM
45 Bùi Minh Quốc, nhà thơ, Đà Lạt
46 Đỗ Trung Quân, nhà thơ, TP HCM
47 Nguyễn Đăng Quang, nguyên cán bộ Bộ Công an, Hà Nội
48 Đặng Bích Phượng, cán bộ nghỉ hưu, Hà Nội
49 Phạm Xuân Phương, đại tá, nguyên chuyên viên Tổng cục Chính trị, cựu chiến binh, Hà Nội
50 Đoàn Văn Phương, nguyên cán bộ Ban Giao bưu Trung ương Cục Miền Nam, TP HCM
51 Nguyễn Thị Hoài Phương, làm nghề tự do, Hà Nội
52 Huỳnh Sơn Phước, nhà báo, nguyên Phó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ, nguyên thành viên Viện IDS, Hội An
53 Nguyễn Hữu Phước, nhà báo, nguyên cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, TP HCM
54 Hoàng Xuân Phú, GS TSKH Toán học, Hà Nội
55 Phan Thị Hoàng Oanh, TS, giảng viên đại học, TP HCM
56 Hồ Ngọc Nhuận, nguyên Giám đốc chính trị, Chủ bút nhật báo Tin sáng Sài Gòn TP Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam TP HCM, TP HCM
57 Nguyễn Quang Nhàn, cán bộ công đoàn hưu trí, Đà Lạt
58 Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội, Hà Nội
59 Nguyễn Thái Nguyên, TS, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, Hà Nội
60 Trần Đức Nguyên, nguyên Trưởng ban Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
61 Phạm Đức Nguyên, PGS, giảng viên cao cấp Đại học Xây dựng Hà Nội, Hà Nội
62 Hạ Đình Nguyên, cử nhân giáo khoa Triết Đại học Sài Gòn, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP HCM
63 Nguyên Ngọc, nhà văn, nguyên thành viên IDS, Hội An
64 Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM
65 Trần Tố Nga, nữ cựu tù chính trị, cán bộ hưu trí, TP HCM, Paris
66 Phạm Gia Minh, TS, Hà Nội
67 Huỳnh Công Minh, linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
68 Huỳnh Tấn Mẫm, bác sĩ, Đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM
69 Nguyễn Khắc Mai, nguyên Vụ trưởng Ban Dân vận Trung ương, Hà Nội
70 Nguyễn Văn Ly (Tư Kết), nguyên Phó Bí thư Đảng ủy Sở Văn hóa Thông tin TP HCM, TP HCM
71 Trần Lương, nghệ sĩ thị giác, Hà Nội
72 Ngô Vĩnh Long, GS Sử học, University of Maine, Hoa Kỳ
73 Trần Văn Long, nguyên Phó Bí thư Thành đoàn Thanh niên Cộng sản TP HCM, nguyên Tổng Thư ký Uỷ ban cải thiện chế độ lao tù miền Nam Việt Nam trước 1975, TP HCM
74 Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội
75 Nguyễn Quang Lập, nhà văn, TP HCM
76 Cao Lập, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Giám đốc Làng Du lịch Bình Quới thuộc Tổng công ty Du lịch Sài Gòn, TP HCM
77 Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên Viện phó Viện IDS, Hà Nội
78 Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng, nguyên thành viên Viện IDS, TP HCM
79 Nguyễn Khuê, cán bộ hưu trí, TP HCM
80 Lê Xuân Khoa, nguyên giáo sư thỉnh giảng, Viện Chính sách Đối ngoại, Đại học Johns Hopkins, Washington, DC, Hoa Kỳ
81 Nguyễn Vi Khải, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, Hà Nội
82 Lê Phú Khải, nhà báo, nguyên phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam, TPHCM
83 Phạm Khiêm Ích, PGS, nguyên Phó Viện trưởng Viện Thông tin, Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, Hà Nội
84 Hà Thúc Huy, PGS TS, giảng viên đại học, TP HCM
85 Nguyễn Thị Hoài Hương, làm nghề tự do, Hà Nội
86 Hoàng Hưng, làm thơ – dịch sách – làm báo, TP HCM
87 Nguyễn Đăng Hưng, TSKH, GS Đại học Liège, Bỉ, đã hồi hương, TP HCM
88 Nguyễn Thế Hùng, GS Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng
89 Nguyễn Mạnh Hùng (Nam Dao), nguyên GS Kinh tế, Đại học Laval, Quebec, Canada
90 Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh, Nghệ An
91 Ngô Kim Hoa, nhà báo tự do, TPHCM
92 Hồ Hiếu, cựu tù Côn Đảo, nguyên Chánh văn phòng Ban Dân vận Mặt trận, Thành uỷ TP HCM, TP HCM
93 Phạm Duy Hiển, GS, nguyên Viện trưởng Viện Hạt nhân Đà Lạt, nguyên thành viên IDS, Hà Nội
94 Phạm Duy Hiển, kỹ sư, Vũng Tàu
95 Võ Thị Hảo, nhà văn, Hà Nội
96 Đặng Thị Hảo, TS, nguyên Phó Ban Văn học Cổ cận đại, Viện Văn học, Hà Nội
97 Nguyễn Gia Hảo, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, Hà Nội
98 Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, nguyên thành viên IDS, Hà Nội
99 Trần Hải Hạc, TS, nguyên PGS Đại học Paris 13, Paris, Pháp
100 Hoàng Thị Hà, giáo viên về hưu, Hà Nội
101 Ngô Thanh Hà, cán bộ hưu trí, TP HCM
102 Lê Công Giàu, nguyên Tổng thư ký Tổng hội Sinh viên Sài Gòn (1966-1967), nguyên Phó Bí thư Thường trực Đoàn Thanh niên Cộng sản TP HCM (1975-1980), nguyên Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP HCM (ITPC), TP HCM
103 Nguyễn Ngọc Giao, nguyên Phó Tổng thư ký Hội Người Việt Nam tại Pháp, Chủ biên tạp chí Diễn Đàn, Paris
104 Trần Tiến Đức, nhà báo, nguyên vụ trưởng Vụ Giáo dục – Truyền thông, Uỷ ban Quốc gia dân số và kế hoạch hóa gia đình, Hà Nội
105 Huy Đức, nhà báo, TP HCM
106 Uông Đình Đức, kỹ sư cơ khí, TP HCM
107 Phạm Văn Đỉnh, TSKH, Toulouse, Pháp
108 Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, TP HCM
109 Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam TP HCM, đại biểu Hội đồng Nhân dân TP HCM khóa 4, khóa 5, TP HCM
110 Nguyễn Duy, nhà thơ, TP HCM
111 Nguyễn Văn Dũng, nhà giáo, TP Huế
112 Trần Hữu Dũng, GS, nhà giáo nghỉ hưu, Dayton, Hoa Kỳ
113 Hoàng Dũng, PGS TS, TP HCM
114 Phạm Chí Dũng, nhà báo, TP HCM
115 Nguyễn Anh Dũng, nhà giáo, cựu chiến binh, Hà Nội
116 Lê Đăng Doanh, TS, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên thành viên IDS, Hà Nội
117 Nguyễn Xuân Diện, TS, Viện Hán Nôm, Hà Nội
118 Nguyễn Đắc Diên, bác sĩ, TP HCM
119 Tống Văn Công, nhà báo, nguyên Tổng biên tập báo Lao Động, TP HCM
120 Nguyễn Huệ Chi, GS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Văn học, Hà Nội
121 Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo, TP HCM
122 Ngô Bảo Châu, GS Toán học, Hà Nội, Chicago
123 Bùi Chát, Nhà Xuất bản Giấy vụn, TP HCM
124 Thái Văn Cầu, chuyên gia về không gian, Hoa Kỳ
125 Nguyễn Trọng Bình, nguyên Hiệu trưởng Đại học tại chức Hải Phòng, TP HCM
126 Nguyễn Nguyên Bình, Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, Hà Nội
127 Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng thư ký Hội Trí thức Yêu nước TP HCM, TP HCM
128 Đặng Thị Nguyệt Ánh, TS, Hà Nội
129 Bùi Tiến An, cựu tù chính trị chuồng cọp Côn Đảo, nguyên cán bộ Ban Dân vận Thành ủy TP HCM, TP HCM
130 Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội
_____________________

[1] Điều 19 của Công ước này còn có khoản kế tiếp như sau: 3-Việc hành xử quyền tự do phát biểu quan điểm đòi hỏi đương sự phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu: a-Tôn trọng những quyền tự do và thanh danh của người khác. b-Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý.

[2] Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền quy định tại điều 19: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm. Quyền này bao gồm sự tự do quan điểm mà không bị xen vào quấy rầy và được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới” và điều 20: “Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách ôn hòa. Không một ai có thể bị cưỡng bách gia nhập vào một đoàn thể”.

5 Phản hồi cho “Tuyên bố Về thực thi quyền Dân sự và Chính trị”

  1. Khinh Binh says:

    Đang đọc mộtcách phấn khởi rồi xem danh sách thấy “huyết học” Nguyễn Đắc Xuân bỗng cụt hứng.
    Không biết chừng nào theo thằng Hồ cho rảnh mắt! Bực!

  2. nguenha says:

    Hoàn toàn ủng hộ “diên đàn XH dân sự”.

  3. Cần Thiết says:

    Dân chủ là nhu cầu cần thiết cho mọi công dân trên thế giới, nhưng đối với các nước theo thể chế CS thì điều này không có và mãi mãi không có. Diễn đàn dân sự nếu được triển khai tại xứ sở VN thì it nhiều cũng đem lại cho người dân có hơi thở và có cơ hội tìm lại được lẽ sống. Hẳn nhiên diễn đàn này sẽ gặp nhiều trắc trở, nhưng thời gian hiện tại và hướng đi của diễn đàn trong tương lai sẽ tiến triển vì trào lưu dân chủ của thế giới đang rộng mở. Hy vọng những người chủ trương diễn đàn sẽ đủ can đảm để đương đầu với khó khăn hầu mang lại cho quê hương dân tộc hưởng thụ tiếng nói tự do. Cầu mong

  4. Nguyen Tan Trung says:

    Toi hoan nghenh va manh me ung ho “Dien dan dan su & Chinh tri”

  5. THƯỢNG NGÀN says:

    CHÍNH TRỊ VÀ HIẾN PHÁP

    Chính trị và hiến pháp luôn phải đi đôi với nhau trong một đất nước. Chính trị mà ra ngoài khuôn khổ của hiến pháp, chính trị đó là vi hiến, là bị cấm, phương diện xã hội hay phương diện nhà nước cũng vậy.
    Như vậy có nghĩa không ai có thể đứng trên hiến pháp, đứng ngoài pháp luật, vì hiến pháp là luật nền tảng hay đầu tiên nhất của một nhà nước nhất định. Sự không đứng ngoài hay không đứng trên đó được áp dụng không những đối với mọi người nói chung mà kể cả đối với guồng máy chính trị hay nhà cầm quyền liên quan đó.
    Có nghĩa hiến pháp quan trọng ở nội dung, ở mục đích áp dụng, ở giá trị áp dụng mà không phải ở hình thức của nó. Tức ai làm ra hiến pháp, hiến pháp thời kỳ nào không quan trọng, quan trọng là nội dung hiến pháp đó có phản ảnh, cho phép một chính trị lành mạnh hay không, có đáp ứng quyền dân chủ của toàn dân hay không, nhất là nó có mục đích thực thi đúng đắn hay không hay chỉ làm ra để làm kiểng, tức chỉ hình thức và bề ngoài thuần túy.
    Hiến pháp Việt Nam hiện nay điều 69 qui định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Nội dung qui định như vậy là dân chủ. Bởi vì đó là những quyền nền tảng của người dân không thể không qui định. Thế nhưng ý nghĩa “theo qui định của pháp luật” là gì mới là điều cần nói. Điều đó phải hiểu qui định của pháp luật cũng không thể đi ngược lại điều hiến pháp đã qui định, bởi nếu không lại trở nên nghịch lý, trống đánh xuôi kèn thổi ngược, khiến cái bị ràng buộc lại trở thành cái ràng buộc, tức đầu đuôi trái nhau, có nghĩa là trở thành hình thức thuần túy trong sự qui định mà không là gì khác.
    Như vậy cũng có nghĩa những điều hiến pháp đã qui định nhưng pháp luật cụ thể chưa qui định liệu người ta có quyền làm hay không ? Bởi nguyên tắc căn bản của luật pháp là mọi người có quyền làm điều gì luật pháp không cấm. Ở đây điều gì hiến pháp không cấm như ở qui định trên tức là được phép làm rồi. Luật pháp chẳng qua chỉ là sự cụ thể hóa, sự chi tiết hóa, không phải việc cái cày đặt trước con trâu được. Như thế cũng có nghĩa quan điểm về luật pháp quyết định cả về hiến pháp mà không là gì khác. Có nghĩa quan điểm luật pháp mà không thực sự dân chủ, hiến pháp làm ra đó thực chất cũng không thể dân chủ, bởi nó phải chờ pháp luật mới cho phép được thực thi, tức biến hiến pháp thành ý đồ của luật pháp, bị khống chế bởi luật pháp, làm cái bung xung giả tạo cho luật pháp mà không phải mục đích luật pháp hay hiến pháp chân chính.
    Nói như thế cũng có nghĩa quan điểm chính trị phải gắn với quan điểm luật pháp. Bởi nếu quan điểm chính trị mà tự nó không nghiêm túc, quan điểm luật pháp cũng không nghiêm túc hay ngược lại. Như vậy cuối cùng cái chính yếu là cái quan điểm mà không phải chỉ là luật pháp hay hiến pháp thuần túy.
    Bởi vì chính quan điểm đúng đắn mới tạo ra được sản phẩm đúng đắn của nó. Quan điểm đúng đắn là quân điểm xuất phát từ chính chủ thể đúng đắn, tức là con người đúng đắn. Chủ thể đúng đắn đó có thể là nhà nước, là đảng cầm quyền, là mọi cá nhân viết ra hiến pháp, thực thi hiến pháp và luật pháp.
    Cho nên điều 69 của hiến pháp hiện hành; Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã ký kết tham gia ngày 24/9/1982 (quy định cụ thể về quyền bày tỏ quan điểm, quyền hội họp và lập hội, như mọi người đều có quyền giữ vững quan niệm mà không bị ai can thiệp, mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm, bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia; quyền hội họp có tính cách hoà bình phải được thừa nhận; ai cũng có quyền tự do lập hội, kể cả quyền thành lập và gia nhập các nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình; những quy định tương tự như thế cũng có trong Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hiệp Quốc được công bố ngày 10/12/1948 mà mọi quốc gia thành viên đếu phải tôn trọng) thực tế không hề mâu thuẫn, trái ngược hoặc phủ nhận nhau. Mà vấn đề chính yếu chỉ là nói như thế nhưng thực chất ý nghĩa quan điểm của những người thực hiện là như thế nào. Nếu có thiện chí thực hiện thì mọi chuyện đều thuận buồm xuôi gió, chẳng có ý nghĩa gì phải nói. Nhưng nếu không có thiện chí thực hiện, tất nhiên mọi sự ngáng ngại, mọi sự giằng có cùng với ý nghĩa xã hội dân sự chính đáng là điều không thể tránh.
    Do vậy, “Diễn đàn xã hội dân sự” ngày nay được đặt ra thật sự là một nhu cầu cần thiết và nghiêm túc. Bởi vì qua đó sẽ soi sáng được mọi nguyên do dẫn đến mọi sự ngáng ngại là gì, điều đó có chính đáng không và giải pháp như thế nào là tốt đẹp cùng hiệu quả nhất.
    Nên nói chung lại, trong yêu cầu của thế giới hiện đại, chính trị, hiến pháp và diễn đàn xã hội dân sự chỉ là sự liên kết tự nhiên, cần thiết không thể nào thiếu. Bởi chính trị tách ra khỏi mối ràng buộc đó, chính trị đó không còn chính danh, hiến pháp tách ra khỏi mối ràng buộc đó, hiến pháp trở nên không trung thực không thực tế, diễn đàn xã hội dân sự cũng không thể tách ra khỏi mối liên hệ đó, bởi nếu thế diễn đàn xã hội dân sự cũng chỉ trở nên nói cuội hoặc nói suông mà không ý nghĩa, không kết quả.
    Hay nói khác đi, diễn đàn xã hội dân sự ngày nay thành ra yêu cầu cốt lõi của mọi người để làm nền tảng cho hiến pháp, cho chính trị chính danh và có giá trị thật sự. Bởi diễn đàn xã hội dân sự sẽ là tiếng nói thiết thực, đúng nghĩa tự do dân chủ của toàn dân, của mọi người. Và cũng chỉ trên cơ sở đó mà chính trị, hiến pháp cũng như luật pháp mọi mặt mới thật sự có thực chất, có ý nghĩa và có lợi ích thật sự.

    ĐẠI NGÀN
    (24/9/13)

Phản hồi