|

Paris kỷ niệm Ngày Quốc tế Bất Bạo động

Ghandi

Ghandi

Hôm 2-10, Paris long trọng tổ chức kỷ niệm Ngày Quốc tế Bất Bạo động. Cộng đồng Người Việt Nam ở Paris cũng tổ chức kỷ niệm ngày 2-10 trước Nhà Thờ Đức Bà ở Paris từ 18 giờ tới 20 giờ, qui tụ khá đông đồng bào tới tham dự. Tiếp theo có lễ thắp nến để đẩy lui sự vô minh của những người cộng sản cầm quyền ở Việt Nam chống chủ trương bạo động và cũng để tưởng nhớ những người đã hi sinh hoặc tử nạn dưới sự đàn áp thô bạo của nhà cầm quyền.

Những hình ảnh nạn nhân của chế độ bạo lực ở Việt nam được chưng bày trên nhiều bích chương như Lm Nguyễn văn Lý bị công an xã hội chủ nghĩa bịt mìệng ngay trước tòa án trong phiên xử khi ông trả lời với tòa, hình ảnh những nhà tranh đấu trẻ cho Dân chủ, Nhân quyền, những blogers, …Những hình ảnh này đã làm cho không ít du khách ngoại quốc dừng chân lại xem và hỏi thêm tình tiết của nạn nhân …

Tại sao ngày 2 – 10?

Liên Hiệp Quốc chọn ngày 2-10 làm Ngày Quốc tế Bất Bạo động là để tưởng niệm ngày sinh của Thánh Cam-địa (Mahatma Gandhi), vị lãnh đạo Phong trào tranh đấu giành độc lập cho Ấn độ và ông trở thành người đầu tiên chủ xướng triết lý và chiến lược bất bạo động .

Chính sự thành công giành độc lập ở Ấn độ làm cho phong trào tranh đấu bất bạo động đã trở thành chất xúc tác cực kỳ quan trọng cho nhiều phong trào tương tự bùng nổ ở nhiều nơi khác trên thế giới dẫn đến sự tan rã hay sụp đổ Đế quốc Anh . Và từ đó Đế quốc Anh được thay thế bằng “ Khối thịnh vượng chung ” (Commonwealth des nations) .

Triết thuyết tranh đấu bất bạo động của Thánh Cam- địa đã tạo nguồn cảm hứng hình thành những phong trào Dân quyền ở Mỹ vào các năm 1955-1968, do Mục sư Martin Luther King lãnh đạo, phong trào tranh đấu Dân chủ ở Miến điện do Bà Aung Suu Kyi chủ trương và phong trào Quốc dân Đại hội Phi châu chống lại sự phân liệt Nam phi do Ông Nelson Mandela lãnh đạo, mặc dầu những vị lãnh lạo này không hoàn toàn theo sát nguyên tắc của Gandhi về bất bạo động và bất phản kháng .

Ngày nay, sự tha thứ, sự bao dung hòa giải hãy còn xa lạ với các chế độ độc tài, nhứt là độc tài cộng sản như ở Tàu mà Tây tạng, Tân cương, …là nạn nhân, ở Việt nam, những người Dân chủ, những người chống Tàu bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, những nhà bất đồng chánh kiến, nhà báo tự do, những blogers, …vẫn còn là nạn nhân thảm khốc của chế độ ….Hơn nữa, chế độ cộng sản Hà Nội cũng khủng bố cả dân chúng chớ không riêng gì những người bất đồng chánh kiến .

Do đó giải quyết bất bạo động những mối xung đột vẫn là một thách thức lớn để đem lại cho mọi người một nền hòa bình bền vững . Tiến trình này phải bắt đầu bằng cách xây dựng một nền văn hóa bất bạo động và hòa bình để có thể giúp xóa tan tận gốc những mầm móng xung đột và bất bao dung . Mọi ngưòi phải được giáo dục để họ ý thức sức mạnh của bất bạo động nhờ mỗi chúng ta là là một người mang tới cho họ một thông điệp bất bạo động : ” Sự bất bạo động đang ở ngay trong người bạn, trong văn hóa của bạn, trong tín ngưởng và phẩm giá của bạn ” (Gandhi) .

Bất bạo động

Định nghĩa « Bất Bạo động » khá đơn giản : « Bất bạo động là một triết thuyết làm cho sự bạo động không có giá trị và mất tính chính đáng của nó, cổ súy một thái độ kính trọng kẻ khác trong cuộc xung đột và một chiến lược hành động chánh trị để thanh toán sự xung đột » .

Từ năm 1921, Thánh Gandhi ở Ấn độ đã làm cho mọi người biết tới sự bất bạo động qua khái niệm của từ ngữ tiếng phạn (sanskrit) là « ahimsâ » ( a = phủ nhận, từ khước, himsâ = hung bạo ) . Đây là một trong những khái niệm nền tảng của ấn giáo và phật giáo .

Khái nìệm bất bạo động được nhiều người công khai xử dung hay chọn làm nguyên tắc tranh đấu, trong đó có Mục sư Martin Luther King tranh đấu bảo vệ quyền làm người của người mỹ da đen,, vị Đạt-lai Lạt-ma thứ 14 sống lưu vong liên tục tranh đấu phục quốc Tây tạng, Lech Walesa, Václay Havel chống chánh phủ cộng sản giành độc lập, Nelson Mandela ở Nam phi, bà Aung San Suu Kyi ở Miến điện, … Và quả nhiên chế độ cộng sản hung hãn hay chế độ bạo ngược đều đã sụp độ .

Sự bất bạo động còn được Thánh Gandhi định nghĩa như « sự bất hợp tác với bất kỳ việc gì mà người ta thấy có hại cho xã hội và con người » . Phải chăng ngày nay đó là « bất tuân dân sự » (la désobéissance civile) .

Ngày 10 tháng 11 năm 1998, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, để hưởng ứng lời kêu gọi của những người được giải Nobel Hòa bình, đã biểu quyết một Quyết Nghị lấy thập niên 2001-2010 làm « Thập niên Quốc tế cổ súy cho một nền văn hóa bất bạo động và hòa bình dành cho trẻ con khắp thế giới » . Năm 2007, Liên Hiệp Quốc quyết định lấy ngày 2-10, ngày sinh của Thánh Gandhi, từ nay trở đi sẽ là « Ngày Quốc tế bất bạo động » .

Về bất bạo động, Mục sư Martin Luther King định nghĩa « Đó là một vũ khí mạnh và chánh đáng giải quyết dứt khoát mọi xung đột mà không làm tổn thương con người, trái lại còn nâng cao giá trị con người xử dụng nó . Nó là một lưởi gươm chửa lành bịnh »

Thánh Gandhi nói thêm « Bất bạo động là một thứ Tình yêu thuần khiết » .

Riêng Gìáo sư Jacques Samelin ở Havard và Sc.Po Paris, tác giả nhiều công trình nghiên cứu về bạo động, đưa ra quan niệm « đề kháng dân sự » (résistance civile) để hàm ý tranh đấu giải quyết những xung đột bằng bất bạo động vì « bất bạo động » tự nó chưa đủ ý nghĩa .

Phong trào bất bạo động ở Âu châu

Ở Pháp, có lẽ phong trào bất bạo động lâu đời nhứt là chi nhánh của Phong trào Quốc tế Hòa giải ra đời năm 1923 . Ông Lanza del Vasto, bạn của Thánh Gandhi, thành lập « Communauté de l’Arche » năm 1948 . Dựa theo « Communauté de l’Arche », tổ chức « Hành động công dân bất bạo động  » ra đời trong chiến tranh Algérie, do ông Joseph Pyronnet lãnh đạo .

Các triết gia, học giả như Jean-Marie Muller, Jean Toulat, Jacques Samelin và Christian Mellon, và nhiều người khác nữa đã nghiên cứu để khai triển một lý thuyết về « bất bạo động » và áp dụng nó vào chánh trị qua những « nhóm tranh đấu bất bạo động » từ những năm 1970 . Năm 1972, nông dân vùng Larzac đã phổ biến thuyết bất bạo động .

Gần đây, năm 2013, nhân lúc thảo luận để thông qua luật « hôn nhân cho mọi người », phong trào công giáo đã sử dụng lại kỹ thuật bất bạo động chống lại chánh phủ Pháp .

Một Tổ chức như « Những người bất tuân dân sự » đề nghị cho những ai muốn tranh đấu có thể tham dự những khóa huấn luyện về kỷ thuật bất bạo động và Bất tuân dân sự .

Ở Bỉ (Belgique)

Ở Bỉ, khác hơn ở Pháp, có nhiều phong trào bất bạo động như Mir-Irg là một tổ chức lâu đời, chi nhánh của Phong trào Quốc tế Hòa giải hay Tổ chức Quốc tế của Những Người phản kháng chiến tranh có nguồn gốc từ những phong trào vô chánh phủ … Đại học Hòa bình đặt cơ sở tại thhành phố Namur, do Lm Dominique Pire, giải thưởng Nobel Nhơn quyền, thành lập . Ngoài công việc tranh đấu, cơ sở này còn tổ chức nhiều lớp huấn luyện về bất bạo động .

Ở Thụy sĩ

Ở Thụy sĩ có « Trung tâm hành động bất bạo động » thành lập năm 1968 . Đây là một tổ chức vừa hành động, vừa theo đuổi những hoạt động tâm linh và có xu hướng chánh trị .

Ở Thụy sĩ, những người tranh đấu bất bạo động có thể được chia làm 2 xu hướng : xu hướng thứ nhứt gồm những người chọn bất bạo động như phương pháp chánh trị và xã hội, xu hướng thứ hai là những người quan niệm bất bạo động là một nếp sanh hoạt tâm linh cần phải được hiểu sâu xa, nó liên hệ với cá tánh và đạo đức con người . Nên Gandhi mới quả quyết sự « bất bạo động là một phẩm chất của con tim chớ không phải là kết quả của khối óc suy nghĩ .» .

Sự bất bạo đông lại cũng không đồng nghĩa với tinh thần chủ hòa hay chủ bại .

Hiệu quả của tranh đấu bất bạo động

Tranh đấu giải quyết những xung đột bằng phương pháp bất bạo động tuy được cho là tốt hơn và hiệu quả hơn vì nó tránh làm tổn thương đối phương và thiệt hại xã hội nhưng vẫn bị môt số người công kích . Họ cho rằng bất bạo động là một lý tưởng sai lầm vì như vậy cho rằng đối phương có lòng bao dung, tôn trọng sự công bằng . Hơn nữa, ảnh hưởng tư tưởng mác-xít, họ còn cho rằng chủ trương bất bạo động là muốn áp đặt lên giai cấp vô sản cái đạo đức tư sản trong lúc đó bạo lực vẫn là quyền tự vệ chánh đáng va hợp pháp . Như vậy phương pháp bất bạo động trong lịch sự gần đây có đem lại kết quả khả quan không ?

Chỉ sơ lược kể vài thành tích bất bạo động để thấy khi dấn thân tranh đấu có nên chọn phương pháp bất bạo động trước kẻ thù hung hản, bạo ngược hay không ?

Cuối thập niên 80, chính tranh đấu bất bạo động đã làm sụp đổ trọn vẹn chế độ cộng sản từ Ba Lan tới Mạc-tư-khoa. Tiếp theo là những cuộc Cách mạng Cam ở Ukraine, Cách mạnh Bông lài ở Tunisie, …

Đến một lúc nào đó, trước trọng tài dư luận, sức mạnh của bạo lực sẽ không còn hiệu lực nữa . Bất bạo động sẽ thắng, khác hơn bạo lực thắng bạo lực, là không để lại những hậu quả phức tạp, do mọi bên được hòa giải thật sự .

Vìệt Nam đã có những người, những nhóm tranh đấu bất bạo động . Nếu tiếp tục, lớn mạnh trong tinh thần vô úy chắc chắn sẽ hóa giải được áp lực cộng sản trước mắt . Chẳng những hóa giải, mà còn tiêu diệt cộng sản tận gốc bỏi nguồn gốc của cộng sản là khủng bố, phương pháp tranh đấu của cộng sản là dối trá và bạo lực . Dối trá để che giấu bạo lực, bạo lực để làm cho dối trá được mọi người tin .

© Nguyễn thị Cỏ May

© Đàn Chim Việt

7 Phản hồi cho “Paris kỷ niệm Ngày Quốc tế Bất Bạo động”

  1. Nguyen Hung says:

    Ông thánh Cam Địa ( Gandhi) đã thắng được thực dân Anh chỉ bằng đường lối tranh đấu bất bạo đông , đó là vì người Anh còn có chút máu nhân bản trong người, con tim họ còn biết xúc động, chớ không hoàn toàn man di ,mọi rợ như bè lũ Cộng sản Hà nội .

    Khi Hồ chí Minh bị giam giữ trong khu vực tô giới thuộc người Anh bên Trung Hoa, y được đối xử tử tế – được ăn thịt bò, được thuốc lá hút, được ra ngoài trời hít thở không khí trong lành .

    Chớ còn bị sa vào tay lũ mọi rợ Cộng sản Hà nội, nếu không bị thủ tiêu thì cũng bị chặt đầu, mổ bụng thả trôi sông .

    Hiện nay vì quan thày Liên xô đã bị khai tử, nên lũ mọi rợ lâm vào thế phải nhờ vả các nước văn minh Âu – Mỹ , vả lại tin tức, hình ảnh trong nước có thể dễ dàng lọt ra thế giới bên ngoài hơn ngày trước, nên bọn mọi rợ Cộng sản Hà nội bó buộc phải nương tay đẫm máu mà thôi, chớ ác tính, máu côn đồ của chúng vẫn không hề thay đổi .

    Người quốc gia không ai muốn dân tộc phải chít khăn tang, đất nước bị hoang tàn vì nội chiến, thế nhưng “thời đã thế, thế thời phải thế “, chỉ có bạo động mới khai trừ được lũ quỷ mọi rợ Cộng sản Hà nội.

    • Nguyen Hung says:

      Xin lỗi . Dùng font của trang mạng khác viết, đến khi copy & paste thì thiếu mất khúc sau này :

      Tranh đấu bất bạo động thì cần thời gian dài . Vậy biết đến bao lâu nữa thì bọn Cộng sản Hà nội – có sự tiếp trợ của quan thày Tàu cộng – mới rũ được thói man di mọi rợ cố hữu, mới biết cải sửa, trong khi tình hình đất nước bây giờ đã ở trong tình trạng ” chỉ mành treo chuông ” rồi . Chỉ còn vài năm nữa thôi là đất nước sẽ biến mất trên bản đồ thế giới, sẽ trở thành quận huyện của Tàu rồi đấy .

  2. NẮNG NGÀN says:

    MAHATMA GANDHI

    Đế quốc Anh rộng lớn nhất toàn cầu
    Nước tự hào mặt trời không bao giờ lặn
    Với vũ lực tận răng tận miệng
    Sự khôn ngoan chính trị kiểu thực dân

    Nhưng Mahatma Gandhi người yêu nước thương nòi
    Dâu có thể vì lẽ gì mà chịu khuất
    Dân Ấn độ đang từng ngày rên xiết
    Căm hờn này buốt giá đến tận xương

    Lại than ôi không vũ khí trong tay
    Lấy gì để toàn dân đánh tan quân xâm lược
    Để đứng dậy bẻ gồng cùm xiềng xích
    Giải phóng toán dân và non nước thiêng liêng

    Không cách gì hơn biến tư duy thành sức mạnh trên đời
    Mà tư duy đã có sẳn hằng hà trong mỗi người dân Ấn độ
    Lòng yêu nước hòa chung vào lý trí
    Vậy là Mahatma Gandhi hùng dũng đứng đứng lên

    Sau bao năm tranh đấu cách nhiệt nồng
    Chỉ bằng có trái tim và bằng ngôn từ yên lặng
    Nhưng sức mạnh quả kinh hồn bạt vía
    Thực dân Anh đành xuống nước chịu hòa

    Chẳng súng gươm chẳng khẩu hiệu chói lòa
    Duy bất bạo động thôi nhưng ý chí hoàn toàn cương quyết
    Mahatma Gandhi đã lãnh đạo toàn dân đấu tranh quyết liệt
    Giành lại được tự do độc lập chẳng bao lâu

    Cho bản thân và cho cả giống nòi
    Thật bản lĩnh người anh hùng cứu quốc
    Nhân cách ấy như vì sao không bao giờ tắt
    Trên bầu trời quê hương và trên cả thế giới này

    Ôi Mahatma Gandhi thật khôn ngoan và anh dũng tuyệt vời
    Dùng sức mạnh để diệt tan sức mạnh
    Sức mạnh đó vô hình từ con tim khối óc
    Mà xua tan sức mạnh hữu hình vật chất của ngoại xâm

    MÂY NGÀN
    (26/101/5)

  3. Người Quan Sát says:

    “Tranh đấu giải quyết những xung đột bằng phương pháp bất bạo động tuy được cho là tốt hơn và hiệu quả hơn vì nó tránh làm tổn thương đối phương và thiệt hại xã hội nhưng vẫn bị môt số người công kích ” (trích).

    Tôi là một trong số những người CÔNG KÍCH.

    1) Những người chủ trương “bất bạo động” hiện nay không hẳn tránh bạo đông vì lý do đạo đức hay nhân đạo ( tránh tổn thương cho đối phương , làm thiệt hại cho xã hội) mà đơn giản vì, họ không thể bạo động được! Ai giúp họ vũ khí? Khả năng tài chánh để cung ứng cho các hoạt động từ đâu mà có?…Ai cho họ có chỗ để làm “chiến khu” từ đó làm bàn đạp…v.v..trong khi trào lưu cuả thế giới đang chống lại…”khủng bố” ,và ngoại trừ những nước hung đồ, thì sự chấp nhận nhau bất kể hình thái nào cuả các chế độ chính trị đang là một thực tế !

    2) Khi đưa ra những “hình mẫu” như Thụy sĩ, Bỉ, Pháp hoặc Mỹ, người ta quên rằng những nước này là những nước DÂN CHỦ, mọi xung đột, ngay cả giữa nhà nước và dân chúng đều được giải quyết bằng LUẬT PHÁP và… bất bạo động.

    3) Ấn Độ và Nam Phi ngày trước ở trong một tình trạng hoàn toàn khác biệt với VN hiện nay. Chính quyền là một chính quyền NGOẠI LẠI” (như ở Ấn), áp đăt do ngoại bang. Tuyệt đại đa số người dân ở phía chống lại, (ở cả Ấn lẫn Nam Phi), tạo cho những người lãnh đạo như Gandhi, Mandela có đủ lực để thách đố với chính quyền mà không sợ rơi vào “thiểu số” rồi tan rã. Trong khi đó chính quyền VN hiện nay “phát xuất ngay từ lòng dân” do một thời kỳ dài “hiểu lầm” về công cuộc “giải phóng đát nước thoát khỏi ngoại xâm” và nhất là, sau đó khi đã thiết lập được chính quyền, CSVN đã có đủ phương tiện, quyền lực để lừa dối, bưng bít và dùng bạo lực trấn áp làm nhụt nhuệ khí người dân. Hiện nay, ngoài 4 triệu đảng viên còn hàng chục triệu thân nhân họ đang dựa vào chính quyền thì lực lượng cuả chế độ tự nó đã đủ mạnh, cộng với những công cụ trấn áp như Công An, Toà Án, Nhà Tù. Như thế liệu có thể đem Ấn, Nam Phi ra làm “gương” ?

    4) Các chế độ CS Đông Âu sụp đổ không hẳn do tự thân các phong trào dân chủ làm được qua các cuộc bất bạo động. Trước tiên bộ mặt Liên Xô và các chế độ tay sai sau những cuộc can thiệp cuả LX vào Hung 1956, vào Tiệp 1968 hay cuộc tàn sát lực lượng Ba Lan trong thời kỳ thế chiến đã cho những người yêu nước thấy rõ bản chất cuả LX và các chế độ tay sai. Lúc đó thế giới cũng chia thành hai phe rõ rệt, dù nhiều dù ít, các lực lượng dân chủ ở các nước Đông Âu cũng có sự giúp đỡ mặt này hay mặt khác từ Mỹ và Tây Âu. Sự yếu kém về kinh tế và những nhược điểm cuả các chế độ CS (đang trong thoái trào), cộng vào đó là sự chia rẽ trầm trọng trong thế giới CS. LX, Trung Quốc kéo theo những nước đàn em tạo thành một sự phân hoá không thể hàn gắn làm phe CS ngày càng rệu rả. Không ngoa khi cho rằng các cuộc đình công, bất bạo động, bất tuân v.v…chỉ là cú hích đủ mạnh cuối cùng! Việt Nam hiện nay thì sao, tình hình có giống như Đông Âu những năm 1980, 90 cuả thế kỷ trước không, có đủ yếu tố cả trong lẫn ngoài trợ giúp cho “cuộc chiến BẤT BẠO ĐỘNG” thành công?

    Không cần nhắc lại tại sao chế độ CS VN lại cố bám vào Trung Cộng. Chỉ cần Trung Cộng thay đổi tới một giới hạn nào đó, chế độ CSVN hoặc phải thay đổi theo hoặc lúc đó chỉ cần một cuộc đình công lớn cỡ vài trăm ngàn người hay vài chục ngàn nhưng được diễn ra tại nhiều nơi thì tình hình đổi khác, nếu gặp sự đàn áp cuả cường quyền và MÁU ĐỔ, THỊT RƠI, thì chế độ CSVN càng chóng sụp đổ, và lúc đó hẳn là KHÔNG CẦN PHẢI THEO MỘT HỌC THUYẾT BẤT BẠO ĐỘNG NÀO, như những người “bất lực” đang rêu rao!

    Nhưng cho chắc ăn, hãy cứ sẵn sàng với vài ba “phương án”( bất bạo động cũng…OK), nhưng TUYỆT ĐỐI không tuyên bố trước kẻ thù: “chúng tôi chỉ… bất bạo động” !( các anh liêu mà quy hàng). Hehehe!

  4. Lão Ngoan Đồng says:

    Cám ơn thật nhiều về bài viết nhiều giá trị thức tế.
    Tranh đẫu cho dân chủ hoá VN đang đi theo con đường này.
    Tuy nhiên xin nói thật, trước kẻ thù gian ngoan hung hiểm như CS,
    con đường tranh đấu ôn hoà bất bạo động cần coi kỹ lại khi áp dụng nó.

    Ở Miến Điện nếu không có quốc tế can thiệp mạnh còn lâu mới thành công một chút.
    Mỹ và đồng minh đang o bế, dành cho CSVN nhiều ưu tiên, với mục đích lôi kéo chống Tàu.
    Mỗi nước có đặc thù riêng, khó mà có một khuôn mẫu nhất định cho từng nước ở từng thời kỳ.

    Cần có một tầng lớp trí thức dấn thân, nhiều kinh nghiệm chiến đấu, làm đầu tầu chống độc tài.
    Đồng thời cũng cần có đông đảo quần chúng giác ngộ cách mạng dân chủ dân sinh để ủng hộ,
    nhằm tạo nên một cao trào cách mạng, đánh đổ mọi bạo quyền như CS, đang cố nắm quyền lực.

    Tóm lại, đầu tiên nâng cao DÂN TRÍ, để tạo KHÍ THẾ cách mạng vững mạnh,
    liên tục tiến công kẻ thù ở MỌI MẶT (chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá xã hội),
    nhằm dành chiến thắng sau cùng: QUYỀN LỰC THẬT SỰ PHẢI VỀ TAY NHÂN DÂN !

    • Lão Ngoan Đồng says:

      Chỉ vì dân trí thấp cho nên không có chí khí, luôn luôn LO SỢ bị các bạo quyền đàn áp dã man, thô bạo … như bài xã luận dưới đây đăng trên Bauxite VN

      =======

      NỖI SỢ HÃI
      Nguyễn Công Kiểm

      “Điều quan trọng là người Việt Nam ở Việt Nam hiện nay ít quan tâm đến chính trị hơn hẳn ngày trước. … Chỉ có hiện nay người ta mới nguội lạnh trước số phận của đất nước. Nguội lạnh đến mức gần như vô cảm. Tại sao?… Có thể nói là họ sợ việc quần chúng quan tâm đến chính trị” ( Nguyễn Hưng Quốc).

      Vâng. TẠI SAO “người Việt Nam ở Việt Nam hiện nay ít quan tâm đến chính trị hơn hẳn ngày trước?”.

      Có lẽ vì hơn nửa thế kỷ đại đa số người Việt trong nước đã bị giam hãm luẩn quẩn tại nấc thứ hai trong năm bậc thang về nhu cầu tâm sinh lý loài người, mà theo Abraham Maslow gọi đó là nhu cầu của sự An toàn (safety).

      Để bảo vệ sự An toàn này của bản thân và gia đình tránh không bị “gây khó dễ”, bị “nhắc nhở”,”trù dập”, “đe doạ”, “hãm hại”, “bắt bớ”, “tù đày” người ta phải hành xử với cộng đồng sao cho phù hợp, sao cho bên ngoài giống với bên ngoài của mọi người khác . Người ta phải dồn nén để cho những tư tưởng, những suy nghĩ, những cảm xúc của mình không được bật ra cho người khác biết. Người ta phải im lặng, phải gắng gượng gật đầu, phải giả vờ giơ tay, phải gượng cười vỗ tay theo mọi người khác để ra vẻ đồng ý; phải giả vờ tán thành những cái được hô hào là “chân lý”, những điều mà ai ai cũng thấy rõ là không hợp đạo lý, là không đúng sự thật. Người ta phải dối trá, phải nói ngược lại với những gì mình tư duy.

      Cũng vì nhu cầu về sự An toàn này mà người ta cẩn thận và kín đáo dạy dỗ con cháu rằng muốn sống bình yên phải biết ” khôn ngoan” đừng động chạm đến chính trị, đừng biểu lộ tư tưởng của riêng mình mà chỉ lập lại những gì được dạy bảo …

      Và rồi cứ triền miên như vậy, nỗi ám ảnh truyền kiếp về nguy cơ bị tước đoạt mất sự An toàn trong cuộc sống này đã được truyền từ thế hệ ông bà cha mẹ sang thế hệ con cái cháu chắt. Cho đến một lúc người ta bị mất luôn cả khả năng nhận thức rõ ràng đây là một thảm trạng sa sút trầm trọng về nhân cách, về tinh thần trong đời sống của một Con người Tự do; rồi trong vô thức con người đã tự lừa dối mình và mọi người rằng đấy là “bình thường”, là “biết sống”, là “khôn ngoan”… Nhưng thật ra trong tiềm thức của con người đáng thương ấy lúc này vẫn còn ngấm ngầm sự xung đột âm ỉ giữa một khao khát muốn thoát khỏi ám ảnh của Nỗi sợ hãi để vươn đến tự do và một sự tự dối lừa chấp nhận thoả hiệp tiếp tục phải hèn hạ để thoả mãn nhu cầu An toàn.

      Đại đa số người Việt trong nước hiện nay, từ những người “chủ đất nước” nghèo khổ lương thiện cho đến những người “đầy tớ trung thành” “giàu có quyền lực”, tất cả đều là nạn nhân của Nỗi sợ hãi này. Tất cả đều là nạn nhân của một thứ “chủ nghĩa”. Đấy là số phận bi thảm của mỗi nạn nhân và đại thảm hoạ của cả dân tộc, bởi lẽ nền tảng của năm bậc thang trong sự thoả mãn nhu cầu tâm sinh lý này lại được xây dựng bằng Nỗi sợ hãi, bằng sự hèn hạ, bằng sự tham lam, độc ác…

      Thật đáng thương cho cả một dân tộc khi mà đại đa số đều bị giam hãm luẩn quẩn trong Nỗi sợ hãi triền miên tại bậc thang thứ hai này mà không thể vươn cao hơn nữa để đạt đến những điều thanh thoát, tuyệt vời hơn của nhân loại.

      Hậu quả là Nỗi sợ hãi truyền kiếp này đã vùi dập tinh thần con người xuống vực thẳm của sự hèn nhát hoặc là khi Nỗi sợ hãi đến tột cùng sẽ thổi bùng lên ngọn lửa khao khát được tự do giải thoát bằng sự chống đối, phá phách… Quả thật đấy là nỗi buồn lịch sử, một thảm hoạ của cả dân tộc.

      Khi Ta cởi trói giải thoát cho đồng loại khỏi ngục tù của Nỗi sợ hãi, thì khi đó chính Ta cũng đã tự giải thoát cho mình khỏi thảm hoạ lịch sử của cả dân tộc đó.

      N.C.K.

    • Lão Ngoan Đồng says:

      Chỉ vì dân trí thấp cho nên không có chí khí, luôn luôn LO SỢ bị các bạo quyền đàn áp dã man, thô bạo … như bài xã luận dưới đây đăng trên Bauxite VN.

      Cũng như QUỖC HÔI, theo hiến pháp là cơ quan quyền lực cao nhất, có nhiệm vụ làm ra luật, và giám sát chính quyền …, nhưng lại bị đảng CS kiểm soát chặt chẽ, không sao thực hiện trọng trách mà dân giáo phó, nên nghị sĩ quốc hội trở thành nghị gật.
      Một phần là do hơn 90 % nghị sĩ là đảng viên CS cốt cán; mặt khác do kỹ thuật tổ chức kém, họp định kỳ kéo dài lâu (một tháng và một năm hai lần họp) và với chương trình nghị sự cứng nhắc sắp đặt trước. Nhưng thực ra tất cả nghị viên, đều không có đảm lược, hèn nhát, bởi biết rất rõ mình không có thực quyền khi được bầu vào quốc hội, nhưng vẫn cố đấm ăn sôi, hay do sợ không dám phản kháng khi được đảng CS chỉ định phải tham gia ứng cử vào quốc hội.

      =======

      NỖI SỢ HÃI
      Nguyễn Công Kiểm

      “Điều quan trọng là người Việt Nam ở Việt Nam hiện nay ít quan tâm đến chính trị hơn hẳn ngày trước. … Chỉ có hiện nay người ta mới nguội lạnh trước số phận của đất nước. Nguội lạnh đến mức gần như vô cảm. Tại sao?… Có thể nói là họ sợ việc quần chúng quan tâm đến chính trị” ( Nguyễn Hưng Quốc).

      Vâng. TẠI SAO “người Việt Nam ở Việt Nam hiện nay ít quan tâm đến chính trị hơn hẳn ngày trước?”.

      Có lẽ vì hơn nửa thế kỷ đại đa số người Việt trong nước đã bị giam hãm luẩn quẩn tại nấc thứ hai trong năm bậc thang về nhu cầu tâm sinh lý loài người, mà theo Abraham Maslow gọi đó là nhu cầu của sự An toàn (safety).

      Để bảo vệ sự An toàn này của bản thân và gia đình tránh không bị “gây khó dễ”, bị “nhắc nhở”,”trù dập”, “đe doạ”, “hãm hại”, “bắt bớ”, “tù đày” người ta phải hành xử với cộng đồng sao cho phù hợp, sao cho bên ngoài giống với bên ngoài của mọi người khác . Người ta phải dồn nén để cho những tư tưởng, những suy nghĩ, những cảm xúc của mình không được bật ra cho người khác biết. Người ta phải im lặng, phải gắng gượng gật đầu, phải giả vờ giơ tay, phải gượng cười vỗ tay theo mọi người khác để ra vẻ đồng ý; phải giả vờ tán thành những cái được hô hào là “chân lý”, những điều mà ai ai cũng thấy rõ là không hợp đạo lý, là không đúng sự thật. Người ta phải dối trá, phải nói ngược lại với những gì mình tư duy.

      Cũng vì nhu cầu về sự An toàn này mà người ta cẩn thận và kín đáo dạy dỗ con cháu rằng muốn sống bình yên phải biết ” khôn ngoan” đừng động chạm đến chính trị, đừng biểu lộ tư tưởng của riêng mình mà chỉ lập lại những gì được dạy bảo …

      Và rồi cứ triền miên như vậy, nỗi ám ảnh truyền kiếp về nguy cơ bị tước đoạt mất sự An toàn trong cuộc sống này đã được truyền từ thế hệ ông bà cha mẹ sang thế hệ con cái cháu chắt. Cho đến một lúc người ta bị mất luôn cả khả năng nhận thức rõ ràng đây là một thảm trạng sa sút trầm trọng về nhân cách, về tinh thần trong đời sống của một Con người Tự do; rồi trong vô thức con người đã tự lừa dối mình và mọi người rằng đấy là “bình thường”, là “biết sống”, là “khôn ngoan”… Nhưng thật ra trong tiềm thức của con người đáng thương ấy lúc này vẫn còn ngấm ngầm sự xung đột âm ỉ giữa một khao khát muốn thoát khỏi ám ảnh của Nỗi sợ hãi để vươn đến tự do và một sự tự dối lừa chấp nhận thoả hiệp tiếp tục phải hèn hạ để thoả mãn nhu cầu An toàn.

      Đại đa số người Việt trong nước hiện nay, từ những người “chủ đất nước” nghèo khổ lương thiện cho đến những người “đầy tớ trung thành” “giàu có quyền lực”, tất cả đều là nạn nhân của Nỗi sợ hãi này. Tất cả đều là nạn nhân của một thứ “chủ nghĩa”. Đấy là số phận bi thảm của mỗi nạn nhân và đại thảm hoạ của cả dân tộc, bởi lẽ nền tảng của năm bậc thang trong sự thoả mãn nhu cầu tâm sinh lý này lại được xây dựng bằng Nỗi sợ hãi, bằng sự hèn hạ, bằng sự tham lam, độc ác…

      Thật đáng thương cho cả một dân tộc khi mà đại đa số đều bị giam hãm luẩn quẩn trong Nỗi sợ hãi triền miên tại bậc thang thứ hai này mà không thể vươn cao hơn nữa để đạt đến những điều thanh thoát, tuyệt vời hơn của nhân loại.

      Hậu quả là Nỗi sợ hãi truyền kiếp này đã vùi dập tinh thần con người xuống vực thẳm của sự hèn nhát hoặc là khi Nỗi sợ hãi đến tột cùng sẽ thổi bùng lên ngọn lửa khao khát được tự do giải thoát bằng sự chống đối, phá phách… Quả thật đấy là nỗi buồn lịch sử, một thảm hoạ của cả dân tộc.

      Khi Ta cởi trói giải thoát cho đồng loại khỏi ngục tù của Nỗi sợ hãi, thì khi đó chính Ta cũng đã tự giải thoát cho mình khỏi thảm hoạ lịch sử của cả dân tộc đó.

      N.C.K.

      =====

      Bài phỏng vấn rẩt hay, xin trân trọng giới thiệu.

      http://www.bbc.com/vietnamese/multimedia/2015/10/151023_buivanbong_quochoi_va_dang1

      ‘Nói Đảng giám sát Quốc hội mới đúng’
      23 tháng 10 2015 Cập nhật lúc 19:51 ICT
      Vai trò của Đại biểu Quốc hội Việt Nam vẫn ‘quá mờ nhạt’ và trên thực tế quyền lực của Quốc hội bị Đảng Cộng sản ‘giám sát’ chứ không phải là Quốc hội giám sát quyền lực của Đảng, của nhà nước, đó là quan điểm của một nhà báo, cựu Trưởng Đại diện báo Quân đội Nhân dân Việt Nam ở Đồng bằng sông Cửu Long.
      Trao đổi với BBC hôm 22/10/2015, nhân dịp phiên họp thứ 10, Quốc hội Việt Nam khóa 13 khai mạc và đang diễn ra tuần này, từ Cần Thơ, Đại tá Bùi Văn Bồng nói:
      “Một điều băn khoăn của cử tri lâu nay là vai trò của Đại biểu Quốc hội quá mờ nhạt, lần này kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XIII trong chương trình nghị sự có bàn đến vấn đề vai trò giám sát của Quốc hội.
      “Bàn thì cứ bàn vậy thôi, chứ từ lâu nay đúng ra mà nói với thể chế ở Việt Nam thì Đảng giám sát Quốc hội đúng hơn là Quốc hội giám sát Đảng và nhà nước,” Đại tá, nhà báo và blogger Bùi Văn Bồng nói với BBC.

      Hôm 22/10/2015, Đại tá Bùi Văn Bồng, nguyên trưởng Đại diện Báo Quân đội Nhân dân của Việt Nam tại Đồng Bằng Sông Cửu Long đưa ra bình luận với BBC:
      “Quốc hội họp ít khi, ở Việt Nam, lại căn cứ vào thời sự chính trị trong nước và thế giới để mà đặt ra vấn đề gì đó cần họp. Quốc hội Việt Nam họp theo kế hoạch, theo quy trình và nội dung đã vạch sẵn, cho nên nó không đáp ứng được nhu cầu.
      “Ví dụ bây giờ chuẩn bị Đại hội Đảng thì Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất thì phải đứng ra ai làm Chủ tịch, ai làm Thủ tướng, ai làm Bộ trưởng này kia, các thứ, ai làm Chánh án Tòa án Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát tối cao là phải dự trù trước và Quốc hội phải quyết trước đi.
      “Sau đó Đảng mới dựa theo cái quyết đó của Quốc hội mà đưa vào Chương trình của Đảng để mà bầu nhân sự, thì quy trình đúng ra đi như thế mới là quy trình của dân chủ.
      “Quốc hội không bàn vấn đề đó vì Đảng không chỉ đạo Quốc hội bàn. Bởi việc đó là việc của Đảng, Quốc hội chỉ biết chấp hành và tuân theo những gì Đảng đã chỉ đạo, đã lãnh đạo và nội dung đã được đảng duyệt, thì Quốc hội bàn theo nội dung đó.
      “Cho nên chuyện thời sự chính trị rồi chuẩn bị cho Đại hội Đảng, Quốc hội hầu như không có quyền bàn đến vấn đề đó, chỉ rõ đó là việc của Đảng. Đảng chỉ đạo sao và làm sao là việc của Đảng.”
      “Đúng ra mà nói, Quốc hội phải đại diện cho cơ quan dân cử, dân bầu, đại diện cho cử tri, cơ quan quyền lực cao nhất, thì Quốc hội phải đứng ra để bầu trước, hoặc là dự kiến cũng được, các nhân sự sắp tới của Đại hội sắp tới, các nhân sự cơ bản, quan trọng.
      “Riêng về Tổng Bí thư thì việc của Đảng, nhưng các vị trí khác, thì Quốc hội có quyền đề xuất, dự kiến, nhưng Quốc hội Việt Nam không làm thế được.
      “Bởi vì Đảng không chỉ đạo thì không được làm,” Đại tá Bùi Văn Bồng nêu quan điểm.
      Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang từ Hà Nội cho rằng Quốc hội đã không thực hiện được một chức năng, vài trò quan trọng mà theo ông là giám sát quyền lực của nhà nước và Đảng Cộng sản.
      Ông nói: “Quốc hội cũng chỉ râu ria, loanh quanh, luẩn quẩn chuyện xây dựng bộ pháp luật này, pháp luật kia.
      “Tất nhiên việc đó là việc cần thiết, nhưng ngoài ra có chức năng của Quốc hội phải giám sát.
      “Giám sát công việc của nhà nước, thậm chí là công việc của Đảng, thì Quốc hội hầu như không làm được gì cả.
      “Có những vấn đề hệ trọng hết sức đối với dân, với nước, ví dụ như vấn đề Trung Quốc xâm lấn Biển Đông và nguy cơ Trung Quốc phá nát nền kinh tế Việt Nam, Quốc hội không bao giờ bàn đến những vấn đề vĩ mô ấy.”

Phản hồi