|

Diện mạo văn hóa, văn học miền Nam trong những tình thế cực đoan lại là nơi hội tụ của bốn dòng chảy văn hóa-văn học [kết]

Tiếp theo phần trước

 

 

Về mặt báo chí

Sự có mặt của các nhà báo, phóng viên, các người làm truyền thông từ miền Bắc di cư vào miền Nam là một thách thức lớn lao đối với cá nhân và sự nghiệp của chính họ.

Điều trước tiên là họ không hoặc chưa có độc giả-. Trong Nam, người ta quen với văn phong của Bà Tùng Long và cách làm báo của bà Bút Trà rồi. Báo Sài Gòn Mới ra mỗi ngày 65.000 ngàn số, rồi còn Tiếng Chuông, 60.000 số, tiếp theo là Tin Điển, Tiếng Dội, Buổi Sáng, Thời Cuộc, Ánh Sáng, Lẽ Sống..

Không có độc giả, báo di cư lúc đầu lèo tèo bán được mười lăm đến 20 ngàn số đã là quý rồi. Đó là hoàn cảnh các báo Ngôn Luận của Hồ Anh, Tự Do của Phạm Việt Tuyền lúc đầu. Nhưng đến khi báo Sống của Chu Tử, tức Chu Văn Bình)- tác giả của các tác phẩm như  YêuGhét-. Ông nổi tiếng với mục Ao Thả Vịt. Và ông cũng là người đưa truyện dài Loan Mắt Nhung của Nguyễn Thụy Long ra trình làng.

Báo Sống của Chu Tử xuất hiện như một thứ nổi loạn thành công ngay từ đầ và đã tự tạo cho mình một phong cách làm báo riêng.- Đó là Phong cách Chu Tử- và nó có một số độc giả phần lớn ở Sài Gòn vượt mọi con số.

Chính Luận của bác sĩ Đăng Văn Sung thì đã chững chạc, uy tín lắm rồi về mặt tin tức và bình luận chính trị mà thường các báo chí khác ở Sài Gòn thường coi nhẹ..

Đây là một khúc quanh khá quan trọng trong làng báo Sài Gòn. Chính Luận tránh đưa những loại tin giật gân và nhảm nhí. Uy tín ấy nay nằm trong các tin tức bình luận chính trị sắc bén thay vì các tin tức nhảm nhí, bịa đặt.

Rồi điều thứ hai dân làm báo Bắc Kỳ chưa tạo được tên tuổi-. Tên tuổi ở miền Bắc thì có thể có- như trường hợp  Tam Lang, Vũ Bằng, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Lê Văn Trương, Thượng Sĩ, Trực Ngôn.

Nhưng tên tuổi ở trong Nam lại là một chuyện khác. Họ phải tự ngoi lên.

Những tên tuổi như Tam Lang, Vũ Bằng, nhất là Lê Văn Trương chẳng mấy chốc lu mờ đi nhường chỗ cho Sức Mấy, Hiếu Chân, Dương Hùng Cường hay Dê Húc Càn, Thần Đăng, Công Tử Hà Đông, Gã Thâm (hai bút hiệu của Hoàng Hải thủy), Thợ đấu Hoàng Anh Tuấn và đặc biệt nhất là Duyên Anh.

Nguyễn Thụy Long- tiêu biểu cho số phận một nhà báo long đong, cơ cực nhất, vào tù ra khám, lúc làm culy ở kho 5 Khánh Hội, lúc làm thợ hồ. Chỉ đến khi Chu Tử ra báo Sống, sau  1963 đã thu nhận ông. Trong hồi ký ông viết: ông run lên vì nhận được số tiền nhuận bút đấu tiên, từ đó đời ông mới khấm khá lên được.

Rồi đến Duyên Anh cũng có lúc ba chìm bảy nổi- nhưng không đến nỗi long đong như Nguyễn Thụy Long-, ông đã gây được sự nghiệp làm báo với nhiều bút hiệu như  Thương Sinh, Nã Cẩu, Bếp Lửa. Nhưng bút hiệu Thương Sinh quen thuộc hơn khi ông ra tờ Con Ong.[1]

Xem Duyên Anh và tôi,  Vũ Trung Hiên, 2000

Nếu Nguyễn Thụy Long may mắn gặp được Chu Tử với bào Sống, thì Duyên Anh cũng may mắn khi về cộng tác với tờ Xây Dựng của linh mục Nguyễn Quang Lãm, bút hiệu Thiên Hổ.

Duyên Anh (1935-1997)

Duyên Anh (1935-1997)

Truyện ngắn đầu tay Duyên Anh là Hoa Thiên Lý và Con sáo của em tôi đăng trên tờ Chỉ Đạo của Nguyễn Mạnh Côn đã chinh phục được lứa tuổi nhi đồng bấy giờ cũng như những truyện khác của ông sau này.

Ngoài Nhật Tiến viết về các thiếu nhi bất hạnh còn có Lê Tất Điều. Nhưng Duyên Anh có thể nói là một nhà văn viết dành cho tuổi trẻ. Thế giới của tuổi nhi đồng  trong truyện của Nhật Tiến thường gặp nhiều bất hạnh. Trong khi thế giới trong truyện của Duyên Anh là một thế giới vui tươi, nghịch phá. Thế mới là tuổ trẻ. Vio2 thế, những truyện thiếu nhi  của ông được nhiều thanh thiếu niên tìm đọc. Trội vượt hơn cả là các cuốn Luật hè phố, Thằng Vũ, Bồn Lừa, Thằng Côn vv..

Nhưng Duyên Anh còn nổi tiếng- như một thứ vua không ngai- trong các phóng sự mang tính châm chọc, chửi  bới đủ hạng người trong xã hộii và gây nhiêu thù oán với những bài viết phóng sự như Tiền Mẽo, Sến Việt, Đầm Giao Chĩ.. Ông chế ra nhiều chữ, chửi ai thì người đó chỉ có chết. Tỉ dụ chửi tác giả Cậu Chó, ký tên Trần Đức Lai của ông Tô Văn. Tô Văn tên thật là Bùi Bá Nhân, Thương Sinh đổi ra là Bùi bất Nhân..

Khen ai cũng hết lòng khi gọi  Phạm Kim Vinh, tức Trương Tử Phòng, bình luận gia của báo Chính Luận là quân tử. Cũng đúng chừ không phải là sai. Những Trần Kim Tuyến, Ngô Đình Diệm thì đều có trong mắt của Duyên Anh. Ông trân trọng cả hai. Điề đó cũng đúng cả.

Khi ông làm phòng viên cho tờ Xây Dựng đi dự phiên tòa xử Đặng Sỹ, ông thấy rõ  việc dàn dựng của Trí Quang trong việc này. Ít báo nào dám lên tiếng. Ông ghi nhận và những ghi nhận của ông trong phiên tòa được giao cho một người viết ký tên Lê Thương Hòa. Lê Thương Hòa là ai? Theo Duyên Anh tiết lộ chính là Trần Kim Tuyến.

Cuộc đời Duyên Anh lúc cuối đời gặp rất nhiều truân chuyên, oan trái từ đi tù cải tạo đến bị đánh oan và gia đình gặp nhiều lủng củng..

Vài dòng ghi nhận vắn tắt về ông như một chứng nhân đặc biệt của nhà báo di cư vào miền Nam.

Trước cuộc di cư, làng báo Sài Gòn bị cộng sản trà trộn, chi phối. Đó là cái khó khăn thứ ba.

Đó cũng là một thử thách thêm nữa cho các nhà làm báo di cư phía Bắc.

Một trong những vết đen của làng báo Nam Kỳ là là có sự thả lỏng cho sự xâm nhập của cộng sản vào trong các tòa doạn.

Quả thực, họ đãng lũng đoạn nhiều tờ báo mà nhiều khi chủ nhiệm chủ bút không biết.

Các tờ báo trong Nam một cách nào đó đã bị chi phối bởi cộng sản qua những nhân vật chủ chốt như Trần Bạch Đằng, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Văn Linh và Mai Văn Bộ. Ngoài ra hầu như báo nào cũng bị  chi phối xâm nhập như các tờ Dân Chúng, Sài Gòn mới và sau đó là các tờ Tiếng Dội, Trời Nam, Lẽ Sống, Buổi Sángvv..

Điều tai hại là ngay một số số ký giả lão thành có uy tín như Nam Đình, Nguyễn Ang Ca, Trần tấn Quốc cũng ngả theo cộng sản.

Cho nên, ngay khi vừa chấp chánh thì chính quyền của Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã đóng cửa ngay lập tức tờ Thần Chung của Nam Đình.

Ngày nay nhìn lại, phải nhìn nhận là các tờ báo này thiếu nhạy bén về chính trị, chú trọng nhiều vào phạm vi thương mại nên phần đông đều có bọn ký giả nằm vùng theo cộng sản  xâm nhập. Triệu Công Minh len lỏi vào báo Tiếng Dội, Trường Xuân Trúc vào báo Dân Chúng, Nam  Thanh, báo Lẽ Sống, Đồng Văn Nam, Phương Ngọc, Phan Ba, báo Buổi Sáng, Trần Thanh Thế, Văn Mạnh, báo Sài Gòn mới, Nguyễn Văn Hiếu, báo Tiếng Chuông.. Cộng thêm một số ký giả kỳ cựu và nghệ sĩ cải lương cũng theo cộng sản như Các ông Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang, Nguyễn Tích Dẫn, Nguyễn Huy, Hồ Văn trai, Sơn Tùng, Phong Đạm, Quốc Phượng, Hoài Trinh,  đạo diễn Lê Dân và Mai Thế Đồng, nhà văn Thẩm Thệ Hà, Nguyễn Bảo Hóa. Các cán bộ trí vận như  Nguyễn Văn Chì, Trần Văn Hanh, Nguyễn Trường Cửu, Cổ Tấn Văn, Bùi Đức Tịnh, Hồ Văn Trai..

Cộng chung, trên dưới  cũng 40-50 chục người.

[2]Đọc Địa Chí Văn Hóa, thành phố Hồ Chí Minh, trang 600-604.

Sự xâm nhập của cộng sản vào làng báo Nam Kỳ là điều khó kiểm soát cho các vị chủ báo như ông Đinh Văn Khai, báo Tiếng Chuông hay bà Bút Trà, bào Sài Gòn mới vv..

Ngay cả những tờ báo sau này do người Bắc di cư làm chủ báo cũng bị cộng sản cài người vào như trường hợp ký giả Thành Hương vào báo Dân Chủ của ông Vũ Ngọc Các, Châu Dương vào báo Ngôn Luận của ông Hồ Anh, Ty Ca vào tờ Sài Gòn Mai của ông Ngô  Quân, Ký Ninh vào tờ Thời Luận của ông Nghiêm Xuân Thiện, Nam Đình vào tờ Dân Chủ Mới.

Việc kiểm soát càng trở nên khó khăn khi làng báo quy tụ một số lớn các nhà báo thuộc đủ thành phần, đủ nguồn gốc như cựu kháng chiến, kháng chiến về thành, di cư mới vào. Làm thế nào để phân biệt dứt khoát ai là thân cộng, ai chống cộng. Làm thế nào xác định, đánh giá được Văn Bia, Bình Nguyên Lộc, Kiên Giang Hà Huy Hà, Hiếu Đệ, Nguyễn Ang Ca, Sơn Nam? .. hay những tên tuổi như Đỗ Tấn, Vũ Hạnh, Đông Tùng..

Ngay giữa Sài Gòn nhởn nhơ những người ngả theo cộng sản như Sơn Nam, Vũ Hạnh. Họ là bạn bè của những Thanh Lãng, Nhật Tiến, Nguyễn Tường Tam. Bên cạnh họ là những nhà báo chống cộng sản như Từ Chung, Sức Mấy, Chu Tử…

Tất nhiên chính quyền không thể không nghĩ tới tình thế nan giải trên và đã bày tỏ nỗi ưu tư đó bằng cách đưa ra 7 Nghị định về xuất bản và kiểm duyệt báo chí từ ngày 7-7-1954- ngay ngày đầu tiên chấp chính của thủ tướng Ngô Đình Diệm.

Và chỉ ba tuần sau, chính phủ Ngô Đình Diệm phải đương đầu sự khuấy rối của cộng sản qua Phong Trào Bảo vệ Hòa Bình tổ chức mít tinh ngay tại chợ Bến Thành, ngày 1-8-1954. Kẻ đứng làm bình phong là kỹ sư Lưu Văn Lang mà đằng sau ông ta là những cán bộ cộng sản như Phạm Huy Thông, Nguyễn Thị Châu Sa(về sau đổi tên là Nguyễn Thị Bình), Nguyễn Bảo Hóa tức ký giả Tô Nguyệt Đình và những trí thức như Nguyễn Hữu Thọ, nhà sư Thích Huệ Quảng, dược sĩ Trần Kim Quan, ký giả Nguyễn Thị Lựu, Giám điốc Pháp Hoa ngân hàng Nguyễn Văn Vỹ, tức Michel Vi Van.

Chính quyền phản ứng bằng cách băt giam 28 người cầm đầu Phong trào này. Nhưng cuối cùng do Ủy Hội Quốc tế can thiệp, chỉ có hai người bị đưa ra Bắc.

Trong số những ký giả trên, chính quyền VNCH ra lệnh bắt hàng loạt ký giả của nhiều tờ báo như Trần Ngọc Sơn, Anh Tín, Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang, Diệp Liên Anh, Trần Quốc Thảo.. đã bị đưa đi các trại tù ở Tân Hiệp, Biên Hoàn hoặc đầy ra Côn Đảo.

Có những biện pháp nhẹ hơn như nhóm Chân Trời Mới của bộ ba Tam Ích, Thiên Giang, Thê Húc phải tự ý đình bản đồng thời tuần báo Cải Tạo vốn do một ký giả miền Bắc di cư vào- ký giả Phạm Văn Thụ bị thu hồi giấy phép vì trao cho nhóm Hoàng Trọng Miên( điều hành tòa soạn. Riêng tờ Nhân Loại, nơi tập trung nhiều ký giả cộng sản thuộc hàng ngũ kháng chiến hoặc thiên tả.[3]

Nguyễn Văn Lục, Hai mươi năm miền Nam, 1955-1975, các trang 443-446

Trong một tình trạng bị cộng sản giật dây chi phối, lũng đoạn, vai trò của các phóng viên, nhà báo di cư trở thành một thứ Mặt trận với cộng sản nhằm tranh đấu loại bỏ ảnh hưởng của cộng sản và tranh đấu cho Tự do, dân chủ.

Nhưng chỉ một thời gian ngắn, các nhà báo miền Bắc, với ngòi bút phần lớn sắc bén về chính trị dần dần tạo dựng được tên tuổi, tạo dựng được uy tín nơi các độc giả di cư và ngay cả độc giả gốc miền Nam..

Những tờ báo đi đầu trong giai đoạn này là tờ báo Tự Do với bác sĩ Lý Trung Dung và nhóm sáng lập bị loại ra ngoài như các ông Tam Lang Vũ Đình Chí, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong, Nguyễn Hoạt để thay thế bằng nhà giáo Phạm Việt Tuyền đứng chủ nhệm.(Sau này, Nguyễn Hoạt cay cú và chỉ trích, nói xấu chế độ đệ nhất cộng hòa cũng như nói xấuTrần Kim Tuyến).

Tờ Tự Do lúc ấy được coi là tiêu biểu nhất cho các văn nhà báo thuộc diện di cư với các cây bút như Tam Lang, Hiếu Chân, Vũ Bình, Bùi Xuân Uyên, Như Phong Mai Nguyệt ( tức Tchya Đái Đức Tuấn), Hà Thượng Nhân.

Tiếp theo là tờ Ngôn Luận

Tiếp theo là các tờ Chính Luận, Dân Đen, rồi Xây Dựng, Hòa Bình, Tiền Tuyến Sống, và tờ Sóng Thần..

Nhiều nhà báo từ ngoài Bắc vào- tùy theo tuổi tác và kinh nghiệm nghề nghiệp- đã được đồng hóa vào sĩ quan quân đội để tiện nắm những chức vụ chỉ huy các cơ quan truyền thông đủ loại. Như trường hợp nhà báo Hà Thượng Nhân được biệt cách mang lon thiếu tá để làm việc.. Đã có rất nhiều những cây bút trở thành những ngòi bút tranh đấu như người lính ngoài mặt trận. Họ là những người  như Hà Thượng Nhân, Dương Hùng Cường hay Dê Húc Càn, Sức Mấy, Hiếu Chân, Minh Võ, Từ Chung, Chu Tử vvVà nhiều ký giả trở thành mục tiêu cho cộng sán ám hại.

Rất tiếc là vào những năm cuối của chế độ đệ nhất cộng hòa phải lo đối phó với các thành phần đối lập nhất là bận tâm trước phong trào Phật giáo Ấn Quang..

Vai trò chống cộng sản bị tạm thời sao lãng. Mối ưu tư của chính quyền về hiểm họa cộng sản chuyển hướng qua sự lo âu về các hoạt động đối lập.

Thay vì chống Cộng nay phải lo chống đối lập, chống những người biểu tình. Phần một số nhà báo cũng bắt đầu quay ra chống chính phủ. Trước chống cộng nay chống chính quyền.

Và không có gì lạ sau 1963, tất cả những thành tích đạt được của các nhà báo chống cộng sản cũng như của chính quyền đã bị xóa hết mọi kết quả thâu được trong suốt 9 năm trước về mức kìm giữ được sự xâm nhập của cộng sản.

Sau 1963 là thời cơ của cộng sản đẩy mọi hoạt động khuynh đảo, khuấy rối thuộc đủ thành phần do cộng sản giật giây.. Nhiều lúc, chính quyền tỏ ra không còn có khả năng kiểm soát nổi trật tự ở ngay Sài Gòn.

Hầu như có một mặt trận ở ngoài trận địa với bom đạn và một thứ mặt trận với hàng rào kẽm gai, lựu đan cay và người biểu tình. Làm sao chúng ta không thua được?

Và mặc dù có một số tờ báo vẫn đứng vững, trụ chân làm thế chống đối bạo quyền cộng sản và bảo vệ miền Nam như các tờ Tin Sáng (do Lý Đại Nguyên đứng tên chủ nhiệm), Chính Luận, Sống, Đuốc Nhà Nam và Xây Dựng…Liệu những con én trên có làm nổi nên một mùa xuân không?

Sự chống đối lên đến cực điểm giữa chính quyền và tờ Sóng Thần, chống tham nhũng, tờ báo có lúc số phát hành theo Uyên Thao lên tới 200.000 số.

Bên cạnh đó chính quyền đệ nhị cộng hòa lại không quan tâm cho đủ đến  một tờ tạp chí Tin Văn,- một tờ do Nguyễn Nguyên- một cán bộ cộng sản được cử vào Nam từ 1954- Tờ báo quy tụ nhiều ký giả nằm vùng như bà Minh Quân, Vũ Hạnh, Kiên Giang, Sơn Nam, Thẩm Thệ Hà, Thanh Việt Sơn, Phan Du, Đông Tùng ( Nguỹn Văn Bồng), Lương Sơn, Hướng Dương tức Rum Bảo Việt hay Sáu Chiến ủy viên đảng ủy văn hóa.. Ngoài ra còn có sự cộng tác của một số khuôn mặt nằm vùng theo MTGPMN như Lữ Phương, Thái Bạch và kéo theo được một số người khác như Nguyễn Hiến Lê, Á Nam Trần Tuần Khải, họa sĩ Tú Duyên, Nguyễn Đức Quỳnh, Trọng Lang, Thạch Chuong tức nhạc sĩ Cung Tiến, vv..

Qua Tin văn, Vũ Hạnh, Lữ Phương, Nguyễn Trọng Văn đã đánh phá các nhà báo như Chu Tử suốt từ 1966-1971. Riêng Phạm Duy bị Nguyễn Trọng Văn viết hẳn một cuốn sách nhan đề: Phạm Duy đã chết như thế nào ? vào năm 1971, do Văn Mới xuất bản..

Tin Văn đã đạt được một kết quả là vận động, lôi cuốn được 118 văn nhân, nghệ sĩ ký giả.. đồng ký tên vào bản Tuyên Ngôn chống Văn Nghệ đồi trụy để kết án tòan bộ sinh hoạt văn học nghệ thuật  miền Nam..

Sau luật 007 được ban hành thì phần thắng nghiêng hẳn về phía cộng sản.

Hai tờ Điện TínBút Thép, ký giả Lê Hiền, người của cộng cài vào trực tiếp chi phối tờ báo. Còn lại một số tờ khác như Sài Gòn Mới, Dân Luận, Hòa Bình, Độc Lập nặng về phần kinh doanh hơn là chống cộng sản..

Còn lại tờ Đại Dân Tộc, Đông Phương thì người điều khiển tờ báo là một cán bộ cộng sản—ký giả Tô Nguyệt Đình, tức Nguyễn Bảo Hóa- từng bị bắt giam thời đệ nhất cộng hòa.

Nhìn lại cuộc tranh đấu xuống đường của nhật báo Sóng Thần với Ngày Ký giả đi ăn mày vào màn chót của  miền Nam Việt Nam.. Tôi vẫn nghĩ là nó mang giá trị lưỡng tính của một chọn lựa: Hoặc chọn lựa giữa tranh đấu dân chủ, tự do báo chí  hay là chọn lựa tranh đấu chống cộng sản?

Không lạ gì, cộng sản rêu rao về cái ngày đó như một thành tích của chính họ..

Về mặt Văn Học

Trí thức, nhà văn miền Bắc khi chọn di cư vào miền Nam đều có một mẫu số chung: chọn tự do.  Tự do là lẽ sống và là lý do chính yếu để họ rời khỏi miền Bắc. 9 năm liên hệ, đối đầu với cộng sản đủ để họ hiểu thực chất người cộng sản là gì.

Khi bước chân vào miền Nam, các nhà văn, nhà thơ trẻ của miền Bắc đều có một thái độ chính trị rõ rệt, dứt khoát qua các bài viết trên tờ Người Việt( tiền thân của Sáng Tạo) như:

-  Hòa bình và Hội Nghị Geneve

- Phải bảo vệ nền độc lập văn hóa

- Thực chất văn nghệ cộng sản

-  Văn Nghệ và cách mạng

- Chủ nghĩa Mác với văn Ngệ Việt Nam

-  Vấn đề giai cấp xã hội

- Nhân sinh quan của người Việt.

Và nếu họ có viết truyện thì truyện cũng mang vóc dáng chính trị. Hà Nội qua tác giả Trần Trọng Đăng Đàn gọi đó là một đường lối chiến lược của Mỹ Diệm. Chẳng hạn truyện ngắn: Người bệnh giữa mùa xuân của Thanh Tâm Tuyền, Đêm giã từ Hà Nội, Góc đường Tự Do, Đồn Phòng Ngự 21 của Mai Thảo. Hay truyện Gánh Xiếc của Doãn Quốc Sỹ rõ ràng ám chỉ cộng sản..Sau này Tô Hoài có quen biết Doãn Quốc Sỹ tự hỏi Cách mạng có nợ tiền, nợ máu gì với cái gia đình công chức quèn là nghề giấy, thế mà sao Doãn Quốc Sỹ chửi cộng sản hăng thế..[4]

Trích: Thanh Tâm Tuyền và những người bạn trước khi có tạp chí Sáng Tạo, Hợp Lưu tháng 8-9, 2010,  Dương Nghiễm Mậu, trang 33

Hay trường hợp Võ Phiến với Người Tù, Mưa đêm cuối nămvv..

Thời gian 1954-1955 là thời kỳ khởi sắc, đầy sinh khí của văn học miền Nam. Cả một thế hệ văn học sau tiền chiến bùng phát. Hầu như tất cả đều sắn tay áo, sẵn sàng lên đường với bầu nhiệt huyết tuổi trẻ. Hết Sáng Tạo, rồi Bách Khoa, Hiện Đại, Thế kỷ Hai Mươi, Văn Nghệ, Khởi Hành, Văn vv..

Họ viết hăng. Viết với tin tưởng. Viết mạnh. Viết với sáng tạo. Viết với tìm tòi. Họ- nhất là Mai Thảo- hầu như được coi như hướng đi của văn nghệ miền Nam lúc bấy giờ. Và điều quan trọng nhất nơi họ. Đó là họ tạo ra một niềm phấn khởi như Mai Thảo từng viết: Đem ngọn lửa Văn hóa vượt vĩ tuyến sáng lên ở đây hôm nay.

Năm 19545 còn ghi lại, chói lói, cái đẹp ấy của mùa mới, cái đẹp ấy của lên đường. Ta từng đi chật đất. Ta từng có lớp lớp. Ta từng đến hàng hàng. Những khởi đầu của từng hoạt động văn học, từng phát động nghệ thuật nói chung của ta tuyệt đúng, tuyệt đẹp.

Sự hứng khởi ấy chắc hẳn lây lan sang các tác giả khác như Vũ Hoàng Chương.  Như Nhất Linh quyết định hạ sơn, chiêu tập lại nhân tài lại làm báo và gây được những ấn tượng mạnh nơi các người thanh niên trẻ như chúng tôi còn ngồi trên ghế nhà trường.

Chỉ rất tiếc là niềm phấn khởi đó không bao lâu lịm tắt-và dần để lộ ra chỉ là một thứ làm dáng trí thức- một lối chơi chữ kêu rổn rảng mà nội dung không đi đôi với ngôn từ.

Sáng Tạo, thoái thân của tờ Người Việt đình bản trước đó có mặt với Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền vào năm 1956 với Doãn Quốc Sỹ, Duy Thanh, Nguyễn Sỹ Tế, Thái Tuấn, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên và Trần Thanh Hiệp.

Nhưng ngoài các người viết mới vừa kể trên, Sáng Tạo còn có nhiều nhà văn thuộc thế hệ tiền chiến hoặc ngoài nhóm như: Vũ Hoàng Chương, Lê Văn Siêu, Nguyễn Đình Hòa, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Duy Diễn, Lê Thương, Lê Cao Phan, nhà thơ Nguyên Sa, Nguyễn Phụng, Lữ Hồ hoặc những người như Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Tạ Tỵ, Vĩnh Lộc, Thanh Nam, Tô Kiều Ngân.

Sau này trong Sáng Tạo, bộ mới năm 1960 có thêm Trần Dạ Từ, Viên Linh, Thảo Trường, Trần Thị Nhã Ca, Thạch Chương, Sao Trên Rừng và Dương Nghiễm Mậu.

Khi ra hải ngoại, vào năm 1958, Nguyên Sa Trần Bích Lan đã thu tóm văn học miền Nam thời kỳ đó vào bốn khối lớn là:

-  Nhóm Sáng Tạo của Mai Thảo

-  Nhóm Đất nước của Nguyễn Văn Trung

- Nhóm Bách Khoa của Võ Phiến

- Nhóm thứ tư, những nhà văn, nhà thơ độc lập như Vũ Hoàng Chương, Du Tử Lê, Đinh Hùng, Trần Dạ Từ..

Tôi nghĩ rằng, nhận xét của Trần Bích Lan có tính cách tán dương nhiều hơn là sự  thật. Sự xếp loại như vậy có phần gượng ép.

Sau Sáng Tạo thì tiếp nối theo một số tạp chí như Hiện Đại do Nguyên Sa chủ trương. Trong tờ Hiện Đại, người ta cũng thấy sự có mặt của bốn tác giả trong bộ biên tập Sáng Tạo là Duy Thanh, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ.  Hiện Đại ra được 9 số thì đình bản.

Tạp chí Thế Kỷ Hai Mươi do Nguyễn khắc Hoạch chủ trương biên tập quy tụ thêm một số giáo sư đại học như Nguyễn Khắc Hoạch, Lý Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung, Thanh Lãng, Nguyễn Đăng Thục và một số cây viết của Sáng Tạo.

Không khí nhộn nhịp, sôi động của một nền văn nghệ mới của cái hôm nay thay thế và đoạn tuyệt với quá khứ xem ra đến đây thì khựng lại.

Mai Thảo một mình một cõi, ngất ngưởng một chiếu trước đây xem ra đã cạn dòng. Một chữ cũng Mai Thảo, một câu cũng vẫn là Mai Thảo của Nguyễn Đình Toàn xem ra lời khen không còn đúng chỗ nữa.. Vẫn viết như thế mặc cho tình thế đổi thay. Cái hào khí Đêm Giã từ Hà Nội  không còn nữa. Mai Thảo năm 1954 không khác gì Mai Thảo thập niên 1960 và nhất là sau 1963..

Tiền tài trợ của Mỹ qua trung gian Trần Kim Tuyến không còn nữa.. Các tờ tập san lần lượt thi nhau rụng, không kèn không trống..

Có một khựng lại trong sinh hoạt văn học. Không có tiền tài trợ, những người như Mai Thảo quay ra viết feulleton, kiếm sống. Chữ nghĩa tụt dốc chỉ còn là cái cần câu cơm.

Nguyễn Mạnh Trinh đã lột tả hết nỗi cô đơn bất hạnh của một nhà văn sáng giá nhất từ miền Bắc di cư vào miền Nam lúc cuối đời qua ngòi bút của nhà văn Tuấn Huy:

Tâm tư cô đơn xót đau ấy có lẽ những người trẻ hơn khi đêm khuya đưa ông về phòng đã chứng kiến. Nhà văn Tuấn Huy, một người hay đưa ông về lúc canh khuya kể lại những giây phút ấy:

Chiếc chìa khóa nhỏ được móc ra từ đáy túi. Giơ lên rung rẩy dưới ánh sáng của ngọn đèn lờ mờ.. cuối cùng mới trúng ổ. Cửa mở. Anh loạng choạng bước vào. Đèn phòng bật sáng. Những kệ sách đầy kín. Những bức tranh, những khung hình thờ ơ, câm lặng. Chợt bàn tay trái của anh xô mạnh đống giấy tờ bừa bộn trên bàn. Anh mất thăng bằng, té bổ ngửa người ngay trên chiếc ghế dựa giữa bàn viết. Tôi hơi hoảng hốt đỡ anh lên. Một thân thể nhẹ hẫng gầy còm, rũ rượi.. Tôi dìu anh đến bên chiếc giường và lo âu hỏi: Anh có sao không Anh? Chỗ ở đầu của anh có việc gì không? Anh gượng gạo kéo lại tay áo rồi trả lời dấm dẳng:Không sao hết.. ngã thế đã ăn nhằm gì.. chết mẹ nó đi được cũng chẳng sao.. Tôi thật tâm ái ngại: Anh lớn tuổi rồi phải cẩn thận. Ở một mình mà lỡ té ngã là nguy hiểm lắm.. Anh vẫn ngang ngược, gạt di: Nguy hiểm cái đếch gì, không sao cả. Bao nhiêu người còn khốn khổ hơn mình nhiều..

Tôi đứng lặng nhìn Anh. Phút giây tôi ứa nước mắt. Chưa bao giờ tôi thương anh cho  bằng phút này. Dù rằng từ trước đến nay, đã hơn một lần, tôi xót xa ái ngại cho anh.[5]

Tạp ghi Văn Nghệ, Nguyễn Mạnh Trinh, trang 28-29

Cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963 và sự chấm dứt dòng hội nhập của người miền Bắc sau chín năm của Đệ nhất cộng hòa miền Nam

Biến cố Phật giáo đi đến thành công nhờ có ba thành phần sau đây: giới Phật giáo miền Trung do TT Trí Quang cầm đầu. Sự ủng hộ và tiếp tay gián tiếp đằng sau của chính quyền Mỹ qua đại sứ CabotLodge và nhóm sĩ quan cầm đầu với Trần Thiện Khiêm- Dương Văn Minh- Trần Văn Đôn.

Mục tiêu của cuộc đảo chánh là để lật đổ: Một chính thể độc tài và kỳ thị đàn áp Phật giáo.

Câu hỏi đặt ra cho mọi người miền Nam ngày hôm nay là cả hai mục tiêu trên có thực hiện được không và đạt được gì sau cái chết của hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu?

Không mấy ai dám bày tỏ một cách thẳng thắn thành quả về biến cố chính trị 1963.

Hậu quả là sự tan rã, rối loạn về mặt chính trị, quân sự, kinh tế và xã hội.

Hơn ai hết, các nhà văn, nhà báo uy tín thời đó- do nhạy cảm hơn cả- đã bầy tỏ sự chán chường, thất vọng và mất niềm tin nơi họ bằng nhiều cách thức khác nhau.

Quan trọng nhất là sự mất niềm tin vào chính nghĩa quốc gia trong khả năng đương đầu với cộng sản.

Võ Phiến sau này klhi ra hải ngoại đã bày tỏ tâm trạng chán chường của các nhà văn trong Văn Học miền Nam, tổng quan, vào năm 2000..[6]

[7] Văn học miền Nam tổng quan, Võ Phiến,m trang 245 trở đi

Đó là các nhà văn, nhà báo như Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng, Võ Phiến, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Hoàng Chương và những nhà báo trẻ như Phan Nhật Nam và Dương Nghiễm Mậu..

Và đối với các nhà văn miền Bắc di cư nói chung có sự khựng lại, có sự chuyển hướng, có sự tránh né, buông xuôi như một Mai Thảo( Một người từng tuyên bố- một người di cư không có quyền ngán một điều gì)- có người nấp vào Thiền, vào tôn giáo, vào dịch thuật..

Sách Thiền và nhất là sách dịch nở rộ lên đến nỗi  vào thập niên 1970, nó chiếm đến 75% thị  phần sách xuất bản ở miền Nam.

Tâm sự chán chường, buông xuôi ấy tiêu biểu trong một bài phỏng vấn Vũ Hoàng Chương- một Vũ Hoàng trước đây lồng lộng  tin tưởng và hăng say trong tập thơ Hoa Đăng-  và một Vũ Hoàng Chương tuyệt vọng sau này:

Tôi bây giờ chỉ chờ ngày chết thôi. Lắm lúc muốn tự tử. Thơ không viết nữa, giá viết cũng không người đọc. Đoc tâm sự ấy, Nguyễn Mạnh Côn kêu lên: Câu tâm sự thoáng qua nghe mà lạnh gáy. Tôi về rồi, một tuần sau trở lại, yêu cầu anh xác nhận, anh gật đầu.

Cho nên kể từ sau 1963, dòng hội nhập văn hóa, văn học từ phía Bắc chói sáng một thời đã chết dần, chết mòn- chết nhiều kiểu, nhiều cách và chết hẳn vào 1970..

Thay vảo đó, chiến tranh mỗi ngày mỗi gia tăng, sự có mặt đông đảo của người Mỹ và đồng minh đã tạo ra một dòng văn học dấn thân ở miền Nam. Dòng văn học này nặng tính cách chính trị  ảnh hưởng trực tiếp do chiến tranh mỗi ngày một tàn khốc.;

Dòng văn học này không còn phân biệt các nhà văn Nam- Bắc, nhưng nói lên thân phận con người trong chiến tranh. Một mặ nó nói lên sự tàn khốc của chiến tranh và khát vọng một nền hòa bình và chấm dứt chiến tranh.

Nó không hẳn là phản chiến. Và vì thế cần phân biệt ra nhiều loại.

Từ phản chiến có thể mang nghĩa tiêu cực thường để chỉ định những thành phần nghiêng về phía bên kia như trường hởp Trịnh Công Sơn, Ngụy Ngữ, Kinh Dương Vương, Thái Luân, Trần Hữu Lục, Thế Vũ, Thích Nhất Hạnh..

Hoặc chỉ định họ những người đãn quyết định chọn ngản hẳn về phía bên kia như Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín (trước 1975), Thế Nguyên, Vũ Hạnh, Lữ Phương, Nguyễn Trọng Văn, Trương Thìn, Lý Chánh Trung, Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Đức, Dương Van Ba, Đinh Xuân Dũng, Châu Tâm Luân, dân biểu Lê Tấn Trạng, Lê Văn Nuôi,  dân biểu Nguyễn Hữu Hiệp, dân biểu Nguyễn Văn Binh, db Tư Đồ Minh,Thạch Phen, luật sư Trần Ngọc Liễng, Thích Hiển Pháp, Thích Minh Nguyệt, thầu khoán Nguyễn Văn Hạnh, ni sư Huỳnh Liên, bà Ngô Bá Thành, nữ nghệ sĩ Kim Cương,  Lý Quý Chung, nghị sĩ Hồng Sơn Đông,  Mường Mán.

Loại thứ ba, mượn danh nghĩa phản chiến, nhưng là cộng sản thứ thiệt như Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy, Cao Thị Quế Hương,, Trương Thị Kim Liên, Lê Thành Yến, Hoàng Phủ Ngọc Tường, HPN Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Công Giàu, họa sĩ Ớt, Lm Huỳnh Công Minh, Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần..và Vương Đình Bích..Ngô Kha,  Mường Mán, Trần Vàng Sao, Tiêu Dao Bảo Cự..

- Bên cạnh đó, một số lượng đông đảo các nhà thơ được coi như chống lại chiến tranh, từng là binh sĩ, sĩ quan trong quân độ VNCH. Họ bầy tỏ một tâm trạng của những người lính ngoài mặt trận và làm một thứ văn chương xám, nhìn cuộc chiến với một mầu đen. Hơn ai hết họ là những người tham dự trực tiếp vào cuộc chiến ấy- Họ có thể là nạn nhân của cuộc chiến. Có người đã ngã xuống và bỏ thây ngoài mặt trận, người mang tàn phế. Họ là Doãn Dân, Y Uyênvv.. Trong một tuyển tập thơ dày 854 trang với sự quy tụ của 263 nhà thơ, do nhà văn Trần Hoài Thư biên soạn với lời nhà xuât bản:

Đây là những trang thơ được sưu tập từ một thời kỳ đen tối của quê hương..

Hy vọng tập sách này là một nguồn tài liệu giúp cho những nhà phê bình văn học, những người nghiên cứu văn học sử, và những ai chưa có dịp tiếp cận với nền văn chương miền Nam trong thời chiến tranh để họ có cái nhìn rõ và đứng đắn hơn về một dòng văn chương tình tự, rất là tự do, khai phóng, sáng tạo và nhân bản…[8]

Thơ miền Nam trong thời chiến, Tủ sách di sản văn chương Việt Nam, Thư ấn quán xuất bản, 2006.

Xin trích một đoạn thơ tiêu biểu, đậm tình người:

Dù chỉ một ngày ngưng bắn đó con

Cũng đem chiếc áo lành ra mặc

Cũng ăn một bữa cơm cho no

Cũng ngủ một giấc trên giường trên chiếu

Khổ đau lúc này mẹ gói trong mo

(Trích thơ Hồ Minh Dũng)

 

Trời mưa, không lớn lắm

Nhưng đủ ướt đôi đầu!

Tình yêu không đáng lắm

Nhưng đủ làm.. tiêu nhau!..(..0

Em phải nằm xuống trước

Ám ảnh một đời ta!!

(Trích Thơ Khởi Tự Mê cuồng- Nguyễn Tất Nhiên-.

Văn thơ miền Nam là một dòng thơ để lại mà nhiều người nay đã không còn nữa. Trong trường hợp Nguyễn Tất Nhiên đã để lại những dòng thơ tình bất hủ giữa lòng cuộc chiến như Khúc buồn tình, Đám đông, Ma soeurvv…

Có những nhà văn thuộc thế hệ sau di cư, những người trực tiếp trong cuộc chiến có thái độ phẫn uất như Phan Nhật Nam, Dương Nghiễm Mậu. Nhã Ca, Lê Tất Điều..hay những  người khác như Thế Uyên hay Chu Tử, Tha3on Trường, Từ Chung vừa chống cộng sản, vừa bất mãn với chính quyền.

Nhưng có một số thành phần những trí thức, phần lớn gôc gác miền Trung cần được bàn riêng ở đây và thái độ chính trị của họ đã gây nhiều tác hại không ít cho chính quyền VNCH không ít.

Sau 1963, ông Diệm và ông Nhu mặc dầu không không còn nữa.

Họ đã chết. Nhưng chế độ của đệ nhất cộng hòa vẫn còn đó. Người ta nói đến một chế độ Diệm không Diệm.

Người ta mới thực sự mới lật đổ được một cái ghế, nhưng chưa thay đổi được chế độ ấy.

Vì thế, tờ Lập Trường, ngoài Huế do ông Tôn Thất Hanh làm chủ nhiệm, ông Lê Tuyên làm chủ bút và Cao Huy Thuần làm Tổng thư ký, tòa soạn đặt tại 17 B, Lý Thường Kiệt, Huế cho rằng cuộc cách mạng còn dang dở, chưa làm xong, cần tiếp tục.  Có thể nói trắng ra là họ muốn nhổ cỏ thì cần nhổ tận rễ.

Họ muốn tiếp tục con đường cách mạng, nghĩa là quét sạch những tàn tích dơ bẩn của quá khứ. Những rác rưởi dơ bẩn đó, ở Việt Nam, đã cao lên ngút đầu trong 9 năm qua, phi quân đội, không  lực lượng nào có thể quét sạch được…[9]

Trích bài Mở Một nước cờ, tờ lập Trường, thứ bảy 6-6-1964

Và họ đặt vấn đề: Hôm nay, chúng tôi muốn đặt câu hỏi đó ra trước chínhquyền: Nhân dna6 đã trao quyền cho các tướng lãnh để thi hành trọng trách quét sạch quá khứ; trọng trách đó, chính quyền đã làm xong chưa?

Đây là những thành phần tả phái cực đoan, quá khích đến cùng cực. Họ bất mãn, họ đả phá tất cả. Họ chống công giáo qua trung gian các thành phần được gọi là Cần Lao còn sót lại trong chính quyền. Họ chống chiến Tranh, chống một chính phủ quân nhân, chống sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam. Nghĩa là họ chống tất cả.

Chẳng hạn họ đã đốt thư viện của Mỹ ở Huế. Chửi Mỹ như thể giọng điệu cộng sản đòi Mỹ rút quân, Mỹ Go Home.

Trong thực tế, họ cổ súy một chiến dịch diệt Cần Lao bằng cách ủng hộ chuyện tử hình Phan Quang Đông, rồi sau Phan Quang Đông họ làm áp lực qua ông Trí Quang để đưa Đặng Sỹ ra tòa. Nhưng dưới áp lực của TGM Nguyễn Văn Bình, Đặng Sỹ chỉ bị kết án 20 năm tù..

Ngay tại huế, họ lật đổ vai trò của linh mục Cao Văn Luận trong chức viện trưởng đại học..

Họ làm áp lực  buộc viện trưởng Viện Đại Học Huế phải từ chức và ra đi..Trước tình hình căng thẳng như vậy, một số giáo sư đại học đã xin đổi vào Sài Gòn.

Nhất là họ lập ra một Hội Đồng gọi là Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc mà danh xưng  cũng như cách hành động na ná như một tổ chức của Việt Minh, cộng sản. Nhiều viên chức trong chế độ cũ lo sợ bị trả thù.

Ít tháng sau, không biết vì lý do gì  tổ chức và tờ báo này đóng cửa. Nhưng nó cũng là cớ khai mào ra nhiều phong trào thanh niên, sinh viên Phật Tử đoàn ngũ lại và hệ quả của việc này gây tình trạng xáo trộn liên tiếp ba năm liền- Miền Trung gần như một miền dất tự trị dưới sự ủng hộ của quân đội do tướng tướng Nguyễn Chánh thi cầm đầu-. một thứ chính quyền bên trong một chính quyền-  cho đến khi ông Trí Quang bị dẫn độ về Sài Hòn và ông đã tuyệt thực 100 ngày tại Dưỡng Đường Duy Tân của bác sĩ  Tài. Tướng Thi buộc phải rời VN, sang Mỹ chữa bệnh,  phong trào tranh đấu miền Trung mới tạm yên ổn..

Sau 100 ngày tuyệt thực không đạt được kết quả gì, ông Thích Trí Quang theo lời khuyên của Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, ông đã rút lui về ở ẩn cho đến 1975, rồi sau này nữa, ông vẫn giữ thái độ tịnh khẩu.

Sau ba năm xáo trộn, các thành viên của nhóm thiên tả cực đoan miền Trung phân tán, ngả rẽ làm ba loại.

- Một loại, nhờ có thế, cách này cách khác, một số tìm đường ra ngoại quốc  du học như trường hợp Thái Kim Lan, Cao Huy Thuần vv.. Với tư cách sinh viên, họ tụ lại và thành lập nhóm sinh viên phản chiến- gọi là thành phần thứ ba- cấu kết với sinh viên nơi họ cư ngụ. Họ tổ chức biểu tình chống chiến tranh- một cách gián tiếp chống Mỹ và chính thể VNCH. Ở trong nước, họ quậy phá một cách, ra ngoại quốc, họ quậy phá một cách khác. Tâm tình của họ, thái độ của họ, đời sống của họ, hoạt động của họ luôn luôn đẩy họ về phía đối lập, chống đối VNCH. Họ hãnh diện về thành tích và việc làm của họ ở trong nước cũng như khi ngoài nước.

- Một số lớn còn lại, tiếp tục ăn học trở thành những sĩ quan, công chức của VNCH. Nhưng họ sống với nhiều hoang mang, trăn trở ở cái tình trạng mà Trịnh Công Sơn gọi là: Tiến thoái lưỡng nan. Một số nhỏ, che dấu cái quá khứ của họ hoặc tham gia chính quyền, hoặc ra tranh cử dân biểu như trường hợp Hoàng Văn Giàu đi theo Bùi Tường Huân. Một số  tham gia chính quyền với tư cách dân biểu với sự đỡ đầu của Phật giáo.  TT. Trí Quang chắc hẳn đã bảo trợ và đỡ đầu cho các dân biểu này.. Với tư cách dân biểu, họ đứng trong danh sách các dân biểu đối lập của nhóm Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Đức quậy phá một cách công khai và hợp pháp, hỗ trợ cho đám sinh viên cộng sản nằm vùng như Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy. Hoàng Văn Giàu, sau khi đi tù cộng sản, ra hải ngoại- vẫn chưa thấm đòn cộng sản tiếp tục giao lưu móc nối với đám Giao Điểm làm cầu nối cho cộng sản. Họ tham gia chính quyền để tranh đấu hợp pháp, không bị cầm tù. Nếu có thể nói đây là những kẻ nội thù của chính quyền miền Nam.

- Còn một số rất nhỏ, vì lộ diện trong việc tranh đấu, vì sợ bị chính quyền VNCH bắt cầm tù đã chạy trốn hẳn sang bên kia như trường hợp  anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân..Thái Ngọc San, Tiêu Dao Bảo Cự. Sau này, họ cũng vỡ mộng cộng sản nhưng rơi vào tình trạng gái ngồi phải cọc như trường hợp Tiêu Dao Bảo Cự. Riêng Nguyễn Đắc Xuân,  anh ta là người cộng sản hơn cả người cộng sản.

Bắng cách nào ở vị trí nào, ở trong nước hay ở hải ngoại. Đám người cực đoan và quá khích- một số nhõ- miền Trung cũng chống phá VNCH trong suốt hai mươi năm miền Nam và sau này ở Hải Ngoại..

Tôi xin xác nhận, họ không phải là cộng sản thứ thiệt, nhưng việc làm của họ, việc tranh đấu của họ  trở thành thứ nối giáo- kẻ nội thù- cho người cộng sản.

Người ta có cảm tưởng chống phá là lý lẽ đời sống của đời họ. Họ sinh ra để chống phá. Và họ chỉ thực sự lớn lên trong khí thế tranh đấu bạo động.

Nhiều người trong bọn họ chắc chắn không phải  là cộng sản. Nhưng một điều chắc chắn họ cũng không bao giờ là những người con dân của miền Nam.

Nhận định về các thành phần trí thức trong các tờ Hành Trình, Đất Nước..và Trình Bầy

Sau biến cố chính trị 1963, một số trí thức miền Nam- trăn trở trước tình hình đất nước- thấy không thể ngồi yên. Họ thấy cần làm một điều gì, thấy cần lên tiếng và nhất là thấy cần phải bầy tỏ một thái độ nhập cuộc, phải dấn thân không thể ngồi trong tháp ngà của suy tưởng lý thuyết suông.

Trong số trí thức ấy có hai người là các ông Lý Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung chủ trương tờ Hành Trình vào tháng 10- 1964 và sau này tờ Đất Nước.

Do vị thế trí thức của họ với giới sinh viên, họ thu hút được một số trí thức khuynh tả và giới trẻ đi theo họ.

Danh sách những thành phần trí thức viết cho Hành Trình bao gồm một số linh mục như Đỗ Phùng Khoan, tức linh mục Nguyễn Huy Lịch, Võ Hồng Ngự, tức nhà thơ Diễm Châu, Trần Trọng Phủ, tức nhà văn Thế Nguyên.( Thế Nguyên là một người đi theo cộng sản và sau này làm chủ bút tờ Trình Bày). Trương Cẩm Xuyên, tức linh mục Trương Đình Hòe, Hương Khuê, tức linh mục Trương Bá Cần, linh mục Nguyễn Ngọc Lan, giáo sư Trần Văn Toàn, các nhà Văn như  Thảo Trường, Thái Lãng,  Nguyễn Vũ Văn, Lê Tất Hữu, Thế Uyên, Trịnh Viết Đức, chủ nhà in Nam Sơn- người tài trợ cho việc in ấn.         

Trong lời nói đầu ghi:

- Không thể tìm ra một lối thoát thực sự nếu không dám đụng đến những nguyên nhân sâu xa là nguồn gốc  tình trạng đang rơi vào suy sụp hoàn toàn. Tạp chí Hành Trình ra đời nhằm phê phán đến tận cùng những nguyên n nhân sâu xa đó, để góp phần tìm ra một lối thoát thực sự và hiệu nghiệm ».[10]

Hành Trình, số 1, tháng 10-1964

Tờ báo mặc dầu chỉ ra được hơn mười số, đã có  một tiếng vang cả trong lẫn ngoài nước cũng như dư luận Hoa Kỳ và Ngoài Bắc.

David  Marr, vừa tốt nghiệp đại học sang VN  đã cho dịch những bài báo của Nguyễn Văn Trung và cho đăng trên các báo Mỹ và các cơ quan truyền thông của công giáo Mỹ như các bài: (War, Peace, and Revolution) Hoặc bài Our problems: Ourselves.

Trong số những bài viết phản biện có các bài từ Miền Bắc lên tiếng sớm nhất như bài : Từ Chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam, thực chất và huyền thoại đến Hành Trình, của Phong Hiền, tháng 4 năm 1965 và bài của Tam Thanh, đọc Nhận Định 4 của Nguyễn Văn Trung.

Phía VNCH  có bài nhan đề: Phê bình quan điểm Cách mạng xã hội của hai ông Nguyễn Văn Trung và Lý Chánh trung, Nguyễn Văn Bảy, Sài Gòn 10-1967. Và bài : Nghĩ về một số trí thức ảo tưởng..  Ánh Việt, đăng trên Chính Luận, 10-1971.

Đặc biệt cho đến sau 1975, còn có những loại trí thức nằm vùng lôi câu truyện 10 năm về trước viết bài nhằm tâng công với cộng sản, Nguyễn Trọng Văn viết bài tham luận nhằm, phê phán Nguyễn Văn Trung nhan đề: Chủ nghĩa xã hội không cộng, tại miền Nam Việt Nam, thời Mỹ- Ngụy- Nội Dung và ảnh hường.

Phần Lữ Phương viết bài : Mấy ý kiến về các xu hướng gọi là Cách Mạng xã hội không cộng sản ở miền Nam trước 1975..[11]

Hồ sơ về tạp chí Hành Trình, Sài Gòn 1964-1965, Nguyễn Văn Trung

Tờ báo sau đó đóng cửa không một lời giải thích.

Tờ Đất Nước

Hành Trình đóng cửa, Đất Nước thay thế. Ban biên tập với Chủ nhiệm là nguyễn Văn Trung,  Chủn trương biên tập : Lý Chánh Trung, Tổng Thư ký tòa soạn lả Thế Nguyên..

Trước hết, tờ báo có sự cộng tác chính yếu của nhà thơ Nguyên Sa- một Nguyên Sa dấn thân, nhập cuộc không làm thơ tình nữa như trong bài thơ : Tắm hay Sân Bắn.. của ông.

Bên cạnh Nguyên Sa có nhiều cây bút khác như Du Tử Lê, Đinh Phụng Tiến, Hồ Minh Dũng, Lê Văn Ngăn, La Nuyễn, Bùi Khải Nguyên, Nguyễn Quốc Thái, Lê Khoa, Nguyễn Tất Nhiên, Luân Hoán, Thế Phong. Nguyễn Tường Giang, Tần Hoài Dạ Vũ, Lưu Kiển Xuân..Phong Sơn, Thái Lãng

Nhưng sự có mặt của Thế Nguyên trong vai trò Tổng Thư ký tòa soạn- một người theo cộng sản- nên đã có kéo theo nhiều nhà thơ nhà văn thân cộng viết cho tờ báo như các ông: Ngụy Ngữ, Lưu Nghi, Thái Ngọc San, Tôn Thấp Lập, Phạm Thế Mỹ, Ngô Kha, Nguyễn Trọng Văn, Lữ Phương, Trần Hữu Lục.

Chắc chắn ông Nguyễn văn Trung và Lý Chánh Trung hoàn toàn không nắm được vấn đề này.. Họ- nhất là Nguyễn Văn Trung- mất chủ động-, mặc cho Thế Nguyên thao túng về bài vở, tác giả cộng tác, quản lý tiền bạc, nhà in phát hành.

Thế cho nên mang tiếng là báo của trí thức thiên tả, nhưng thực sự chủ động là cộng sản giật giây.

Miền Nam mất cái đà làm chủ tình hình báo chí, văn học, văn nghệ dần dần như thế.

Hãy trích lại giọng điệu trong thơ của Phạm Thế Mỹ sặc mùi tuyên truyền, chống Mỹ, chống chiến tranh như bài:

Những ngày sắp tới

Thưa thầy, họ đã dạy con:

Không có bom đạn Mỹ

Việt Nam mất nước từ khuya

Không có viện trợ Hoa Kỳ

Việt Nam sức mấy..

Đất nước linh thiêng ơi,

Sao họ không chỉ dạy chúng làm toán đại số

Dạy chúng ấm no

Có hơn không?

Giữa Hành Trình và Đất Nước, cộng sản như thể đang ở ngoài nhà, nay đã vào đến trong nhà, vào buồng ngủ..của tờ báo.

Nó lộ liễu và công khai quá..Nó không cần đeo mặt nạ. Tôi ngạc nhiên  khi nhìn thấy tên tuổi những Nguyên Sa, Luân Hoán, Du Tử Lê, Nguyễn Tử Quý, Thảo Trường bên cạnh Ngô Kha, Ngụy Ngữ.

Với cung cách lộn sòng như thế này- không phân biệt tà-ngụy.. cùng đứng chung, xếp hàng.

Miền Nam đang trải qua một mùa gió chướng và những cơn thử thách cuối cùng của một dòng lũ triều cường có thể cuốn trôi và phá sạch tất cả..

Tờ Trình Bầy

Tờ Trình Bày xuất hiện vào tháng 08-1970, cũng lại do Thế Nguyên làm chủ bút và chủ nhiệm.(Thế Nguyên sau 1975 không được trọng dụng, chết lãng xẹt, rất sớm vì bị  nhiễm trùng sài uốn ván). Ở giai đoạn chót của miền Nam, Trình Bày ngang nhiên xuất hiện, in ấn đàng hoàng,  bất chấp kiểm duyệt, bất chấp tịch thu báo..Ai tài trợ cho tờ báo? Có thể một phần do nhà in Nam Sơn tài trợ. Nhưng phần còn lại là ai? Còn ai vào đây nữa?

Lần này nó lại được tăng cường thêm những cây viết của người quốc gia chân chính, chính hiệu như Phạm Cao Dương, Trần Tuấn Nhậm, Trùng Dương, Nguyễn Đa, Nguyễn Đồng, Chu Vương Miện,  Hoàng Ngọc Nguyên, Trần Hoài Thư, Trần Đỗ Dũng, Thanh Lãng, Nguyễn Đăng Thường,  Lê Văn Thiện, Trần Huiền Ân, Đoàn Luân, Thuận Giao.

Và làm sao thiếu được Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung. – Những người đứng làm bảng hiệu chính danh và hợp pháp-.

Nhất là nay có thêm sự có mặt của Nguyễn Nguyên-  tay trùm cộng sản- núp bóng trong tờ Tin Văn với Vũ Hạnh, Lữ Phương.

Nào ta đếm thử coi, còn thiếu ai nữa, những nhà văn, nhà thơ của miền Nam xem  ai là người vắng mặt?

Ở trong tình trạng này, thật khó xếp hạng, thật khó biết ai là người quốc gia, ai là người bị cộng sản lợi dụng và ai là người cộng sản thứ thiệt?

Nếu cần tố cáo thì tố cáo ai nhỉ? Ai là người anh em của ta, ai là kẻ thù? Và hôm nay, nhiều người còn sống sờ sờ trong các cơ quan truyền thông, trong các tờ báo ở Mỹ, ở mọi nơi?

Trong số đầu, thơ Nguyên Sa cặp với Ngô Kha. Nguyễn Khắc Ngữ sánh đôi Nguyễn Quốc Thái, rồi lại Nguyên Sa với Ngụy Ngữ. Bài viết của Phạm Cao Dương đi kèm với bài của Trần Tuấn Nhậm.

Ngay trong lời mở đầu với nhan đề: Con đường đi tới..  Người đọc hiểu thế nào cũng được với thứ ngôn ngữ tuyên truyền bi thảm hóa cuộc chiến như sau:

Một phần tư  thế kỷ đã trôi qua trên cuộc cách mạng mùa thu..Tuy vậy, những hy sinh ròng rã suốt 25 năm trời ấy dường như chưa đủ để cho một dân tộc yêu chuộng hoà bình như dân tộc Việt Nam có thể buông súng xuống vui hưởng tự do.

Bây giờ vẫn còn những cụ già tóc bạc bị trói tay, bịt miệng, những em bé bất lực quằn quại trên vũng máu, những thanh niên bị đánh đập dã man, những thiếu nữ bị hãm hại.

Bây giờ vẫn còn những cảnh tra hỏi, bắt bớ ở mỗi nẻo đường, những tiếng hét rùng rợn của những nạn nhân trong những phòng tra tấn,: cả một miền đất nước biến thành một cái chuồng thú vĩ đại. Máu hòa nước mắt. Roi da và thép gai, thép gai trùng trùng, điệp điệp…

Con đường đi tới là con đường giải phóng: giải phóng đất nước và giải phóng con người Việt Nam toàn diện[12]

Những người quốc gia ở đâu, những chiến sĩ VNCH ở đâu để cho tờ báo thóa mạ VNCH..Những tác giả cộng tác với Trình Bày nay còn sống ở Hải ngoại nay họ nghĩ gì?

Tôi viết phần bài này nhân sắp đến dịp 50 năm năm kỷ niệm 50 năm của nền Đệ Nhất Cộng Hòa..

Sau 1963, Hồ Chí Minh nói với nhà báo thân cộng Wilfrid Burchett:

Tôi không thể ngờ tụi Mỹ nó ngu như thế.

Nguyễn Hữu Thọ của MTGPMN phát biểu:

Sự lật đổ Diệm là một món quà Trời ban cho chúng ta..

Trách ai và trách cái gì bây giờ?

© Đàn Chim Việt


[1]

[2]

[3]

[4]

[5]

[6]

[7]  Văn học miền Nam tổng quan, Võ Phiến,m trang 245 trở đi

[8]

[9]

[12] Trình Bày, Tập I, tháng tám 1970, tranmg đầu

Tags:

107 Phản hồi cho “Diện mạo văn hóa, văn học miền Nam trong những tình thế cực đoan lại là nơi hội tụ của bốn dòng chảy văn hóa-văn học [kết]”

  1. tien võ says:

    Tôi xin kể tiếp một câu truyện nữa về CÁI AO CĂM HỜN Ở thuộc xã Khánh Tiên huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình. Câu chuyện này là do một người quê kể lại trong một dịp tôi về thăm quê. Sau khi đất nước thống nhất được mấy năm,miền Bắc bắt đầu phục hồi kinh tế . Những ngôi nhà mới bắt đầu mọc lên. Bữa ấy là ba giờ sáng một ngày đầu tháng, trời tối đen như mực- ngày đó nông thôn chưa có điện- có một bác thợ cả hẹn với gia chủ đến động thổ nhà mới (gia chủ rất kỹ trong việc chọn ngày giờ) một mình mò mẫm đi qua chiếc ao ai oán tôi kể trên, bỗng dưng bác cảm thấy trời sáng rõ như ban ngày và phía trước đang đi tới là một cô gái trẻ gánh hoa đi chợ. Gần đến sát ao thì họ gặp nhau. Cô gái xinh đẹp nhoẻn cười chào và bỗng nhiên giây quang bị đứt hoa tươi đổ tung ra đường. Cô gái nhanh nhảu nói. Bác cho tôi mượn con dao rựa (một loại dao dùng như dao quắm trong Nam). Bác thợ cả đưa dao cho cô gái, nhận lấy con dao và cô gái nhìn lên, trước mắt bác thợ cả ,cô gái có gương mặt ròng máu máu, cô gái ném con dao xuống hồ nước và biến mất. Đến khi tỉnh lại bác thợ cả kể lại câu truyện và thật kỳ lạ bác ta nhớ rõ vị trí con dao bị ném xuống hồ. Mọi người xuống hồ mò được con dao và hãi hùng thay họ mò được cả một sọ người
    Cái ao nước đó bốn mùa trong veo, nước ao trong đến lạnh thấu tim. Và không ai giám rửa hay vất vật dơ xuống đó
    TÔI KHÔNG TIN LÀ CÂU TRUYỆN TRÊN LÀ CÓ THẬT HAY KHÔNG, NHƯNG TRONG TÔI NẶNG TRĨU NỖI ƯU TƯ VỀ CHIẾN TRANH VỀ LOẠN LẠC. ĐÓ CŨNG LÀ TÂM TƯ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM HÔM NAY. ỔN ĐỊNH, AN CƯ, LẬP NGHIỆP LÀ LẼ SÔNG CỦA CHÚNG TA HÔM NAY

    • Trần Tưởng says:

      Hehehe … Thiên hạ trong nước hổm rày kinh hoàng với các “nhà ngoại cảm ” như : Phan
      thị Bích Hằng , Cậu Thủy . Các chiến tích hài cốt của các nhà ngoại cảm này chỉ toàn là xương
      heo ,xương bò ,xương chó,xương động vật ….

      Hôm nay , thưa qúy vị, trên diễn đàn ĐCV , bỗng xuất hiện thêm một nhà “ngoại cảm ” trứ
      danh nữa . Đó là “nhà ngoại cảm ” Tien võ, mà tài nghệ đã tới bậc thượng thừa . Nhà ngoại
      cảm của chúng ta không màng gì đến mấy cái món đồ bỏ như :xương bò, xương chó,xương
      động vật … Mà “cậu Tienvõ” chỉ chú trọng tìm kiếm cái món hàng độc là :sọ người mà thôi .

      Không biết khi đem đi xét nghiệm , nó trở thành sọ dừa ,sọ trâu hay sọ cá đây ??? !!!! …
      Bố khỉ ….

  2. Nguyễn Trọng Dân says:

    @ thơ vẹm Nam, thơ vẹm Bắc , thơ vẹm bách hóa tổng hợp, thơ tối thui…

    Mấy em đầu óc dốt càn
    Mượn thơ người khác làm tàng được sao?

    Bài 9

    Cúp nước
    Đất vẫn còn đây Nước cúp hoài
    Xách xô đi hứng xếp hàng dài
    Đĩnh cao trí tuệ cần ráng sức
    Xách nước triền miên mới có sài
    Dự án đầu tư nâng cấp mãi
    Kinh tế Vĩ mô đợi đường dài
    Vợ con ngứa ngáy tha hồ gãi
    Thuơng nhà yêu Nước vẫn xưa nay

  3. Bac says:

    Thưa bạn người Khâm Thiên
    Hoàn cảnh tôi và mấy chục triệu người miền nam VN thì cũng là nạn nhân chiến tranh như bạn, tôi rất thông cảm
    Chúng tôi tan hoang cả nhà cửa ruộng vườn vì bọn CS đem bom đạn từ Băc vào tàn phá giết chóc chúng tôi
    Sau khi chiêm miền nam chúng vét sạch từ hạt gạo, từ cái xe Honda, từ cái TV .. chở về bắc..
    Tôi không làm gì nên tội mà bọn chúng nhốt tù tôi mấy năm, nên bây giờ sống tại Mỹ tôi vẫn ngày ngày chủi cha cái đảng CS VN tàn ác, chửi cha bọn lãnh đạo CS Hà nội phản dân hại nước

    • tien võ says:

      rất mong chủ nhà cho đăng bài này- xin cám ơn
      Thảm sát Mỹ Lai
      Vào ngày 16 tháng 3 năm 1968 tại khu vực thôn Mỹ Lai thuộc làng Sơn Mỹ, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, các đơn vị lính Lục quân Hoa Kỳ đã thảm sát hàng loạt 504 dân thường không có vũ khí, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Trước khi bị sát hại, nhiều người trong số các nạn nhân còn bị cưỡng bức, quấy rối, tra tấn, đánh đập hoặc cắt xẻo các bộ phận trên cơ thể.
      Trong tiếng Anh, vụ thảm sát này có tênMy Lai Massacre, Son My Massacrehoặc Pinkville, trong đó Pinkville là tên địa danh của quân đội Hoa Kỳ đặt cho khu vực Mỹ Lai.
      Anh ta bắn vào đứa bé với một khẩu a.45. Nhưng trượt. Chúng tôi cùng cười. Anh ta tiến thêm khoảng 1 mét rồi lại bắn trượt. Chúng tôi cười. Cuối cùng anh ta dí súng vào đầu đứa bé và cho nó ăn kẹo đồng
      Đại đội Charlie thuộc Tiểu đoàn số 1, Trung đoàn bộ binh số 20, Lữ đoàn bộ binh số 11, Sư đoàn bộ binh số 23, Lục quân Hoa Kỳ, tới Nam Việt Nam tháng 12 năm 1967 quyết định tổ chức một cuộc tấn công lớn vào làng. Đại tá Oran K. Trung tá Frank A. Barker ra lệnh cho các chỉ huy của Tiểu đoàn 1 đốt các ngôi nhà, giết sạch gia súc, phá hủy các kho lương thực và giếng nước
      Sau một đợt công kích dọn chỗ ngắn bằng pháo và súng máy bắn từ trực thăng, Đại đội Charlie đổ bộ vào làng Sơn Mỹ. Các binh sĩ của đơn vị này không tìm thấy bất cứ lính Việt Cộng nào trong làng, thay vào đó chỉ có những người dân thường, phần lớn là phụ nữ và trẻ em, đang cố gắng tìm chỗ ẩn nấp trước cuộc càn quét của quân đội Mỹ. Trung đội của thiếu úy William Calley bắt đầu xả súng. Những người dân thường đầu tiên bị giết chết hoặc bị thương bởi các loạt đạn bừa bãi này. Sau đó lính Mỹ bắt đầu hủy diệt tất cả những gì chuyển động, người, gia súc, gia cầm… Họ bị giết bằng các loạt súng, bằng lưỡi lê hoặc bằng lựu đạn với mức độ tàn bạo mỗi lúc một cao. Đài BBC News mô tả lại cảnh này:
      Binh lính bắt đầu nổi điên, họ xả súng vào đàn ông không mang vũ khí, đàn bà, trẻ em và cả trẻ sơ sinh. Những gia đình tụm lại ẩn nấp trong các căn lều hoặc hầm tạm bị giết không thương tiếc. Những người giơ cao hai tay đầu hàng cũng bị giết… Những nơi khác trong làng, nỗi bạo tàn của lính Mỹ mỗi lúc chồng chất. Phụ nữ bị cưỡng bức hàng loạt; những người quỳ lạy xin tha bị đánh đập và tra tấn bằng tay, bằng báng súng, bị đâm bằng lưỡi lê. Một số nạn nhân bị cắt xẻo với dấu “C Company” (“Đại đội C”) trên ngực. Đến cuối buổi sáng thì tin tức của vụ thảm sát đến tai thượng cấp và lệnh ngừng bắn được đưa ra. Nhưng Mỹ Lai đã tan hoang, xác người la liệt khắp nơi.
      Vài chục người bị dồn vào một mương nước và xả súng giết chết, một số chỗ khác cũng xảy ra những giết hàng loạt như vậy. Một nhóm lớn gồm khoảng 70 hoặc 80 dân làng nằm trong vòng vây của Trung đội 1 ở trung tâm làng bị Calley đích thân giết hoặc ra lệnh cho cấp dưới giết. Các binh sĩ của Trung đội 2 đã giết ít nhất từ 60 đến 70 dân làng bao gồm cả đàn ông, đàn bà và trẻ em trong khi đơn vị này càn qua nửa phía bắc của thôn Mỹ Lai 4 và Bình Tây.
      Sau cuộc càn quét đầu tiên của Trung đội 1 và 2, Trung đội 3 được lệnh giải quyết bất cứ sự “kháng cự còn lại” nào. Ngay lập tức lính Mỹ giết tất cả những người và gia súc còn sốngnhưng không may bị họ tìm được. Ngay cả những người giơ tay đầu hàng từ chỗ ẩn nấp hoặc những tiếng rên cất lên từ các đống xác người cũng bị những lính Mỹ này “giải quyết”. Trung đội 3 cũng là đơn vị bao vây và giết một nhóm khoảng từ 7 đến 12 dân thường chỉ gồm phụ nữ và trẻ em
      “Có thể nói đa phần lính trong đơn vị tôi không coi dân Việt Nam là người
      Quang cảnh phía dưới trông như một bể máu! Cái quái gì đang xảy ra vậy
      Thompson sau đó nhìn thấy một nhóm dân thường (lại chỉ bao gồm phụ nữ, trẻ em và người già) trong một căn hầm tạm đang bị lính Mỹ tiếp cận. Chiếc trực thăng của phi đội Thompson hạ cánh và cứu được khoảng từ 12 đến 16 người trong căn hầm. Phi đội Thompson sau đó còn cứu được một đứa bé toàn thân đầy máu nhưng vẫn sống sót từ trong cái mương đầy xác người. Thompson sau đó đã báo cáo lại những gì anh nhìn thấy cho chỉ huy của mình, thiếu tá Watke, trong báo cáo Thompson đã dùng những cụm từ như “murder” (giết người) và “needless and unnecessary killings” (sát hại vô cớ và không cần thiết). Báo cáo của Thompson được các phi công và phi đội khác xác nhận
      Khi rời làng, tôi chẳng còn thấy một ai sống sót
      Con số ghi lại tại Khu chứng tích Sơn Mỹ là 504 dân thường từ 1 tuổi đến 82 tuổi. Con số do phía Mỹ đưa ra thấp hơn, 347 nạn nhân[2].
      Các binh lính tiểu đoàn 1 đã giết ít nhất từ 175 đến 200 đàn ông, phụ nữ và trẻ em Việt Nam. Dù trong số bị giết có người ủng hộ hoặc thân với Việt Cộng (họ không mang vũ khí, gồm đàn ông, phụ nữ và trẻ em) nhưng nhiều bằng chứng đã xác nhận rõ chỉ có 3-4 người đích thực là Việt Cộng (VC).
      Ngày 17 tháng 3 năm 1970, Lục quân Hoa Kỳ đã buộc tội 14 sĩ quan, bao gồm cả thiếu tướng Samuel W. Koster, sĩ quan chỉ huy Sư đoàn Americal (Sư đoàn bộ binh số 23), về việc che giấu thông tin liên quan tới sự kiện Mỹ Lai. Phần lớn các lời buộc tội sau đó đã được hủy bỏ. Ngày 19 tháng 8 năm 2009, trong lúc phát biểu tại Kiwanis Club, Greater Columbus, lần đầu tiên William L.Calley công khai lên tiếng xin lỗi nạn nhân. Ông nói: “Không một ngày nào trôi qua mà tôi không cảm thấy hối hận vì những gì đã xảy ra ngày hôm đó tại Mỹ Lai”
      Nhà báo Seymour Hersh, người phát hiện ra tình huống bi kịch này đã nhận giải thưởng Pulitzer về tường thuật quốc tế năm 1970. Tường thuật của ông được minh họa bằng hình của nhà nhiếp ảnh Ron Haeberle. Người nhiếp ảnh này đã tham dự vào chiến dịch dưới tư cách là phóng viên quân đội chính thức nhằm cung cấp chứng cứ cho cái được gọi là “đếm xác” (body count) của thống kê quân sự. Các xác chết được chụp đã được các sĩ quan xác nhận là của các binh sĩ Việt Cộng đã bị giết. Thế nhưng người ta không gặp một dấu hiệu nào của Việt Cộng trong làng và cũng không gặp kháng cự nào. Mặc dầu vậy, quân đội Mỹ rất hài lòng với cuộc hành quân, không có quân nhân Mỹ nào chết hay bị thương và 128 người chết của phía bên kia. Phải mất 1 năm Hersh mới tìm được một nhà xuất bản sẵn sàng công bố câu chuyện và hình ảnh của ông.
      Phạm Duy, một nhạc sĩ nổi tiếng hoạt động ở miền Nam Việt Nam trong một chuyến đi Hoa Kỳ vào năm 1970, được xem những hình ảnh đầy đủ hơn về cuộc thảm sát này, đã viết lên ca khúc Kể chuyện đi xa, trong đó có đoạn:
      “…Nhưng con ơi!
      Trên những hoa đèn chập chờn công viên
      Bỗng thấy in hình một miền tre xanh
      Đôi bé quê mình quỳ gục trên mương
      Anh lớn tay choàng chịu đạn cho em
      Vết máu trên đường, một tràng liên thanh
      Ôi ! Mỹ Lai thành quà tặng Noel
      Cho những thiên đường của từng con em
      Trong những gia đình gọi là văn minh
      Con ơi! Con ơi!…”
      NẾU BẠN MUỐN BIẾT THÊM HÃY VÀO GOOGLE CHO KHÁCH QUAN

      • TỈNH TÌNH TINH says:

        Đả đảo bè lũ Việt cộng bán nước
        Đả đảo tên đại Việt gian Hồ chí Minh
        Đả đảo bè lũ tay sai Trung quốc Nguyễn phú Trọng
        Đả đảo bè lũ hung thần Nguyễn phú Trọng
        Đả đảo bè lũ tham ô Nguyễn phú Trọng

        AI LÀ KẺ CHỦ MƯU GÂY TỘI ÁC
        TRONG VỤ THẢM SÁT MẬU THÂN TẠI HUẾ?

        Hoàng Sơn

        Nhưng khi nói đến chiến tranh Việt Nam, người ta liên tưởng đến sự tàn bạo không khoan nhượng của Việt cộng, một mất một còn với hai đối phương Mỹ – VNCH, không có một thứ luật lệ nào được áp dụng cho cuộc chiến, không có hai chữ “nhân đạo” dành cho phía bên kia trong chiến tranh, trái lại họ tìm mọi cách mọi thủ đoạn để giành chiến thắng. Đó là suy nghĩ và học thuyết của những kẻ bạo tàn mất hết tính người trong việc tiến hành cuộc chiến tranh bẩn thỉu tại Việt Nam cách đây hơn 40 năm về trước. Những kẻ chủ mưu trong cuộc chiến tranh đã tận dụng mọi thủ đoạn và cơ hội bẩn thỉu nhất, đê tiện nhất để đoạt được phần thắng. Mà điển hình là biến cố Tết Mậu Thân cách đây tròn 40 năm. Còn theo cách tuyên truyền của kẻ gây chiến, thủ phạm gây nên tội ác đó, chúng đặt cho một cái tên mỹ miều là cuộc “Tổng tiến công tết Mậu Thân lịch sử”.

        Phải, sự kiện tết Mậu Thân sẽ đi vào lịch sử dân tộc không phải như là niềm tự hào chống quân xâm lược như VC đã từng rêu rao, mà nó là một vết nhơ, một nỗi đau không thể xoá nhoà về tội ác giết hại chính đồng bào mình mà thủ phạm không ai khác chính là đảng VC. Không những vậy, rồi đây Vc sẽ phải trả lời trước toà án La Haye về tội ác đã gây nên tại Huế năm 1968, như một tội ác chống lại loài người. Bốn mươi năm đã qua đi. Nhưng dấu tích của tội ác thì lịch sử không thể nào xoá lấp được. Ký ức hãi hùng về những vụ thảm sát, những bức ảnh, những nhân chứng là một bằng chứng không thể chối cãi.
        Hình ảnh những người dân vô tội bị hành quyết một cách man rợ đã cho ta thấy bộ mặt ghê tởm của loài ác thú đội lốt cộng sản. Những trẻ em vô tội, những người già, những phụ nữ bị giết hại mãi mãi là một bằng chứng không thể chối cãi về một tội ác trời không dung đất không tha. Chúng đã không từ thủ đoạn dã man nào để giết hại những người dân tay không tấc sắt, bằng những hình thức giết người dã man nhất: trói bằng dây kẽm gai, hạ sát bằng cách dùng cuốc, báng súng đập vỡ sọ, dí súng bắn vào đầu nạn nhân để hành quyết tập thể… tất cả đã cho thấy mức độ ghê tởm của cuộc thảm sát đó v.v…

        Mười chín hố chôn tập thể… Hố ít nhất năm bảy người, hố nhiều nhất lên tới gần ngàn người. Tất cả là 5.800 bộ hài cốt được tìm thấy với đủ các chứng tích về nhân thân, từ bộ quần áo cho tới những dụng cụ cá nhân, từ bức thư của cha cố cho tới những kỷ vật lứa đôi, từ đôi dép của những cụ già cho tới cặp sách của những em bé. Từ những phụ nữ (chắc chắn có những người mang thai) cho đến những học sinh, sinh viên tuổi đời còn trong trắng đã là nạn nhân trong ngày mùng 1 tết bi thương đen tối đó. Cho tới nay, con số những người bị chết và mất tích là bao nhiêu, chưa có ai chính thức công bố cả.

        Những lời kể của các nhân chứng sau 40 năm đã tái hiện cho chúng ta thấy một bức tranh khủng khiếp nhất về tội ác. Máu lửa ngập tràn… bầu không khí tang thương chết chóc bao trùm lên Cố đô suốt 26 ngày nằm trong tay những kẻ mệnh danh “cứu nước”! Thì ra họ cứu nước là thế này đây! Từng bầy từng đoàn người được phân tách do danh sách của những cán bộ “cứu nước” nằm vùng lập nên để phân loại. Ai bị cho là Việt gian phản động có nợ máu với Cách mạng, sẽ được đưa ra xét xử và được cách mạng cách cho cái mạng luôn tại nơi xét xử. Ai là kẻ có quan hệ làm việc với Ngụy quyền được tập trung để nghe huấn thị, đoạn đưa đi học tập cải tạo rồi đi luôn …mãi không về.

        Bầu khí khủng bố bắt bớ bao trùm lên một Cố đô nghiêm trang. Những tiếng la hét… những tiếng van xin kêu cứu… như cứa vào lòng chúng ta. Những tiếng nổ chát chúa vang lên từng ngõ xóm, từng nhà thờ chùa chiền v.v…. Đâu đâu cũng ngập tràn tử khí chết chóc.

        Những cha đạo và tầng lớp giáo dân, thành phần bị cho là “tôn giáo thuốc phiện ru ngủ” đáng ghét nhất, là nạn nhân chính chiếm số lượng nhiều hơn cả trong vụ thảm sát Huế năm xưa. Tuy là lớp hậu sinh, còn nhỏ lúc xảy ra biến cố Mậu Thân, người viết bài này đã từngđược nghe những dũng sĩ “diệt Mỹ” khi đó kể lại thành tích của bộ đội mình (trong đó có mặt người viết) trong cuộc tổng tiến công tết Mậu Thân. Sau khi chiếm được thành phố và thực hiện việc bắt bớ bắn giết tàn sát dân lành, Việt cộng xông vào các nhà thờ chùa chiền, nơi những người dân đang trốn ẩn trong đó. Chúng đã dã man hãm hiếp tập thể một phụ nữ trong nhà thờ Phú Cam, Phú Bài gì đó cho đến chết. Chưa dừng lại ở đó, chúng còn dùng lưỡi lê đâm khoét cửa mình chị, xẻo đầu vú chị một cách lạnh lùng ghê rợn…. Trước khi rút đi, chúng còn không quên gài một quả “lựu đạn” đã tháo chốt mỏ vịt an toàn, rồi gài dưới bụng xác chết nằm sấp, với âm mưu ghê tởm nhằm giết hại các nhân viên cứu thươnghay mai táng. Thật là khủng khiếp! Tội ác chất chồng tội ác! Chính một số người đi bộ đội thời đó đã kể cho tôi nghe họ được lệnh cấp trên hạ sát cả một thôn ấp, khi người dân không chịu đi theo bộ đội bắc Việt mà còn có ý định chạy theo “ngụy quân”.

        Vậy ai, ai là kẻ chịu trách nhiệm chính về tội ác này ?? Có những người do không suy xét thấu đáo, hay vô tình bào chữa bênh vực tội ác, chẳng hạn như tên đại tá VC lưu vong Bùi Tín cho rằng đấy không phải là lỗi cố ý, không phải là chủ trương của bọn đầu sỏ Hà Nội, nhưng do tình thế bức bách phải giữ bí mật nên cấp dưới đã tự ý gây ra thảm trạng này! v.v. và v.v… Xin thưa! Không có một lời biện minh nào cho thủ phạm khi mà chúng ta đi sâu vào xem xét cái nguồn gốc tội ác nó bắt nguồn từ đâu!

        Chúng ta, những người VN ai cũng biết, sự thiêng liêng trang trọng của mọi người, mọi gia đình VN đối với ngày tết cổ truyền dân tộc. Trong những ngày đó, mọi người dù đi đâu làm gì, dù vất vả giàu nghèo, dù còn nhiều bất đồng mâu thuẫn, không bằng lòng nhau trong cuộc sống hàng ngày, thậm chí trong các cuộc chiến tranh dẫu cho có khốc liệt đến bao nhiêu, chưa một kẻ bạo tàn nào cho dù đó là ai. Hitler cũng còn phải ngưng chiến (để nhân dân và quân sĩ hai bên tận hưởng ngày lễ Noel trong trận chiến vòng cung Koursk-Stalingrad)
        Vượt lên trên tất cả mọi vấn đề còn đang tạm thời ngổn ngang bề bộn, để hướng về ngày tết cổ truyền thiêng liêng đó cho dù là ai đi chăng nữa, cũng không nỡ nói nặng lời với nhau trong ba ngày tết, nhất là ngày mùng một đầu năm mới thiêng liêng. Vậy mà có một ngườicùng với một nhóm cộng sự của ông ta, đã bất chấp tất cả đạo lý, bất chấp tất cả tình ngườivà luật lệ của chiến tranh, để dắt tay nhau đi vào lịch sử của dân tộc như những tên tội đồdã man nhất! Người đó chính là tên Hồ Chí Minh!

        Có ai ngờ lời chúc đầu năm mới của hắn gửi tới đồng bào cả nước (trong đó có đồng bào miền Nam), lại là hiệu lệnh của tên đồ tể ra lệnh khai hoả… bắn ..giết….dã man chính những người mà hắn vừa chúc tết xong… những người mà trước đó chưa đầy năm phút y (hắn)còn gọi là ĐỒNG BÀO*. Có ai ngờ sau đó hàng ngàn đồng bào trong “trái tim” y, đã bị thuộc hạ của y cướp đi mạng sống một cách oan khuất, đau thương nhất.

        Bất kỳ kẻ nào cho dù không trực tiếp nhúng tay vào tội ác, nhưng tội ác gây ra vào thời kẻ đó đang đứng đầu bộ máy chiến tranh thì kẻ đó phải chịu trách nhiệm. Huống hồ hắn là người trực tiếp phát lệnh, thì không có lời biện minh nào cho tội ác mà y đã gây lên. Kẻ chịu trách nhiệm chính trong vụ thảm sát Mậu Thân ở Huế năm 1968 không ai khác chính là Hồ Chí Minh. Tên của hắn sẽ được nêu đích danh và đứng đầu trong danh sách những tên đồ tể đã giết hại gần 6 nghìn đồng bào Huế. Những chứng lý và suy cho cùng nguồn gốc nảy sinh ra thảm hoạ đó, là do chính hắn ta là người phát động và phải chịu trách nhiệm. Hắn ta không xứng đáng với tên gọi Nguyễn Ái Quốc mà lịch sử phải cải tên cho ông ta là Nguyễn Sát Quốc, cho đúng với tội danh của hắn ta thì đúng hơn.

        Cho đến nay con số những người bị chết và mất tích trong vụ thảm sát Mậu Thân là bao nhiêu? Chưa có ai chính thức công bố? Cho đến nay, sau tròn 40 năm vụ thảm sát kinh hoàng, vẫn chỉ là những bức ảnh, vẫn chỉ là những bài báo lên án hành động tội ác đó. Chỉ còn lại rất ít nhân chứng sống bằng da bằng thịt, chứng kiến sự kiện Tết Mậu Thân bi thảm. Thử hỏi sau mười mười lăm năm nữa, những nhân chứng mất đi sẽ ra sao nếu chúng ta không đưa lũ Việt cộng khát máu ra ánh sáng nhân loại.

        Cho đến nay những nạn nhân của tội ác đó vẫn đang phải ngậm ngùi nơi chín suối. Chưa một ai, chưa một tổ chức nào kể cả chính phủ Việt nam cộng hoà xưa kia, phải có trách nhiệm tố cáo tội ác này trước toàn thế giới, phải có trách nhiệm đưa vụ thảm sát này ra trước toà án La Haye, nhưng họ đã không làm được việc đó và ngày nay, những người Việt có lương tri, những tổ chức đân chủ hải ngoại và những người thân của họ cũng không làm được việc đó! Những việc đáng ra họ phải làm, họ phải thay mặt những người dân vô tội bị chết oan khuất nói lên tiếng nói đau thương, gióng lên hồi chuông kêu gọi toàn thể nhân loại biết đến sự kiện đau lòng đó như một tội ác không thể tha thứ!
        Táng tận lương tâm và bỉ ổi hơn nữa, những kẻ gây lên vụ thảm sát Mậu Thân năm xưa đãkhông hề tỏ ra ăn năn hối lỗi, không hề thấy lương tâm cắn rứt. Nay chúng nó vẫn hãnh diện khua chiêng gõ trống rầm rĩ, dựng dậy cái kỷ niệm dã man năm xưa, như một chiến công oai hùng nhằm lấp liếm xóa nhoà tội ác. Chúng đã xúc phạm linh hồn những nạn nhân đã bị giết hại, chúng đã xúc phạm thân nhân họ, những người đang sống và lương tri tiến bộ trên thế giới.

        Chúng đã cố tình che giấu sự thật nghiệt ngã đó. Nhưng còn những người lính Bắc Việt năm xưa đã theo lệnh của chỉ huy, xả súng bắn vào những người dân vô tội họ nghĩ gì đây? Họ không ân hận và đau xót, lương tâm họ không ray rứt hay sao?

        Tội ác không thể nào bôi xoá, mong các anh hãy tỉnh ngộ, dũng cảm nhận lỗi trước lịch sử, trước nhân dân, cho lòng mình thanh thản. Suy cho cùng các anh cũng chỉ là nạn nhân chomột cuộc chiến huynh đệ tương tàn bẩn thỉu do những cái đầu bệnh hoạn hiếu chiến ở Ba Đình chủ mưu gây ra. Đồng thời trong mỗi chúng ta phải ghi xương khắc cốt tôị ác này, cũng như có trách nhiệm tố cáo tội ác này trước dư luận thế giới bằng những hành động cụ thể. Nhắc nhở con cháu chúng ta không quên tội ác này, coi nó như dấu tích của tội ác, để mãi mãi cố gắng đấu tranh, không bao giờ cho phép Việt cộng tái diễn tội ác trên mảnh đất Việt Nam thân yêu của chúng ta.

        Nhân đây tôi được biết nhân kỳ niệm 40 năm cuộc thảm sát Mậu Thân, đồng bào hải ngoại ở nhiều nơi trên thế giới đã tổ chức kỷ niệm, lên án tội ác dã man của đảng CSVN. Cộng đồng hải ngoại ở Houston đã thành lập một uỷ ban để tổ chức kỷ niệm. Nhưng việc lập lên một uỷ ban không phải chỉ để duy nhất mục đích tổ chức kỳ niệm, mà phải làm sao phải lập lên một uỷ ban có chức năng và nhiệm vụ rộng hơn là thu thập và điều tra tội ác thảm sát Mậu Thân nhằm mục đích đưa vụ án ra trước toà án La Haye để kiện Việt cộng tội ác diệt chủng chống lại loài người, như Saddam Hussein đã từng phạm tội thảm sát người Kurds ở miền Bắc I-Rắc, bị toà án xét xử cách đây hơn 1 năm.

        Hôm nay! Nhân sự kiện 40 năm, xảy ra cuộc thảm sát Mậu Thân! Trước giờ phút giao thừa thiêng liêng, tôi xin đề nghị mọi người Việt Nam đang sống ở bất kỳ đâu trên thế giới, không phân biệt thành phần, giai cấp, không hận thù, hãy cùng nhau thắp một nén nhang tưởng nhớ vong linh những người đã khuất! Xin hãy dành một phút mặc niệm để tưởng nhớ đến những người xấu số, những người dân vô tội, những cụ già, trẻ em, phụ nữ và những người bạn không may của chúng ta trong vụ thảm sát tết Mậu Thân năm 1968…….!!!!!!!!!!

  4. Nguyễn Trọng Dân says:

    @ thơ vẹm Nam, thơ vẹm Bắc , thơ vẹm bách hóa tổng hợp, thơ tối thui…

    Mấy em đầu óc dốt càn
    Mượn thơ người khác làm tàng được sao?

    Ngày mai

    Ngày mai vẫn vậy giống hôm nay
    Đất nước còn nguyên Đảng độc tài
    Còn nguyên tham nhũng và cướp bóc
    Còn những người dân sống đọa đày…

    Ngày mai vẫn vậy giống hôm nay
    Còn người tranh đấu chịu tù đày
    Và còn vật giá tăng kinh hãi
    Còn những công trình chẳng thấy xây…

    Ngày mai vẫn vậy giống hôm nay
    Vẫn còn báo chi láo miệt mài…
    Còn người bỏ xứ ra đi mãi…
    Vẩn còn điện nước cứ cúp hoài !

  5. Nguy says:

    Thưa bác tiên Võ
    Cũng chẳng dấu diếm gì bác, tôi là ngụy, tôi chạy trốn Cộng Sản sang Mỹ
    Bác ca tụng lá cờ đỏ của bác thì đó là quyền của bác, còn tôi thì khác. Tôi thấy Đảng Cộng Sản an nam của bác nên dẹp cái cờ đỏ lòm lòm đi là vừa, nước Cộng Sản chính cống bà lang chọc Nga Sô, hay Liên xô cũng vậy, là nước tổ sư của CS người ta đã ném cái cờ đỏ vài thùng rác từ mấy chục năm rồi , các nước Đông Âu người ta cũng vứt cờ đỏ xuống sông từ mấy chục năm rồi mà sao đảng ta cứ còn mê cái cờ thổ tả đó
    Thấy mầu đỏ lòm là bà con tởm muốn mửa rồi, bác biết tại sao Mỹ đã bang giao với CSVN ngươi ta lại không cho treo cái cờ này không? Vì trông nó mọi rợ quá, trông đểu quá, trông tởm quá, màu đỏ lòm như mầu máu dân oan

  6. người khâm thiên says:

    Tôi xin góp với Tiên Võ câu truyện sau đây. Nhà tôi trên phố Khâm Thiên năm xưa đã bị bom mỹ san bằng. Bố tôi là con trưởng, hàng năm cứ vào những ngày cuối năm dương lịch bà nội tôi lại bắt tất cả anh chị em tôi đứng trước bàn thờ thắp nhang, lâu rồi thành quen và bây giờ bố mẹ tôi cũng lại như vậy. Trước bàn thờ tổ tiên, bà tôi khấn lầm rầm trong tiếng nấc nghẹn và trước khi nghi thức này kết thúc thì bà lại cúi xuống gầm bàn thờ cầm một con rựa cùn chém vào hai khối gỗ tròn tròn. Sau này bà mất, bố tôi thôi không làm việc này nữa . Tôi nhớ hôm ấy bố tôi lôi hai khúc gỗ nham nhở vết chém ra đốt đi chị em tôi đọc được ở mỗi khúc gỗ dòng chữ: MUÔN ĐỜI KHẮC GHI TỘI ÁC MAN RỢ CỦA THIỆU, CỦA NIXON
    Bố tôi kể rằng bom mỹ đã rơi trúng nhà bà tôi cướp đi ông nội và hai bác với một dì của chúng tôi

    • quandannambo says:

      trước năm 1975
      *
      các đồng chí “giải phóng quân miền bắc”
      đả
      mang vào miền Nam
      cái
      chiến thuật gọi là “giao thông chiến”
      *
      nhưng
      thế nào là “giao thông chiến”
      *
      rất đơn giản
      cứ
      đem mìn đến đặt

      đường ray và đường bộ
      rồi đợi
      xe đò chở khách và xe lửa chở người
      đến đúng điểm đặt mìn
      thì
      bấm nút
      *
      thật là
      nhẹ nhàng và đơn giản
      *
      dân miền Nam chết ngót nghét 100.000 người
      chỉ vì
      cái “giao thông chiến” của “bộ đội cụ hồ”
      *
      nếu kể về tội ác
      của
      ” cụ hồ và đồng bọn”
      thì
      phải cần đến 1 tấn giấy
      và 100 người biên chép
      miệt mài
      sau mười năm
      thì
      mới tạm gọi là hoàn thành *

  7. Austin Pham says:

    Ứ ..ù, đỉnh cao trí tuệ lại sùi bọt mép nữa đấy. Cứ cho chúng phát biểu nà nại…náo

  8. tien võ says:

    Bản thân lá cờ không làm nên đại sự. Lá cờ tổ quốc phải thấm đẫm cái hồn và lý trí của cả một dân tộc. Lá cờ ấy chỉ là biểu tượng của một quốc gia khi nó hiện diện trong tất cả những bước đi của một dân tộc cho đến thắng lợi. Nhìn vào lá cờ đỏ sao vàng người ta thấy được trùng trùng lớp lớp lớp đoàn quân đi trong khúc tráng ca, thấy được những chiến công oai hùng, thấy được sức mạnh toàn dân và thấy được đường đi nước bước của cả một khối đoàn kết quân dân. Lá cờ chói lọi với sao vàng năm cánh rực rỡ đã là biểu tượng rạng rỡ của nhân dân việt nam. Nhnì lá cờ ấy người Việt Nam thấy, thế giới liên tưởng đến những con người vĩ đại, những huyền thoại của thế kỷ: BÁC HỒ KÍNH YÊU, ĐẠI TƯỚNG HUYỀN THOẠI GIẢN DỊ VÀ ĐỨC ĐỘ VÕ NGUYÊN GIÁP và bao thế hệ, lớp lớp con cháu thời đại HỒ CHÍ MINH đang tiến bước, đang cống hiến để mãi mãi trường tồn một nước VIỆT NAM HÒA BÌNH, THỐNG NHẤT DÂN CHỦ VÀ GIÀU MẠNH.
    Tôi đã cố gắng để có vài chữ về lá cờ TAM TÀI nhưng thực lòng trong tôi chỷ hiển hiện, nhảy múa mấy ý niệm: CHAY, CHẠY, CHẠY NHANH KẺO ……. QUÂN CHẠY TƯỚNG CHẠY, TỔNG THỐNG CHẠY, CHEN NHAU ĐỂ KIẾM MỘT GHẾ TRONG CHIẾC TRỰC THĂNG TRÊN NÓC NHÀ ĐẠI SỨ QUÁN MỸ NHỮNG NGÀY CUỐI THÁNG TƯ- 1975
    Vẽ ra một lá cờ thì không khó, thậm trí một lá cờ có viền kim tuyến, dát vãng bốn số chín (9999) nhưng dân có theo hay không và lá cờ ấy làm sao để thành biểu tượng thì là một điều mãi mãi không thể của những người chống cộng hôm nay.ĐỪNG NGHE NHỮNG GÌ HỌ XÚI HÃY NGHE NHỮNG GÌ HỌ NÓI VÀ LÀM THÌ BIẾT NGAY HỌ LÀ AI. VÀ TÀI NĂNG, ĐỨC ĐỘ CỦA HỌ TO HƠN ĐỒNG ĐÔ LA NHƯ THẾ NÀO

    • noileo says:

      Nhìn vào lá cờ đỏ sao vàng người ta thấy được trùng trùng lớp lớp lớp người Việt nam bị bọn cộng sản Việt Nam dân chủ Cộng hòa, cộng sản Hồ chí Minh, cộng sản Võ Nguyên Giáp xử dụng làm công cụ chiến tranh phục vụ cho quyền lợi cộng sản.

      Lá cờ đỏ sao vàng của cộng sản chỉ thể hiện xương máu của người Việt nam bị cộng sản VNDCCH, cộng sản Hồ chí Minh & cộng sản Võ Nguyên Giáp & cộng sản Lê Duẩn và bọn trí thức cộng sản chân chính tim đỏ thẻ đỏ chuyên nghề làm chứng gian,

      lợi dụng chiêu bài yêu nước & lợi dụng chiêu bài độc lập dân tộc, lừa gạt & cưỡng bức làm công cụ chiến tranh, cầm súng đạn tàu cộng đi lùng sục khủng bố thảm sát đồng bào VN của mình, phục vụ cho quyền lợi cộng sản, phục vụ cho cuộc bành trướng chủ thuyết Mác Lê tội ác vào Việt nam, phục vụ cho tham vọng quyền lực bệnh hoạn của bọn cộng sản Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa vong bản ngoại lai tay sai giặc Tàu, phục vụ cho cuộc Hán hóa,

      hậu quả, sau 68 năm dưới lá cờ đỏ sao vàng cộng sản tàn ác, VN, dưới ách cai trị cộng sản cờ đỏ sao vàng, là một nước VN tụt hậu về mọi phương diện: kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự, quốc phòng, văn hóa, xã hội, giáo dục, càng ngày đê tiện, càng ngày càng thua kém lân bang,

      dưới lá cờ đỏ sao vàng cộng sản đê hèn ô nhục lãnh thổ VN càng ngày càng bị thu hẹp, bị bọn cộng sản cờ đỏ sao vàng theo truyền thống Hồ chí Minh bán nước cứu đảng, phất cao lá cờ đỏ sao vàng cộng sản cắt xẻ lãnh thổ VN thân yêu dâng cho tàu cộng, để bọn cộng sản cờ đỏ sao vàng ô nhục đuọc Tàu cộng chống lưng cho bọn cộng sản cờ đỏ sao vàng đuọc vững bền ngôi vị đầu nậu trấn lột nhân dân đất nước Việt nam, đàn áp trí thức, giam cầm tuổi trẻ, trấn lột dân nghèo, ăn cắp quốc khố, mãi quốc cầu vinh.

      lá cờ đỏ sao vàng vẫn hằng bị bọn cộng sản lăng nhục, đặt dưới lá cờ búa liềm độc ác đê tiện, không xứng đáng đuọc gọi là “quốc kỳ”, càng không xúng đáng đuọc gọi là “cờ tổ quốc”.

      Gọi lá cờ đỏ sao vàng cộng sản phi nhân phản dân tộc, vong bản ngoại lai tay sai giặc tàu là “cờ tổ quốc”, tức là nhục mạ tổ quốc Việt nam, tức là nhục mạ lịch sử Việt nam, tức là nhục mạ tổ tiên Việt nam.

      Tổ tiên VN luôn luôn nghiêm cấm con cháu VN rước tàu vào VN, nhưng chính là bọn cộng sản VNDCCH & HỒ chí Minh & Võ Nguyên giáp đã phất cao lá cờ đỏ sao vàng rước giặc tàu vào VN (1950) sau khi rước giặc tây vào hà nội tái chiếm VN (ngày 19-5-1946), lá cờ đỏ sao vàng cộng sản là lá cờ phản bội tổ quốc.

    • Phú Đảng Viên says:

      Chẳng lẽ ông muốn bọn Ngụy cứng đầu anh dũng đánh tới cùng để thêm chết chóc khó khăn cho chúng ta hay sao?

      Không viết thì thôi , viết ra là thấy ngu !

    • Trần Tưởng says:

      Chả có ai bàn về cờ quạ̣t ở bài này cả . Vào lầm chuồng rồi ,đồng chí !!!!

    • Tien Ngu says:

      Vỏ à Vỏ,

      Rủi có mắc bệnh tâm thần, cũng khùng vừa vừa thôi. Nước Việt Nam Cộng…láo, chịu không thấu với tự sướng mà…đói, dốt. Rốt cuộc cũng phải mở cửa theo tư bản kiếm cơm rồi.

      Năm 2013, mà Vỏ vẫn còn tự bơm, tự sướng chuyện cờ đỏ, chuyện anh Hồ lớp 7, chuyện anh Giáp cái rẹt lên…đại tướng thì, nghe thương quá Vỏ?

      Vỏ cứ nà nhắm con mắt, hát kiểu cò mồi VC, năm nào VN mới…mần ăn khá?

      Mẹ họ, thằng đánh, thằng đở, thằng nào cũng phải có…vọng ngoại mới có vũ khí mà đánh giặc lâu bền cho non nước bình yên…20 năm. Đùng một cái thằng đở không còn có chổ nào…vọng ngoại nữa, lấy cái gì mà đánh giặc Cộng cho…bền. Không chạy để nó vô nó…thiến dế à? Hát ngu vửa thôi. Giá như còn viện trợ ngon lành như tụi Cộng, có tướng nào chạy trong 20 năm đánh giặc Cộng không, Vỏ chỉ ra cho anh nghe chơi coi?

      Còn cái lá cờ đỏ của Vỏ, rỏ ràng nó là…con của Trung Cộng. Khi xưa Vỏ còn bé, Vỏ bị lừa, bây giờ Vỏ lớn lên, Vỏ phải…biết chút chút chớ? Nhìn kỷ coi anh Ngu nói có đúng hôn. Cái nào cũng…đỏ, cũng sao vàng, Biết mắc cở chút đi, Vỏ?

    • lethan says:

      Bị diễn đàn đánh cho te tua, bây giờ lại ôm nick mới để tiếp tục xả rác trên diễn đàn . Nhưng kỳ này chungson, conmeo, vietquoc, v…v…tự lột mặt nạ xưng lý lịch nó là tên Việt cộng chính hiệu .

      Này tên Việt cộng tienvo, chúng ông hưỡn đâu mà ngồi tán gẫu, giao du với bè lũ Việt cộng bẩn thỉu bán nước, cướp đất của dân lành . Xéo đi .

  9. tien võ says:

    Cũng chả có gì mà phải giấu giếm. Tự giới thiệu, tôi là một Đảng Viên ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM. Tôi sinh hoạt đảng tại một chi bộ ở Ang Giang. Câu truyện tôi kể đã được đăng trên ttxcc6 cách đây vài tháng. Nhưng bữa rồi tôi gửi lại cho Đàn chim… để thực nghiệm lại tính nhiệm màu của phương pháp TƯ DUY LOGIc mà những người Cộng sản vẫn áp dụng và quả thật trúng phóc không sai
    Đăng lại bài này với mục đích duy nhất là tôi chỉ chờ các bạn phản hồi NHƯ NHỮNG GÌ CÁC BẠN ĐÃ PHẢN HỒI. Tôi biết người Sài Gòn hào hoa và lịch sự nhưng tôi chắc chắn những người như TRỌNG DÂN, TIÊN NGU, DÂM TIÊN cũng rất biết phép lịch sự nhưng tâm đen của họ nó đen quá nên họ không thể lịch sự được nữa. Và giờ đây tôi chắc tôi cũng như bao người khác vẫn sẵn sàng gọi lá thằng Thiệu, thằng Diệm, thằng Nicxon khi chúng tôi đứng trước những tấm bia căm thù. Chắc các bạn cũng đã đọc và đã biết những lời tục tĩu đến thất học mà như cháu Tỉnh Tình Tinh nói là chỉ có bọn mèo mả gà đồng mới nói như vậy của mấy ông TRỌNG DÂN, TIÊN NGU, DÂM TIÊN chứ

    • noileo says:

      Trích: “Câu truyện tôi kể đã được đăng trên ttxcc6 cách đây vài tháng. Nhưng bữa rồi tôi gửi lại cho Đàn chim… để thực nghiệm lại tính nhiệm màu của phương pháp TƯ DUY LOGIc mà những người Cộng sản vẫn áp dụng và quả thật trúng phóc không sai.” ( tien võ says: 05/11/2013 at 22:29)

      Một cái B52 trị giá bao nhiêu tiền? Huấn luyện thành thạo một phi hành đoàn B52 tốn bao nhiêu tiền? Tổ chức & thục hiện một chiến dịch, một cuộc hành quân, một cuộc ném bom, với nhiều đợt B52, tốn bao nhiêu tiền, bao nhiêu công sức, bao nhiêu hy sinh?

      Thế mà chỉ để dùng vào việc đánh bom cái ao thả cá của Tiên Võ-một Đảng Viên ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, thôi à?

      Đảng Viên ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Tiên Võ sao mà khôn ngay thế !

      Đúng là kiểu tuyên truyền cờ đỏ sao vàng!

      Tất nhiên tuyên truyền nói nhảm mô đen cộng sản cờ đỏ sao vàng, như Tiên Võ nói nhảm thì chỉ có bọn ttxcc6 nào đó nó đăng thôi,

      chứ Đàn Chim Việt làm sao cho đăng cái câu chuyện nhảm nhí bịa đặt, què quặt, vô lý như vậy!

      Ít ra Tiên Võ phải nói lên sự thật là bọn cộng sản Võ Nguyên Giáp hèn nhạ, Lê Duẩn đê tiện đã đem mấy cỗ pháo phòng không cờ đỏ sao vàng, giàn phóng hỏa tiễn SAM, đến đặt cạnh đó, bên cái ao làng, bắt dân làng làm bia thịt che chắn cho bộ đội cờ đỏ sao vàng đồng chí của Tiên Võ “một Đảng Viên ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM”, như bọn lính Một Rắc của Sa đam hút sen đã bắt người dân Iraq làm bia thịt che chắn cho chúng vậy!

      • quandannambo says:

        không có vấn đề gì
        *
        ông cứ gọi là
        thằng Thiệu thằng Diệm thằng Nixon
        *
        chẳng sao cả
        *
        tôi
        vẩn thường nghe mấy ông xe ôm

        mấy ông công nhân bốc vác
        khi
        nói đến lảnh đạo trung ương
        thì
        họ gọi là thằng tất tần tật
        *
        thí dụ như
        *
        thằng hồ chí minh
        thằng vỏ nguyên giáp
        thằng trọng lú
        v v và v v
        *
        củng nên thông cảm với họ
        họ
        đả bị khủng bố
        bị hút máu hút mở
        hơn
        ba mươi năm trời
        *
        cho nên họ rất “bức xúc”
        *
        không được học hành
        họ
        chẳng biết phải phản đối bằng cách nào
        *
        vì vậy
        họ gọi lảnh đạo trung ương của việt cộng
        là bọn là thằng
        chỉ để xả xì trét
        *
        chẳng có gì mà ầm ỷ *

      • quandannambo says:

        giáp và duẩn
        *
        đả
        đem “chiêu” này vào áp dụng ở miền Nam
        hiệu quả rất cao
        *
        bọn chúng
        cứ đem súng cao xạ phòng không
        vào đặt ở
        nhà thờ đình chùa
        rồi
        thảnh thơi bắn máy bay mỷ ngụy
        *
        phi công mỷ ngụy
        phát điên vì “chiêu” này
        nếu không kềm chế được
        lở có phản ứng
        *
        thì
        các đồng chí giải phóng lu loa là
        máy bay mỷ ngụy
        bắn phá nhà thờ và đình chùa
        *
        thật là
        đỉnh cao trí tuệ
        của sự hiểm độc *

    • Tuấn Đảng Viên says:

      Ông vẫn chưa nhận ra phản hồi của mình đang làm quãng cáo không công cho ba người này hay sao?

      Sao ngu quá vậy?

    • lethan says:

      • Muốn Ấm No, Phải Lo Diệt Cộng

      • Làm sao bạn có thể
      • Đối thoại với Việt cộng
      • Khi mà chúng thật sự
      • Là lũ người manh động?

      • Làm sao bạn có thể
      • Tin được loài giặc cộng
      • Khi mà chúng luôn luôn
      • Dối trá và lật lộng?

      • Làm sao bạn có thể
      • Hòa hợp với cộng sản
      • Khi mà chúng ta là
      • Tự do và nhân bản?

      • Muốn không bị hủy diệt
      • Ta có thể khẳng định
      • Cộng sản phải chết tiệt
      • Đó như là chân lý!

      Thành Phạm

    • Austin Pham says:

      Sao không nói sớm để ban biên tập mang mấy cái xác dưới ao chôn chung với Lê Văn Tám?

  10. Nguyễn Trọng Dân says:

    @ thơ vẹm Nam, thơ vẹm Bắc , thơ vẹm bách hóa tổng hợp, thơ tối thui…

    Mấy em đầu óc dốt càn
    Mượn thơ người khác làm tàng được sao?

    Bài 7

    TỪ TRONG…

    Từ trong bản chất bạo tàn
    Đảng làm Đấu Tố giết càn dân ta
    Bây giờ cộng sổ gần xa
    HAI TRĂM NGÀN MẠNG TRẺ GIÀ CHẾT OAN !

    Từ trong quỷ quyệt giối gian
    Đảng gây chinh chiến điêu tàn quê huơng
    Bây giờ cộng sổ tỏ tường
    CHẾT HƠN MƯỜI TRIỆU THẢM THƯƠNG CHỦNG NÒI !

    Từ trong chủ nghĩa tôi đòi
    Đảng đi QUÁ ĐỘ để lòi ác ngu
    Dân tình bỏ xứ lu bù
    VƯỢT BIÊN HAI TRIỆU TRỪ BÙ CHẾT TRÔI !

    Từ trong tham nhũng tanh hôi
    Điêu tàn công quỹ Đảng lòi máu tham
    Nợ công đã đụng mức chàm
    HƠN BA MƯƠI TỶ AI LÀM TRẢ ĐÂY? ( tính theo đô la )

    Từ trong dòng máu tay sai
    Đảng đem non nước thẳng tay dâng Tàu
    Dân tình phản đối được sao?
    Tù đày trấn áp ĐÃ BAO NHIÊU NGƯỜI?

    Từ trong định huớng ngược đòi
    Cướp nhà cướp ruộng bao người lầm than
    Nước nhà chồng chất DÂN OAN
    VIẾT , VƯƠN BẮN ĐẢNG HỌ HÀNG HOAN HÔ !

Phản hồi