|

Hoàng Trúc Ly: Hành trình đơn độc của một thiên tài thi ca suốt đời phiêu bạt

 

Nhiều người chỉ biết Hoàng Trúc Ly qua những bài thơ đăng trên các báo, các tạp chí từ 1955 và về sau là thi tập Trong Cơn Yêu Dấu của anh, do nhà xuất bản Hướng Dương trên đương Lê Lợi ấn hành năm 1963, do họa sĩ Trịnh Cung vẽ bìa. Tác phẩm thi ca này còn khiêm nhường hơn nhiều so với số trang trong tập thơ Bi Ca của Hoài Thương – người phụ trách trang thơ của bán nguyệt san Thời Nay phát hành một năm trước  TCYD chỉ vỏn vẹn có 38 trang in trên khổ giấy lớn 21×25.

Còn về sách, theo tôi, chỉ riêng trong năm 1967 anh đã cho ấn hành – ít nhất, 2 tác phẩm văn là Tiếng Hát Lang Thang và Huyền Sử Một Kiếp Hoa. Ở hải ngoại tôi còn biết một tác phẩm khác của anh là cuốn Trạng Quỳnh cũng đã được một nhà xuất bản ở Houston – TX in lại vào năm 1984. Chưa kể những tập truyện mỏng ma quái, kỳ bí… hấp dẫn, luôn lối cuốn đọc giả do các chủ nhà in người Tàu cho phát hành từng kỳ hàng tuần trong thập niên 60 và đầu 70.

Đó là giai đoạn các loại truyện từng kỳ này được phát hành rộng rãi, bán với giá rẻ, nên rất ăn khách. Nhất là những truyện của Nghiêm Lệ Quân, Người Khăn Trắng, Sa Giang TTK,  Anh Thuần tức Hoàng Long … Chỉ riêng truyện Lời Thề Trong Đền Rắn và Ma Hời của Anh Thuần cùng các truyện võ hiệp Tây Sơn Nhạn của Sa Giang TTK cũng đã được một ông chủ người Hoa tại đường Phan Đình Phùng, gần trường Aurore cho tái bản mấy lần trong 2 năm 67-68. Sách các thể loại bình dân này thường được bán đứt. Người viết lấy tiền một lần, nên các ông “xì thẩu” kia tha hồ in đi in lại mà các tác giả không vì thế được chia hưởng thêm tiền tác quyền cho mỗi kỳ tái bản.

Cũng như Trần Tuấn Kiệt, sách của HTL viết cũng thường giao cho ông Khai Trí vì ông này là mạnh thường quân chính của 2 người. Không phải người chủ nhà sách lớn này luôn luôn cho in ấn các tác phẩm của 2 anh, mà vì thấy họ luôn thiếu thốn nên ông tìm cách trợ giúp, ngay dù cả khi họ “ham vui” quên cả việc sáng tác, nhất là HTL. Bởi từ đầu thập niên 60 ngoài việc thích rượu anh còn dấn thân vào việc “hít-tô-phe” tức nằm bên bàn đèn “hít cho phẻ” với ông Ngọc Tú – tức nhà văn Ngọc Thứ Lang, người dịch cuốn “Bố Già” rất nổi tiếng và được nhiều người hâm mộ thời bấy giờ.

Hoàng Trúc Ly tên thật là Đinh Đắc Nghĩa, sinh năm 1933 tại Đà Nẳng, nguyên quán Bình Định. Nghe nói sau khi đậu bằng tú tài Pháp [Baccaleauréat complet] anh đã ghi danh vào trường Luật, nhưng chẳng được bao lâu thì bỏ học vì không khí chật hẹp, nóng bức, chẳng thoải mái của các giảng đường. Anh là người trầm lặng, hiền hòa, ít thố lộ về cuộc đời riêng tư của mình và gia đình. Nhưng khi gặp bằng hữu thân thiết thì anh cười, mừng ra mặt, ánh mắt sáng ngời. Theo tôi, có thể bởi anh thường sống cô độc, trầm tư một mình, nên sợ cô đơn, cần có bạn bè để hàn huyên cho vơi bớt khỏang trống trong tâm tư.

Dù thân phụ anh là cụ Đinh Thúc Kiện có nhà ở trong khu Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến trên đường Cống Quỳnh hay sau này anh thuê gác trọ bên đường Nguyễn Cư Trinh, HTL vẫn hay đi bộ lang thang, độc hành dưới bóng chiều tà rồi tiện đường thì ghé ngủ đêm với bạn bè. Anh là người giao du rộng rãi, quen biết gần như hầu hết các văn nghệ sĩ, lại được họ quí mến bởi tánh hiền lành, chân thật của anh, nên mọi người ai cũng vui vẻ sẳn sàng tiếp đón. Chẳng hạn như nhà Hoài Điệp Tử ở khu Bùi Viện, nhà anh Phượng Hải ở khu Lò Gốm – Bình Tiên, Hồ Thành Đức ở Phan Thanh Giảng, Trần Tuấn Kiệt ở đường Phan Đình Phùng… và thỉnh thoảng ngủ lại nhà tôi khi quá chén. Những lần như vậy thì sáng tinh sương anh đã bỏ đi trong khi tôi còn đang ngon giấc.

Kế đình Phú Thạnh không xa có ông giáo Tư người Long An, ngâm rượu thuốc, rượu mít nướng – mà anh và Kiệt luôn cho rằng rượu của ông giáo này rất thơm ngon, đậm đà, nên khi có mặt anh Anh Thuần hay tôi ở nhà là anh tha hồ uống. Anh Việt Thu, hai anh Phạm Lê Phan và Tường Linh cũng thích và khen loại 2 rượu loại nhà quê này. Tôi thì chịu không dám thử, vì ngửi qua cũng biết độ rượu rất cao, cay nồng. Bởi vậy khi phải đối tửu thì các anh ấy khề khà cạn sạch 3, 4 chung tôi cũng chưa nốc xong ly 33 của mình. Tôi còn một điều dở nữa là rất kỵ mấy món “mộc tồn”, thịt rùa, rắn, tiết canh, trong khi các anh coi là món nhấm khoái khẩu, cao cấp. Do đó anh Phạm Lê Phan -người lớn tuổi nhất trong đám, thường mắng đùa: “Chơi với cậu chán bỏ mẹ. Đi câu thì bị cá chê mồi, uống với nhau thì cậu sợ món này món nọ, chẳng được cái tích sự gì cả. Nói hoài mà cũng không biết phục thiện.”

Tửu lượng của tôi thuộc hạng rất tồi do đó thân hữu thường liệt, cho là hạng “lục lục thường tài”. Trong khi những bạn thơ, văn khác của anh đều là các tay hủ chìm, hủ nổi mà tôi chẳng mấy khi dám gặp, vì sợ kiểu uống liên tu bất tận của nhiều vị kiện tượng trong số các tay văn nghệ sĩ này. Chẳng hạn như: Trần Tuấn Kiệt, Phan Yến Linh, Hoài Điệp Tử, Nguyễn Thụy Long, Phạm Quốc Bảo, Bùi Ngọc Tuấn, Dương Trữ La [Tâm Đạm], Khánh Giang, Phượng Hải, Hoài Điệp Tử, Anh Thuần, Anh Hợp, Tạ K‎ý‎, Hoàng Anh Tuấn, Hoàng Ngọc Liên, Hải Phương, Hồ Thành Đức, Tô Kiều Phương, Hoàng Thắng, Nguyễn Thu Minh, Anh Việt Thu, Thiên Hà, Lâm Tường Dũ, Trần Xuân Thành, Phương Triều…

Vả lại trước năm 71 tôi còn bận quân vụ, lại chỉ là kẻ viết lách tài tử, làm báo tùy hứng bằng nghề tay trái. Khác hẳn với đa số các anh là dân viết chuyên nghiệp vì vậy tôi chẳng mấy khi góp mặt trong các cuộc vui đông người. Năm 72 sau khi tôi được chuyển về làm công chức không lâu, thừa dịp chính phủ ra nghị định bắt buộc quân nhân, công chức nếu muốn tiếp tục hành nghề báo chí thì phải xin phép, tôi ngưng luôn. Từ đó tôi ít gặp lại anh em vì sợ sẽ bị bị rủ rê trở lại trò chơi văn nghệ mà tôi đã hết hứng thú. Ngay cả với HTL,Tường Linh, Du Tử Lê, Tô Thùy Yên, TTK là những người tôi rất thân kính.

HTL tuy ít nói nhưng tính dể chịu, thường hay kể chuyện vui, tích lạ, nên 2 đứa con tôi và cô cháu gái giúp việc cho gia đình tôi rất thích. Mỗi lần bác Hoàng tới nhà là cháu gái này mừng rở, lo phục dịch chu đáo, cả những lúc tôi vắng nhà. Cũng có khi anh đi biền biệt vài ba tháng không trở lại. Nhớ anh tôi chỉ cần chạy đến quán café Năm Dưởng nằm bên góc Nguyễn Thiện Thuật – Hồng Thập Tự, gần nhà Tam Ích tiên sinh là có thể gặp anh. Nếu không thì ở các quán bên lề dọc theo các đường Gia Long, Phạm Ngũ Lảo, Võ Tánh hoặc khu chợ Đủi… Đó là những địa điểm anh thường đến chung vui cùng thân hữu.

Buổi trưa khi cảm thấy trống vắng, anh thường vào nằm nghỉ trên ghế đá trong công viên Tao Đàn – góc đường Lê Văn Duyệt và Hồng Thập Tự. Nghe anh em cho biết HTL ngoài viêc viết sách, đôi khi còn làm việc bán thời gian cho CLB Cercle – tức sân quần vợt sát bên công viên này và sau lưng dinh Độc lập. Anh chẳng đề cập đến, nên tôi cũng chẳng hỏi.

Hoàng Trúc Ly qua đời ngày 23 tháng 12 năm 1983 [nhằm ngày 20 tháng 11 âm lịch] tại Sàigòn vì một người lái xe bất cẩn đụng phải khi anh băng qua đường Bùi thị Xuân.

Mặc dù giao du thân thiết với HTL nhiều năm tôi chỉ vừa được biết tên thân mẩu anh là bà Đào Tiểu Tố – bút hiệu Như Cúc. Bà là cháu nội của vị danh sĩ Đào Tấn [1845-1907], Bà được sinh ra tại Bình Định năm 1910 và hiện sống tại SG.  Dưới đây là bài thơ bà Đào đã làm để thương khóc con:

Ngày giỗ con
(Đắc Nghĩa Hoàng Trúc Ly)

Gió bạt mưa ngàn con ở đâu – Nắng hanh ngọn cỏ chắc con sầu
Con ơi! mẹ nhớ ngày sum hiệp – Dáng trẻ thân gầy áo sổ bâu.

Đắc Nghĩa con ơi đã mất rồi – Ớ tình ớ cảnh ớ con ơi
Trở trời trái nắng ai săn sóc – Trẻ dại con đành bỏ mẹ thôi.

Mồ con mẹ đã xây rồi – Thôi thì con ráng ngủ đi thôi
Ngàn thu vĩnh biệt con xa mẹ – Tóc bạc da mồi đã vắng con.

[Đào Tố Tố]

Em gái anh là cô Đinh Thị Xuân Hương tức nhà thơ Đinh Hương vừa qua đã gom góp thơ anh để xuất bản mà tên sách nghe thật lạ lùng: Người Lớn Khóc Trẻ Con. Cô này cũng có vài tác phẩm đã ấn hành tại SG.

Quanh HTL có nhiều huyền thoại về cuộc sống của anh và những nhân vật nữ trong các bài thơ của anh, nhất là nhân vật Hoàng Lan mà anh ví von là “hoa của trăm hoa”:

Nhà thơ Hoàng Trúc Ly qua nét họa của Vũ Huyên Giang

Hoàng Lan

Có phải vì em đang gỡ tóc – Cho mây từng sợi rối chân chim
Có phải hoa bay đầy cánh bướm – Vì em thay áo mái tây hiên

Ôi mới hôm nào như hôm qua – Tay ai bùa phép nắm đôi ta
Như nắm mùa đông hơ ngọn lửa – Cho tuyết đầu non chảy máu ra

Ôi mới hôm nào như hôm kia – Con đường chở nặng những đêm khuya
Cho nên bóng tối bay thành khói – Ánh mắt mờ sương lạc lối về

Ôi có hôm nào là hôm nay – Anh ghen vì gió đã choàng vai
Em đi như vẽ trên đường nắng – Em nói như đàn trong miệng ai

Anh là dòng sông mơ chín suối – Em là mặt trăng thèm mặt trời
Cách trở bốn mùa vây trái đất – Còn nghe đau xót thuở nào nguôi?

Họa sĩ Hồ Thành Đức cho biết anh đã từng đi cùng HTL đến nhà cô nữ sinh này. Cô sống tại Gò Vấp và đặc biệt là có mái tóc rất dài và óng ả, mượt mà, nhưng nhan sắc thì chỉ “thường thường bậc trung”. Đến đó họ Hoàng không vào mà chỉ đứng lặng lẽ ngoài đường ung dung nhìn vào. Còn một giai thoại khác mà nhiều người thường nhắc nhở đến sau khi 2 bài thơ lục bát tuyệt hảo dưới đây ra đời:

Ca sĩ 1

Từ em tiếng hát lên trời – Tay xoa dòng tóc, tay vời âm thanh
Giọt buồn chẻ xuống hồn anh – Lắng nghe da thịt tan tành xưa sau

Ca sĩ 2

Trời em tiếng hát lên từ – Âm ba tóc rối lững lờ vòng tay
Áo dài lùa nắng vào mây – Dấu chân hồng nhạn rụng đầy gió sương.

Hai bài thơ ngắn này nhiều người cho là HTL viết tặng nữ ca sĩ Thanh Thúy – hình minh họa trên, tranh vẽ chân dung TT của nữ họa sĩ Thanh Trí. Nhưng cũng có người cho là anh viết về nữ ca sĩ Thái Thanh. Tôi và Trần Tuấn Kiệt đã yêu cầu anh xác nhận, nhưng HTL chỉ mỉn cười nhỏ nhẹ đáp: “thơ moa làm xong ai muốn nhận là moa viết tặng riêng họ thì cũng chẳng sao, càng tốt.” Riêng anh Anh Thuần thì cho rằng 2 bài thơ trên HTL viết tặng một nữ danh ca khác mà tôi không tiện nêu tên. Cô này là vợ của một nhạc sĩ nổi danh. Vợ chồng họ là chủ một nhà sách và nhà chuyên xuất bản nhạc lớn, nằm gần đầu đường Trần Hưng Đạo quận 1 mà anh AT chơi rất thân với cả 3 người trong cuộc.

Còn một bài nhị thập bát tú khác mà có người cho là bài Ca sĩ 2 hay 3:

mùa Xuân còn gì thưa em – sáu giây rét mướt chưa mềm trăng khơi
cô đơn đỉnh núi gần trời – nghiêng vai xin khoác nụ cười áo xanh.

Tôi đồng ý với quan điểm của TTK để cho rằng bài này vốn mang tựa Nghĩ Về Tỳ Bà Hành. Thiển nghỉ những dòng thơ trên diển tả về một nhạc khí cổ thì đúng hơn là nói về dung nhan ca sĩ. Nhưng cũng không biết chừng chính anh HTL tự sửa lại tên bài thơ. Bởi nhiều tác giả cũng hay làm điều này sau khi thơ mình phổ biến một thời gian. Nhuận sắc, thay thế một số chữ, vài câu trong bài thơ là chuyện thường thấy, do đó ngay một bài thơ đôi khi chúng ta thấy có đến mấy dị bản.

Pages: 1 2

Phản hồi