|

Bài 1: Bắc Kinh sẵn sàng lãnh đạo thế giới?

Bài 1: Bắc Kinh sẵn sàng lãnh đạo thế giới?

Evan S. Medeiros, Nguyễn Ước dịch

Lời người dịch: Bài này được dịch toàn văn từ tiểu luận “Is Beijing Ready for Global Leadership” của Evan S. Mederios, đăng trong Current History – A Journal of Contemporary World Affairs (Lịch sử Hiện thời – Tạp chí Các sự vụ Thế giới Ðương đại), số đặc biệt China and East Asia (Trung Quốc và Ðông Á), tháng 9 năm 2009, xuất bản tại Hoa Kỳ.

Giới thiệu về tác giả, tạp chí ấy viết: “Evan S. Medeiros tháng Tám vừa qua, trở thành giám đốc các sự vụ Trung Quốc, Ðài Loan và Mông Cổ tại Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ. Ông hoàn thành tiểu luận này lúc còn làm chuyên viên cao cấp của RAND Corporation. Bài này phản ánh quan điểm riêng của tác giả, không phải của chính phủ Hoa Kỳ, HÐANQG (Hội đồng An ninh Quốc gia/Nationa Security Agenc) hay chính quyền Obama.”

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu là thời điểm sôi nổi đối với các nhà lãnh đạo Trung Quốc (TQ). Trong giới ưu tuyển (elite) tại TQ có không khí nhuốm mùi tự tin tất thắng. Truyền thông thế giới tràn ngập những suy đoán về sự nghiêng chiều của lịch sử từ Hoa Kỳ (HK) sang TQ. Mọi nền kinh tế chính của phương Tây đều bị chấn thương. Các định chế tài chính của họ từng có thời được xem là bạch y hiệp sĩ của chủ nghĩa tư bản toàn cầu nay ngã gục, một số chí tử. Giờ đây TQ kiêu hãnh có được ba ngân hàng lớn nhất thế giới, các vị trí từng bị những con vật to tướng của HK nắm giữ, như Citigroup và Bank of America.

Trong khi đó, nhóm G-8 trở thành lỗi thời, tựa một khái niệm bị biến đổi qua đêm. Nhóm G-20 xuất hiện làm kẻ kế thừa của nó trong thực tế, với TQ như một thành viên lãnh đạo. Hai hội nghị thượng đỉnh đầu tiên của các nguyên thủ nhà nước G-20 tổ chức tại Washington và Luân Ðôn, Mecca và Medina của hệ thống tài chính phương Tây đầy ắp cơ hội cho TQ. Trung Quốc – giờ đây là cường quốc thương mại và kinh tế lớn thứ ba của thế giới – sắp làm gì? Liệu nó có đảm đương trách nhiệm lãnh đạo toàn cầu?

Thực tế, các hành động của Bắc Kinh rất xa với những gì từng được dự báo bởi những người có khả năng thấy trước thuộc môn học mới “địa-kinh tế” (geo-ecomnomics). Tại hội nghị thượng đỉnh G-20 ở Washington tháng Mười Một năm 2008, đáp ứng ban đầu của TQ đối với cuộc khủng hoảng tài chính là, về cơ bản, nói rằng “Chúng tôi sẽ giúp thế giới bằng cách tự giúp mình.” Ðóng góp của TQ là gói kích cầu nội địa 4.000 tỉ Nhân dân Tệ (590 tỉ Mỹ kim), trong đó một số đã ở sẵn trong tiến trình giải quyết. Tại hội nghị thượng đỉnh Luân Ðôn tháng Tư năm 2009, TQ vận động hành lang để có tiếng nói lớn hơn trong Quỹ Tiền tệ Quốc tế (QTTQT – IMF) nhưng miễn cưỡng cam kết đóng góp nguồn tài chính để tái cung cấp vốn cho quỹ đó. Thậm chí người ta còn kể là đã có sự mặc cả Mỹ-Trung tại hội nghị thượng đỉnh này. Suốt cuộc thương lượng về các bản tuyên bố song hành dành cho báo chí, đã có sự đồng thuận rộng rãi về tính chất nghiệm trọng của khủng hoảng kinh tế và nhu cầu hành động phối hợp. Tuy thế, các nhà ngoại giao TQ đã chắc chắn một từ ngữ phải bị loại ra khỏi bản tuyên bố của họ: lãnh đạo.

Thái độ của TQ tại Washington và Luân Ðôn cho thấy nhiều chỉ dẫn có ích. Trung Quốc đã thật sự thành một diễn viên toàn cầu. Có một ít vấn đề toàn cầu mà TQ không nhất thiết phải dự phần để có giải pháp. Những nhà lập chính sách của TQ và dân chúng của nó, một cách đầy thiện cảm, chấp nhận sự chú ý và sự khác biệt ấy, kết quả có được từ địa vị của TQ như một cường quốc đang lên mà thế giới ngày càng cần tới nó. Tuy thế, đối với TQ, cũng có những giới hạn. Những nhà lập chính sách của TQ thường vạch rõ, vào những thời điểm đều đặn, rằng chính sách ngoại giao của họ phục vụ các mục tiêu cải tổ và phát triển ở trong nước. Các nhà lãnh đạo TQ sợ rằng việc đảm đương quá nhiều trách nhiệm sẽ làm chệch sự chú ý của họ và làm cạn kiệt tài nguyên quốc gia.

Kết quả là xuất hiện sự căng thẳng giữa cộng đồng quốc tế và TQ: thế giới muốn TQ làm nhiều hơn trong khi đó, Bắc Kinh sôi nổi dò dẫm lối đi của mình hướng tới qui chế mới tìm được cùng ảnh hưởng, các trách nhiệm, các kỳ vọng và những đòi buộc của nó. Trong khi có thể là một diễn viên toàn cầu, TQ chưa tự xem mình như một cường quốc thế giới – lại càng không là một lãnh đạo toàn cầu. Và các nhà lãnh đạo TQ muốn giữ nó theo cách đó, ít ra trong lúc này.

Cánh cửa cơ hội

Việc am hiểu quan điểm của TQ về vai trò của nó trong thế giới bắt đầu với việc hiểu rõ các kinh nghiệm của nó trong quá khứ. Các nhà lập chính sách và các học giả của TQ nhìn thế giới qua ba thấu kính đã được quyết định về mặt lịch sử; chúng nhuộm màu và điều chỉnh độ đậm nhạt các nhận thức của họ về địa vị của TQ.

Thứ nhất, TQ đang trong quá trình đòi lại qui chế của nó như một cường quốc chính trong khu vực, và cuối cùng, như một đại cường – dù mục tiêu sau không được xác định hay phát biểu rõ ràng. Các nhà lập chính sách và các nhà phân tích của TQ đề cập tới sự trỗi dậy của TQ như là “sự tái tiếp sinh khí” (revitalization) và “sự làm cho trẻ lại” (rejuvenation).

Thứ hai, nhiều người TQ thấy mình là nạn nhân của “100 năm hổ thẹn và bị sỉ nhục” trong bàn tay của các cường quốc phương Tây và nước ngoài khác, đặc biệt Nhật Bản. Cổ động của chính quyền TQ về sự nạn nhân hóa này được kể đi kể lại suốt hơn 60 năm qua, đã nuôi dưỡng tính nhạy cảm sâu sắc đối với tình trạng bị cưỡng bức bởi các sức mạnh ngoại quốc và đặc biệt, những xâm phạm (có thật hoặc được nhận thức) chủ quyền của nó.

Cuối cùng, TQ có quan điểm an ninh mang tính phòng thủ, nảy sinh từ những sợ hãi (dựa trên kinh nghiệm lịch sử) rằng các sức mạnh ngoại quốc sẽ khai thác những nhược điểm quốc nội của nó để kiềm chế hoặc ép buộc nó.

Các quan điểm vừa kể báo cho biết xác thực hơn những nhận thức của TQ về môi trường quốc ngoại hiện thời. Lúc này, có niềm tin được duy trì một cách rộng rãi rằng kết quả của TQ bị liên kết, một cách không thể gỡ, với phần còn lại của thế giới hơn bao giờ hết. Theo lời trong bạch thư quốc phòng của TQ năm 2008 thì: tương lai và vận mệnh của TQ ngày càng nối kết gần gũi hơn với cộng đồng quốc tế. Trung Quốc không thể phát biểu cô lập với phần còn lại của thế giới, và thế giới cũng không thể vui hưởng thịnh vượng cùng ổn định mà không có TQ. Cùng lúc đó, trong giới ưu tuyển vẫn lan tỏa dai dẳng một sự bất định về phạm vi và tính chất nghiêm trọng của những đe dọa các lợi ích an ninh và kinh tế của TQ. Ðối với một số người, TQ chưa bao giờ rất an ninh, đối với những người khác, số lượng và kiểu mẫu những hăm dọa ấy đang gia tăng, kích động sự bất ổn sâu xa trong tương lai gần.

Sau khi cân nhắc kỹ, các lãnh đạo chóp bu của TQ kết luận rằng môi trường quốc ngoại của họ thuận lợi và rằng khoảng thời gian từ 15 tới 20 năm tới biểu hiện một “cánh cửa cơ hội mang tính chiến lược” (zhanlue jiyuqi: chiến lược cơ hội kỳ) cho TQ để đạt mục tiêu tối hậu của nó là tái tiếp sinh khí cho quốc gia qua sự phát triển tiếp tục quân sự, xã hội và kinh tế. Các nhà lập chính sách của TQ tìm kiếm, tới mức khả thi, mở rộng cánh cửa cơ hội ấy thông qua ngoại giao.

Chiến lược nhất quán

Nhận thức của TQ về các lợi ích và điạ vị của nó trong thế giới đã sản sinh một chuỗi riêng biệt và rõ rệt các chính sách và mục tiêu ngoại giao có tính sách lược. Những cái đó bao gồm, một cách tập thể, một chiến lược quốc tế tương đối nhất quán (nhưng không luôn luôn chặt chẽ).

Trước hết, các nhà lập chính sách của TQ từng nói rõ trong nhiều thập niên rằng TQ tìm cách duy trì một môi trường quốc tế ổn định để tạo thuận lợi cho công cuộc cải tổ và phát triển tại quốc nội. Trọng tâm quốc nội ấy đưa tới sự đa dạng ngày càng tăng các yêu cầu quốc ngoại. Trung Quốc sử dụng linh hoạt ngành ngoại giao của mình để mở rộng việc tiếp cận các thị trường, vốn, kỹ thuật và tài nguyên thiên nhiên.

Thứ hai, TQ tìm cách làm cho cộng đồng quốc tế yên tâm rằng khả năng đang gia tăng của TQ sẽ không gây phương hại tới các lợi ích an ninh và kinh tế của các nước khác, cách riêng các lân bang châu Á của nó và những nước được nó xem là “các cường quốc chính”.

Thứ ba, chính sách ngoại giao của TQ, đặc biệt tại châu Á, là tìm cách giảm thiểu, một cách cá thể hoặc tập thể, năng lực hoặc ý nguyện của các nước khác muốn kiềm chế, cưỡng ép TQ hoặc ngược lại, gây trở ngại cho việc tái tiếp sinh khí của TQ.

Thứ tư, TQ đang phấn đấu để đa dạng hóa tiếp cận của nó vào năng lượng và các tài nguyên thiên nhiên khác, với việc đặt trọng tâm vào châu Phi, Trung Ðông và châu Mỹ La-tinh. An toàn năng lượng bao gồm việc đa dạng hóa nguồn cung cấp cùng lộ trình vận chuyển các cung cấp.

Thứ năm, TQ tìm cách giảm thiểu không gian quốc tế của Ðài Loan và giới hạn khả năng cung cấp tính chính thống cho Ðài Loan của các quốc gia khác. Những biểu thị của mục tiêu này đã dịu bớt trong năm vừa qua, theo sau các cải thiện trong quan hệ đôi bờ, nhưng nó vẫn là một mục tiêu cốt lõi.

Trung Quốc đã và đang phát triển một số các phương cách hiệu nghiệm mới để theo đuổi năm mục tiêu vừa kể. Bắc Kinh đã thiết lập “các quan hệ đối tác chiến lược” (strategic partnerships) với nhiều nước phát triển cũng như đang phát triển và khởi xướng “những cuộc đối thoại chiến lược” (strategic dialogues) cấp cao với nhiều cường quốc chính. Nó bao gồm các định chế đa phương, trong từng khu vực, và về một số chủ đề mang tính chức năng. Việc TQ mở rộng vai trò của nó trong các tổ chức hiện hành và việc TQ thành lập các tổ chức mới đã trở thành yếu tố chủ yếu trong hoạt động ngoại giao khu vực của nó.

Việc TQ sử dụng ngoại giao kinh tế thì cường mãnh và mang nhiều bộ mặt; nó không chỉ bao gồm thương mại song phương mà còn đầu tư trực tiếp ra bên ngoài, những sắp xếp tài chính, viện trợ phát triển, các hiệp ước tự do thương mại, để tiến tới những mục tiêu chính trị và kinh tế. Giờ đây, ngoại giao quân sự của TQ bao gồm sự tham dự bao quát các chiến dịch gìn giữ hoà bình của Liên hiệp quốc (LHQ), trao đổi quốc phòng ở cấp cao, phối hợp tập trận, huấn luyện và đào tạo phối hợp; mục tiêu chính của các nỗ lực nâng cao đó là làm yên tâm.

Liệu tất cả những điều vừa kể có ý nghĩa gì đối với vai trò của TQ trên thế giới?

Trung Quốc đã và đang hoạt động trên qui mô lớn bên trong – quả thật, ảnh hưởng có tính đòn bẩy một cách khéo léo – hệ thống quốc tế hiện thời để tiến tới các mục tiêu ngoại giao có tính sách lược của nó. Trung Quốc thấy trong việc sử dụng hệ thống hiện thời có nhiều cơ hội hơn là những bó buộc đối với việc tăng tiến các lợi ích của mình. Thái độ quốc tế của TQ không bị lèo lái một cách ý thức hệ. Bắc Kinh không theo đuổi một chính sách ngoại giao mang tính cách mạng vốn ưu tiên tìm cách sở đắc lãnh thổ mới, giả mạo các liên minh cân bằng, hoặc tiến tới các kiểu mẫu chọn lựa này nọ của phát triển kinh tế hay an ninh toàn cầu.

Tóm lại, TQ đang không ra sức để giật sập hoặc xét lại tận gốc những tập hợp hiện hành của các qui tắc, chuẩn mực và các định chế toàn cầu trong các sự vụ an ninh và kinh tế. Ðúng hơn, nó đang tìm cách làm chủ chúng để tăng tiến lợi ích của mình – một lối tiếp cận cho tới thời điểm này, đã chứng tỏ hoàn toàn sinh lợi cho Bắc Kinh.

Chắc chắn TQ không mãn nguyện với những thuộc tính nhất định của nguyên trạng hiện thời, thí dụ qui chế chưa được xác định của Ðài Loan và ưu thế toàn cầu của HK trong an ninh, và gần đây hơn, trong các sự vụ kinh tế. Phản ứng của Bắc Kinh là tìm cách ảnh hưởng mạnh mẽ lên hệ thống ấy để nói lên những quan tâm của mình. Chiến lược này bao gồm các nỗ lực nhằm giảm thiểu sức mạnh và ảnh hưởng tương đối của HK, thí dụ đặt vấn đề vai trò của đồng Mỹ kim như là tiền tệ dự trữ của thế giới. Nhưng hiện thời, TQ không tìm cách đối đầu với HK để thiết lập một trật tự thế giới mới, và nó cũng chẳng có năng lực để làm điều đó.

Lối tiếp cận tổng thể của TQ được điều chỉnh hơn, hướng tới việc lôi cuốn và ràng buộc những nước khác vào với nó. Nó mang tính thu hút hơn là đối đầu. Nó tìm cách tạo ra một môi trường tại châu Á, và một cách toàn cầu, trong đó các quốc gia bị lôi kéo, trở nên nương dựa và nhờ cậy vào TQ, và qua đó, tỏ ra tôn trọng đối với Bắc Kinh. Nó thấy đó như một cách làm giảm bớt những tổn thương có thể có, tối thiểu hóa những gò ép và như thế tối đa hóa tự do hành động.

Miễn cưỡng dẫn đầu

Thế giới quan và chiến lược quốc tế của TQ làm phát sinh một sự miễn cưỡng độc đáo đối với việc làm lãnh đạo toàn cầu. Trung Quốc muốn qui chế và ảnh hưởng ấy đi liền với các hoạt động tích cực toàn cầu của nó, nhưng nó lại e sợ những gánh nặng của vai trò lãnh đạo. Các nhà lãnh đạo TQ vẫn tiếp cận thái độ quốc tế của họ từ lập trường dành ưu thế cho các sự vụ quốc nội: dùng chính sách quốc ngoại để hỗ trợ những công tác phức tạp ngày càng tăng trong công cuộc phát triển xã hội và kinh tế tại quốc nội. Như thế, các nhà lập chính sách của TQ lo ngại rằng xứ sở mình không đủ lão luyện để làm một lãnh đạo toàn cầu hữu hiệu và rằng việc cố gắng đóng vai trò ấy sẽ làm chệch hướng các tài nguyên kinh tế và chính trị khỏi công cuộc phát triển quốc gia.

Khuynh hướng ấy có cơ sở mạnh mẽ trong học thuyết của Ðảng Cộng sản – một vật cản đầy ý nghĩa dù không phải chẳng thể vượt qua, cho sự thay đổi trong hệ thống chính trị Lê-ni-nít. Hai thập niên trước, Ðặng Tiểu Bình đã cảnh giác các nhà lãnh đạo TQ là “chớ phất lá cờ của mình” (bu kang qi: bất dương kỳ), và đừng dính đầu vào tranh chấp (bu dang tou: bất đương đầu), và có lẽ nổi tiếng nhất (và bí hiểm nhất) là câu họ Ðặng khuyên họ “giấu năng lực và đợi thời gian” (tao guang yang hui: thao quang dưỡng huy). Các ý tưởng ấy tiếp tục ảnh hưởng những cuộc tranh luận nội bộ, đặc biệt về các vấn đề chính sách đối ngoại gây tranh cãi, vốn đòi hỏi một cắt quãng với thực hành thời quá khứ. Xét theo sự nổi bật của các phán quyết của họ Ðặng trong tính chính thống của Ðảng Cộng sản, các ý tưởng ấy có thể cản trở – và đã và đang cản trở – các hoạt động quốc tế dễ thấy rõ cách ứng xử.

Trước đây cũng như hiện nay, có rất nhiều biểu thị mang tính sách lược của việc TQ miễn cưỡng đối với vai trò lãnh đạo. Phải mất gần một thập niên Bắc Kinh mới tỏ ý muốn ủng hộ hành động của Hội đồng Bảo an LHQ chống lại chương trình vũ khí hạt nhân của Bắc Hàn và Iran, chọn lựa sự ủng hộ các nước anh em đang phát triển cùng sự hoài nghi của họ liên quan tới vấn đề hạn chế số lượng và phổ biến đặc biệt vũ khí hạt nhân với vũ khí hóa học. Suốt mấy năm qua, TQ lẳng lặng từ khước lời khẩn thiết yêu cầu tham gia nhóm G-8, bằng cách lập luận phần nào rằng mình không đạt tới trình độ phát triển đó. Trong khi đó, Chủ tịch Hồ Cẩm Ðào, bằng thái độ hết sức hòa nhã, đã đặc biệt đặt tên cho chiến lược quốc gia của ông là “phát triển hòa bình” (peaceful development). Ông làm như thế để gởi đi tín hiệu rõ ràng và đầy đủ khát vọng tránh những kinh nghiệm của các cường quốc đang lên trong quá khứ (thí dụ Ðức Quốc xã và Vương quốc Nhật Bản) từng yêu sách lộ liễu quyền lãnh đạo toàn cầu bằng cách thách đố các cường quốc thống trị vào thời điểm đó.

Gần đây hơn, các nhà ngoại giao chóp bu của TQ nhanh chóng bác bỏ khái niệm về lưỡng quốc công quản có tính chiến lược Mỹ-Trung “G-2” (a US-China “G-2” strategic condominium) vì họ sợ nó sẽ đẩy, một cách đột ngột và không cần thiết, TQ vào điểm rọi sáng trên sân khấu thế giới ngay lúc nó đang cần phải giải quyết hoặc khắc phục một công tác chẳng khiêm tốn chút nào, đó là sắp xếp lại chiến lược tăng trưởng quốc gia. (Trong chỗ riêng tư, giới ưu tuyển TQ thú vị ý tưởng rằng HK và TQ sẽ được đối xử như hai xứ sở hùng cường nhất thế giới).

Còn một chỉ dẫn nữa cho thấy sự miễn cưỡng của TQ đối với vai trò lãnh đạo là nó tiếp tục thành thạo việc lạng lách tiến trình của các nhà nước khác và các định chế. Thí dụ, các nhà lãnh đạo TQ lặp lại rằng họ muốn tham dự đầy đủ vào những cuộc thương thảo quốc tế về biến đổi khí hậu và kiểm soát vũ khí, nhưng chỉ sau khi các cường quốc chính, vốn chịu trách nhiệm việc gây nên căn nguyên của vấn đề ấy, tạo được sự ràng buộc và những cam kết về phí tổn.

Những bó buộc về năng lực

Vai trò của TQ như một lãnh đạo toàn cầu bị giới hạn không chỉ do bởi thái độ miễn cưỡng của xứ sở ấy đối với việc đảm đương trách nhiệm mà còn do những bó buộc về năng lực. Thí dụ, guồng máy thư lại (bureaucracy) viện trợ quốc ngoại của Bắc Kinh đang chịu các vấn đề nghiêm trọng về truyền đạt và phối hợp. Không một cơ quan riêng rẽ nào đặt ra chính sách hỗ trợ ngoại giao và điều hợp sự cung cấp viện trợ nhân đạo và phát triển với phạm vi rộng lớn hơn nhiều của đầu tư hải ngoại được chính quyền ủng hộ. Thật thế, Bắc Kinh thậm chí còn không cho công bố con số riêng rẽ có bao nhiêu viện trợ phát triển chính thức và đầu tư được nhà nước yễm trợ mà TQ phân phối hằng năm. Lý do chính khiến TQ dài ngày chống lại việc tiến hành cuộc đối thoại đều đặn với các cơ quan HK về chính sách viện trợ quốc ngoại, đó là, một cách chính xác, Bắc Kinh không thể quyết định ai sẽ lãnh đạo phái đoàn TQ.

Về mặt ứng xử, sự thiếu phối hợp ấy đưa tới kết quả làm hại hình ảnh TQ cùng những lợi ích chính trị và kinh tế của nó, đặc biệt tại châu Phi. Thậm chí còn đặt TQ vào tình cảnh hiểu lầm với các định chế tài chính quốc tế, thí dụ QTTQT (IMF). Ðóng góp vào vấn đề ấy là sự kiện tại Bộ Ngoại giao của TQ không có một bộ phận kinh tế hữu hiệu nào để có thể phối hợp các mục tiêu đầu tư, thương mại và ngoại giao của nước đó. Một số cơ quan kinh tế chính của TQ, thí dụ Bộ Tài chính, là những định chế yếu ớt về mặt chính trị và ít có quyền lập chính sách kinh tế quốc tế. Những giới hạn ấy sẽ chỉ trở nên hiển nhiên hơn khi các hoạt động của TQ trong các định chế kinh tế toàn cầu ngày càng phức tạp và nổi bật hơn.

Trung Quốc đã hai lần cố thử và thất bại trong việc thành lập Bộ Năng lượng để phối hợp các cơ quan năng lượng quốc nội và những biểu thị quốc ngoại của chúng. Như Erica Downs thuộc Viện Nghiên cứu Brookings (Brookings Institution) lập luận, guồng máy thư lại về năng lượng cấp quốc gia của TQ thiếu nhân viên, thiếu ngân khoản và thiếu thẩm quyền chính trị so với các công ty năng lượng quốc doanh rất có ảnh hưởng, có nhiều nhân viên, nhiều ngân khoản và sở hữu quyền lực chính trị đáng kể.

Những mất cân đối ấy gây ra các hệ quả lớn lao trong chính sách ngoại giao của TQ. Những đầu tư vốn cổ phần (equity investments) của các công ty năng lượng TQ có ảnh hưởng thái quá trong việc uốn nắn các chính sách của TQ đối với Sudan, Trung Ðông, Nga và Trung Á. Trong những năm gần đây, nơi nào các lợi ích của công ty trệch hướng với các lợi ích của quốc gia thì cái đầu có khuynh hướng khống chế. Chủ tịch Hồ Cẩm Ðào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã nỗ lực đáng chú ý để xử lý vấn đề này.

Các nhược điểm thuộc loại ấy sẽ ngày càng trở thành vấn đề hơn cho những quan hệ ngoại giao của TQ khi quân đội cải tiến các năng lực sức mạnh dự phóng của họ và tiến hành những thao tác ở ngoài chu vi gần nhất của TQ. Một số hoạt động quân sự, thí dụ tuần tiễu bằng tàu ngầm, đã làm dậy lên những quan tâm trong các lân bang của TQ.

© Nguyễn Ước

Phản hồi