|

Dân tộc VN ơi, xin đừng để vuột cơ hội muộn màng!

 

vn

Tới bây giờ, Việt Nam vẫn còn lay hoay trong vòng chậm tiến, trong khi các quốc gia, năm mươi năm trước, từng ở cùng mức độ phát triển với Việt Nam, đã tăng tốc bứt phá và hiện nay có GDP/đầu người cao hơn Việt Nam từ gấp vài lần (Thái Lan, Mã Lai) tới gấp vài chục lần (Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore). Họ có cấu trúc xã hội, cấu trúc kinh tế, cấu trúc văn hóa-tư tưởng tiến bộ và hữu hiệu hơn Việt Nam làm nền móng để phát triển.

Trong vòng 60 năm qua, Việt Nam đã có nhiều cơ hội phát triển rất lớn, nhưng, xót xa thay, dân tộc chúng ta đã vứt bỏ hết cơ hội này đến cơ hội khác. Tôi tin rằng nếu dùng được một trong các cơ hội đó, Việt Nam hiện đã là một quốc gia rất phát triển rồi.
Hiện nay, mâu thẫn chính trên thế giới đã chuyển sang thành mâu thuẫn giữa Trung Quốc với Mỹ và đồng minh gồm Nhật, Hàn Quốc và Úc. Mâu thuẫn này đang mang tới cho Việt nam một cơ hội lớn nữa.

Bài viết này xem xét 3 cơ hội lớn trước đây Việt Nam đã bỏ lỡ, và từ đó thảo luận cơ hội đang bày ra cho đất nước.

PHẦN I: CÁC CƠ HỘI ĐÃ BỎ LỠ

a) Cơ Hội Những Năm 1954 – 1968:

Trong thời gian này, mâu thuẫn giữa hai khối Tự Do và Cộng Sản lên tới đỉnh cao, dù chấp nhận chung sống hòa bình toàn cầu nhưng đồng thời cũng đi vào giai đoạn cạnh tranh quyết liệt.

Nước Mỹ lúc đó là siêu cường toàn diện, về kinh tế, về khoahọc-kỹ thuật, về giá trị sống và theo đó là về phương thức tổ chức xã hội tự do và khai phóng.
Mỹ dẫn đầu thế giới Tự Do, thế giới trong đó môi trường sống Tự Do thúc đẩy sự phát triển con người cá nhân và cộng đồng xã hội. Lợi ích của Mỹ nằm trong việc bảo vệ thế giới Tự Do không bị xâm lấn bởi khối Cộng Sản. Khối Cộng Sản đang dược dẫn đầu bởi Liên Xô, và kế đó là Trung Cộng. Khối này mạnh về quân sự, nhưng kinh tế thì thua phương Tây, và cách tổ chức xã hội theo chính thể độc tài trong đó người dân không có các quyền tự do căn bản.

Để thực hiện Sứ Mạng ngăn chặn ảnh hưởng của khối Cộng Sản, Mỹ đã chọn miền Nam Việt Nam làm đối tác chiến lược. Mỹ dự định hỗ trợ Nam Việt Nam xây dựng một xã hội Tự Do, Dân Chủ và Giàu Mạnh làm hình mẫu cạnh tranh. Lúc đó miền Nam Việt Nam có dân số khoảng 18 triệu, tài nguyên thiên nhiên đầy đủ, dân chúng quen với tinh thần tôn trong con người, quen với nếp sống của xã hội Dân Chủ, Tự Do. Miền Nam Việt Nam hoàn toàn có đầy đủ điều kiện hợp tác với Mỹ xây dựng đất nước thành một thí dụ điển hình giàu mạnh và văn minh.

Như vậy, mâu thuẫn giữa hệ thống Tự Do và Cộng Sản đã tạo điều kiện và cho Việt Nam 15 năm để phát triển. Lẽ ra người Việt nên chọn chiến lược làm đồng minh với Mỹ, siêu cường kinh tế, kỹ thuật và tổ chức xã hội thời đó, để xây dựng đất nước hùng mạnh và ấm no. Lẽ ra, sau năm 1954, khi chiến tranh đã chấm dứt, hai miền của đất nước nên tận dụng thời cơ hòa bình để xây dựng và phát triển. Đau đớn thay, Việt Nam chẳng những đã không chọn lựa phương cách có lợi đó, mà còn gây nên cuộc chiến Chống Mỹ Cứu Nước, Giải Phóng Miền Nam. Hậu quả là đưa đất nước, về đối ngoại, vào thế thù địch với Mỹ và phương Tây, về đối nội, vào vòng hận thù, chém giết, tàn phá tương lai…

Một cơ hội rất lớn đã bị phung phí. Các độc giả có nghĩ rằng, nếu biết tận dụng cơ hội này, Việt Nam đã có thể hóa thành con rồng đầu tiên và con rồng rất lớn hay không?

b) Cơ Hội Những Năm 1975 – 1986:

Lúc này đất nước vừa chấm dứt cuộc nội chiến tương phân tàn khốc. Hoàn cảnh đó gieo trong lòng người dân một tình cảm hòa giải dân tộc sâu xa cùng ý chí phát triển đất nước mạnh mẽ. Sức mạnh tinh thần đó có thể khai sơn phá thạch đưa quốc gia cất cánh theo hướng rồng bay!

Do đất nước được thống nhất bởi Bắc Việt, Việt Nam có những mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp với khối Cộng Sản Liên Xô, Đông Âu, lúc đó đang trong thời kỳ mạnh mẽ và sẵn sàng ủng hộ Việt Nam.

Ngoài ra, Mỹ, dù đã bắt tay Trung Cộng và rút quân ra khỏi Việt Nam, vẫn còn giữ những mối quan hệ có thể tái lập tốt đẹp với Việt Nam.
Các quốc gia dân chủ hùng mạnh trên thế giới như Đức, Pháp, Anh, Nhật… cũng sẵn sàng đầu tư tại một Việt Nam đầy tiềm năng cất cánh.

Có thể nói, trên thế giới lúc đó hầu như Việt Nam là nước duy nhất có thể dùng nguồn lực của cả hai khối Tự Do và Cộng Sản. Hai khối đang trong thế chung sống hòa bình nên môi trường thế giới rất thuận lợi cho phát triển kinh tế.

Thật là thời cơ hiếm thấy khi cùng lúc Việt Nam có thiên thời, địa lợi, nhân hòa.

Thời cơ phát triển lớn như vậy, Việt Nam lại mắc các sai lầm không thể hiểu nổi:

1) Đối nội: Phá tan sự đoàn kết quốc gia bằng các chính sách Học Tập Cải Tạo, Tuyển Sinh Phân Biệt…; tàn phá cơ sở hạ tầng cứng và mềm của nền kinh tế quốc gia bằng các chính sách Cải Tạo Công Thương Nghiệp…

2) Đối ngoại: Đào sâu hơn các bất hòa khó hàn gắn với phương Tây và Mỹ. Thẳng thừng gạt bỏ bàn tay “bình thường hóa” quan hệ ngoại giao chìa ra của Mỹ. Gây nên các cuộc chiến hao tổn với Campuchia, Trung Cộng…

Sau năm 1978, trong khi Trung Quốc tiến hành cải tổ kinh tế, giao thiệp với phương Tây, kêu gọi đầu tư… thì Việt Nam tự biến mình thành nước bị cô lập trên thế giới. Trong khi Trung Quốc tăng trưởng kinh tế 8-9% một năm thì Việt Nam ngày càng kiệt quệ vì sa lầy trong cuộc chiến với Campuchia, vì bị cấm vận và vì nhân tài bỏ nước ra đi hoặc bị vùi dập trên chính quê hương…

Những năm 1975 – 1980 Việt Nam có điều kiện tốt hơn Trung Quốc để phát triển kinh tế. Trong khi xã hội Trung Quốc đông cứng trong chế độ Cộng Sản từ năm 1949, thì Việt Nam đã có sẵn miền Nam với cấu trúc kinh tế-xã hội mở và năng động.

Nếu tận dụng được cơ hội của những năm 1975 – 1980 thì Việt Nam đã chiếm tiên cơ phát triển trước Trung Quốc. Cả một đất nước đầy tiềm năng trãi dài trên ba ngàn rưỡi km bờ biển Đông và vịnh Thái Lan, có rừng núi, có sông lớn, có đồng bằng, có biển cả, có nguồn nhân lực dồi dào… đất nước đó mở rộng vòng tay đón nguồn lực tài chính và công nghệ cao cấp đến từ Mỹ, Nhật, châu Âu… thì chắc chắn phải phát triển với vận tốc cao hơn Trung Quốc và với chất lượng phát triển tốt hơn.

Một Việt Nam giàu mạnh như vậy, ước tính sẽ nắm trong tay dự trữ ngoại tệ 80-90 tỉ đô-la Mỹ (vào năm 1986,ước tính của tác giả) để tạo đà tiến xa thêm nữa mấy thập niên về sau, nước Việt Nam đó có bị Trung Quốc lấn lướt và lấn chiếm như hiện nay không?
Thêm một cơ hội rất lớn đến với dân tộc lại bị vứt bỏ!

c) Cơ Hội Những Năm 1986 – 1990:

Sau 11 năm với các sai lầm dìm đất nước xuống vực sâu, đảng CSVN cũng bắt đầu nhận ra “sửa đổi hay là chết”. Nhà lãnh đạo mang tai tiếng trong Cải Cách Ruộng Đất, cựu Tổng Bí Thư đảng CSVN, ông Trường Chinh, đã chủ trương một kế hoạch đổi mới tương đối căn bản so với thời cuộc lúc đó.

Từ năm 1986 trở đi, hàng hóa bắt đầu dồi dào tại Tp. Hồ Chí Minh và các thành phố lớn của miền Nam. Dân chúng các nước Đông Âu đồn đãi với nhau: Việt Nam đang đổi mới thành công, có thể là tấm gương cho sự đổi mới toàn bộ hệ thống các nước Cộng Sản…

Thời cuộc thay đổi tương đối nhanh. Trong những năm sau của thập niên 1980, dân chúng tại các nước Cộng Sản Đông Âu ngày càng nhanh chóng nhận ra các khiếm khuyết của cách tổ chức xã hội cộng sản. Các phong trào, tổ chức, lực lượng dân chúng tại Ba Lan, Hung, Tiệp, Rumani vạch trần tác hại khủng khiếp của chính thể độc tài toàn trị và kêu gọi đất nước từ bỏ chế độ Cộng Sản, tổ chức quốc gia theo chính thể Tự Do Dân Chủ. Những năm 1989-1990, bức tường Bá Linh bị phá bỏ, các nước Đông Âu như Ba Lan, Hungarry, Tiệp Khắc, Rumani, Liên Xô… nối nhau từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản và từ bỏ chính thể độc đảng toàn trị. Thời cơ cực lớn cho Việt Nam thoát chủ nghĩa Cộng Sản. Lúc này ông Nguyễn Văn Linh đang chức Tổng Bí Thư đảng CSVN.

Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của trào lưu Phản Cộng và Thoát Cộng trên thế giới. Trong nước bắt đầu dấy lên các tranh luận về bản chất và vai trò của đảng CSVN, về Dân Chủ, Tự Do… Đáng tiếc và đáng hận thay, trước trào lưu đó, ông Nguyễn Văn Linh, người bảo thủ và kiên quyết bảo vệ đảng CSVN bằng mọi giá, đã đưa nước Việt Nam ngược chiều tiến hóa văn minh của đa số các nước, nhất là các nước đã trãi nhiều kinh nghiệm xương máu dưới ách cộng sản.

Đối nội: Các chính sách cởi mở, cởi trói được siết lại. Tự do ngôn luận bị cấm triệt để. Các tiếng nói phản biện bị dập tắt. Hai đảng ngoại vi của đảng CSVN là đảng Dân Chủ và đảng Xã Hội bị yêu cầu tự giải tán. Những nhà bất đồng ý kiến Hoàng Minh Chính, Trần Độ, Nguyễn Hộ… bị bức hại tàn nhẫn. Ủy viên Bộ Chính Trị Trần Xuân Bách ủng hộ cải cách bị khai trừ.

Đối ngoại: Trong vai trò Tổng Bí Thư đảng CSVN, ông Nguyễn Văn Linh, với sự ủng hộ của ông Đỗ Mười, đã, sau hội nghị mờ ám Thành Đô, tròng vào đầu Việt Nam cái ách nô thuộc Trung Quốc, chính thức “mở đầu một thời kì Bắc thuộc mới” cho Việt Nam. Cái ách này, từ đó cho tới nay, ngày càng siết lại với các tác hại ngày càng nặng nề hơn mà chúng ta chưa tìm cách thoát ra được.

Để biết cơ hội mà Việt Nam đã bỏ lỡ lớn như thế nào, xin mới quí độc giả cùng xem các số liệu về GDP/đầu người (USD) của Ba Lan và Hungary qua các năm:

GDP/đầu người (USD)

Poland Hungary
1980 1,592 2,111
1985 1,896 1,985
1990 1,626 3,251
1995 3,605 4,409
2000 4,476 4,538
2005 7,982 10,925
2010 12,305 12,732
2014 15,047 13,433

Nguồn: List of countries by past and projected GDP (nominal) per capita, Wikipedia

Các số liệu cho thấy:

Sau 10 năm thoát Cộng, GDP/đầu người của Ba Lan tăng 275% (năm 2000 so với năm 1900). Và sau 10 năm nữa, năm 2010, GDP/đầu người của Ba Lan tăng 275% so với năm 2000. Tổng cộng, sau 20 năm thoát Cộng, GDP/đầu người của Ba Lan tăng 757%.

Sau 10 năm thoát Cộng, GDP/đầu người của Hungary tăng 140% (năm 2000 so với năm 1900). Và sau 10 năm nữa, năm 2010, GDP/đầu người của Ba Lan tăng 281% so với năm 2000. Tổng cộng, sau 20 năm thoát Cộng, GDP/đầu người của Hungary tăng 392%.

Vậy: dân chúng trong những nước thoát ra khỏi chính thể Cộng Sản giàu có hơn và lấy lại được các quyền tự do căn bản mà chính thể độc tài cộng sản đã tước đoạt của họ.

Riêng Việt Nam, nếu tận dụng được thời cơ này, thì chẳng những Việt Nam thoát Cộng mà còn thoát Trung. Những tính toán sơ khởi cho thấy nếu làm được như vậy thì hiện nay:

Việt Nam có thể có tổng GDP/năm gấp khoảng 2 lần hiện nay (ước tính của tác giả)
Việt Nam có thể có dự trữ ngoại tệ 400-500 tỉ đô la Mỹ (năm 2014, ước tính của tác giả)
Việt Nam là đối tác tin cậy của hệ thống các nước Mỹ, Tây Âu, Nhật…

Một Việt Nam như vậy sẽ đầy đủ lòng tự tín và tự hào dân tộc, tới mức Việt Nam đó có thể bảo vệ và phát huy các giá trị truyền thống dân tộc đồng thời thu nhập các giá trị văn minh thế giới. Lòng tự tín và tự hào cũng giúp dân chúng vượt qua dễ dàng các rào cản quá khứ tiến tới hòa giải hòa hợp dân tộc trong tình đồng bào cùng quyết tâm hướng tới một tương lai của ước vọng chung.

Một Việt Nam như vậy, nước Trung Hoa nào có thể ngang ngược bức hiếp?

PHẦN II: CƠ HỘI TRƯỚC MẮT

Kinh nghiệm lịch sử phát triển thế giới cho thấy, thời nào cũng có mâu thuẫn giữa các khối nước lớn. Đồng minh và đối thủ thay đổi tùy theo thời. Với thời đại hiện nay, mâu thuẫn giữa các nước và các khối nước còn đan xem với hợp tác và hội nhập của từng nước với nhau và với quốc tế, nên tạo một vẻ ngoài phức tạp và rối rắm.

Dù sao, vẫn phải lần ra cái mâu thuẫn chủ đạo. Các nước trung và nhỏ, nếu biết nương theo thời thế, dùng các mâu thuẫn đó một cách hữu hiệu, sẽ phát triển vượt bậc. Nước nào thất bại sẽ rơi vào vòng xoáy tụt hậu, như Miến Điện, Việt Nam, Bangladesh… hiện nay, hay thậm chí, vào vòng chiến tranh tan nát, như Aghanistan, Lybia, Iraq… Chú ý rằng, chưa xa hiện nay, Việt Nam cũng đã có 15 năm tan nát bởi nội chiến tương tàn…

a) Môi Trường và Khuynh Hướng Chính Trị của Khu Vực

Hiện nay, mâu thẫn chính trên thế giới đã chuyển sang thành mâu thuẫn giữa Trung Quốc (và Nga, tạm thời cũng liên kết với Trung Quốc) với Mỹ và đồng minh gồm Nhật, Hàn Quốc và Úc. Do vị trí địa chính trị của Việt nam, mâu thuẫn này đang mang tới cho Việt Nam một cơ hội rất lớn.

1) Trung Quốc thi hành chính sách bành trướng đòi quyền kiểm soát biển Đông

Các biệp pháp Trung Quốc thi hành như:
a) Đưa ra đường lưỡi bò lãnh hải
b) Dùng tàu hải giám xua đuổi hay húc chìm tàu cá nước khác trong vùng đòi hỏi lãnh hải vô lí của mình
c) Dùng biện pháp quân sự chiếm các đảo đang tranh chấp
d) Bồi đắp và xây dựng đảo nhỏ hay bãi đá ngầm thành căn cứ quân sự uy hiếp các quốc gia chung quanh
Các biện pháp trên đều bị các nước trên thế giới đánh giá là ngang ngược, không tuân thủ luật pháp và các nguyên tắc ứng xử chung.

2) Chính Sách này của Trung Quốc uy hiếp, xâm hại quyền lợi chính trị và kinh tế của các nước lớn
Do vị trí địa chính trị-kinh tế của biển Đông, đòi hỏi này của Trung Quốc uy hiếp, xâm hại quyền lợi chính trị và kinh tế của các nước lớn khác, trong đó có Mỹ, Nhật, châu Âu, Ấn Độ, Úc… Các nước này đang tìm cách liên kết nhau trên mặt trận quân sự, kinh tế, chính trị để bảo đảm con đường hàng hải huyết mạch biển Đông không thuộc quyền thống trị của một quốc gia riêng rẽ nào, trong hoàn cảnh hiện nay, quốc gia riêng rẽ đó chính là Trung Quốc. Về mặt trận quân sự là chính sách “chuyển trục” của Mỹ, là các liên minh quân sự Mỹ-Nhật, Mỹ-Úc, Nhật-Úc…, và có thể là Mỹ đưa tàu chiến vào tuần tra biển Đông. Về mặt trận kinh tế, quan trọng nhất là TPP.

3) Mong Muốn và Thái Độ Các Nước Đó Đối Với Việt Nam

Việt Nam có vị trí địa chính trị rất quan trọng đối với mâu thuẫn này. Việt Nam là Bản Lề của các nước Ấn Độ Dương và các nước Thái Bình Dương. Việt Nam là Bản Lề của các nước ASEAN lục địa và các nước ASEAN quần đảo. Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở vị trí trung tâm các thành phố lớn của ASEAN. Việt Nam là nước cùng với Phi Luật Tân nằm ở hai biên Đông và Tây của biển Đông. Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc và án ngữ biển Đông…

Việt Nam có khối dân lớn. Khối 90 triệu dân này đã trãi qua một ngàn năm bị Trung Quốc chiếm đóng, rồi giành lại độc lập, và từ đó tới nay đã tồn tại hơn một ngàn năm dưới sức ép xâm chiếm liên tục của Trung Quốc, được trui rèn qua 9 cuộc chiến tranh chống Trung Quốc xâm lăng.
Hẳn nhiên, Việt Nam là tác nhân rất quan trọng trong chính sách “chuyển trục” lực lượng quân sự của Mỹ sang vùng này của thế giới. Việt Nam cũng là tác nhân không thể thiếu trong chiến lược bảo vệ biển Đông như là con đường hàng hải chung của thế giới.
Với tầm quan trọng như vậy, Việt Nam phải có thực lực quân sự và thực lực kinh tế.

Do đó, các nước Mỹ, Nhật… đã công khai bày tỏ mong muốn cung cấp cho Việt Nam vũ khí đủ sức tuần tra, phát hiện, ngăn chặn các xâm chiếm lãnh thổ. Hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa rất quan trọng cho ý đồ độc chiếm biển Đông của Trung Quốc. Từ năm trăm năm nay, các chính quyền tiếp nối nhau của Việt Nam đã liên tục thực thi chủ quyền lãnh thổ trên hai quần đảo này mà Trung Quốc không có vai trò gì cả. Chỉ cần Việt Nam bảo vệ được chủ quyền của mình trên hai quần đảo này (hay ít nhất, trước mắt, trên quần đảo Trương Sa) là góp phần giải quyết phần quan trọng của vấn đề biển Đông. Các nước trên cũng mong muốn Việt Nam tham gia tập trận chung, và từ đó có thể phát triển thành nền móng cho liên minh quân sự về sau…

Về kinh tế, TPP là một dự án lớn mà Việt Nam sẽ rất có lợi khi tham gia, vì sẽ có điều kiện phát triển kinh tế và dần dần “tự chủ hóa” nền kinh tế của mình khỏi vòng lệ thuộc tệ hại vào Trung Quốc như hiện nay. Các quốc gia chủ chốt trong dự án này, nhất là Mỹ, Nhật rất muốn Việt Nam tham gia.

b) Tác Động của Chính Sách Bành Trướng của Trung Quốc Đối Với Việt Nam

Chỉ cần lướt qua một số sự việc đã xảy ra từ năm 1974 tới nay, chúng ta cũng cảm và thấy được các tác động của chính sách bành trướng này.

Năm 1974: Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa từ miền Nam Việt Nam
Năm 1979: Trung Cộng tiến công biên giới, giết hại hàng trăm ngàn chiến sĩ và dân chúng Việt Nam
Năm 1988: Trung Cộng đánh chiếm biển đảo, giết chết 64 chiến sĩ Việt Nam.

Từ đó tới nay là các quấy nhiễu liên tục trên biển, từ giấu mặt đâm chìm tàu cá Việt Nam, cho tới ngang nhiên lập Tam Sa, cắt cáp biển, mang giàn khoan khủng vào cắm trên thềm lục địa Việt Nam. Và gần đây là xây căn cứ quân sự trên các đảo thực và đảo nhân tạo mà họ mới chiếm từ tay Việt Nam.

Chính sách này cùng các hành động đơn phương và bất chấp luật pháp của Trung Quốc gây các tác động trước mắt là cướp đoạt một phần chủ quyền biển, đảo của Việt Nam, giết hại dân chúng, ngư dân Việt Nam, cướp đoạt tài sản biển đảo của Việt Nam, uy hiếp an toàn toàn bộ lãnh thổ của Việt Nam.

Về lâu dài, nếu chấp nhận các việc này như “đã rồi”, VN sẽ ngày càng lệ thuộc, càng suy thoái, và nguy cơ “rơi vào vòng Bắc thuộc lần thứ hai” ngày càng hiển hiện. Sau một đời tận tâm phục vụ đảng CSVN, ở vị trí ủy viên Bộ Chính Trị, rồi ông Nguyễn Cơ Thạch cũng thấy được điều mà ông Ngô Đình Nhu đã cảnh báo khẩn thiết 30 năm trước đó!

c) Việt Nam Nên Có Đối Sách Gì?

Đây là một đề tài rất quan trọng, nhà cầm quyền cần sự tham gia góp ý của những người dân quan tâm và muốn đóng góp vào quá trình vạch chính sách cho đất nước.

Tác giả, với tư cách một người dân có quan tâm, xin mạnh dạn nêu ý kiến của mình qua trả lời hai câu hỏi:

1) Việt Nam Nên Theo Phe Mỹ-Nhật hay phe Trung Quốc?

Kinh nghiệm ngàn năm chống chọi với tham vọng và ý đồ xâm lăng của Trung Quốc, kinh nghiệm 150 năm kể từ khi Pháp đến Việt Nam cho tới nay, các quan sát và chiêm nghiệm những ván cờ tranh chấp chính trị giữa các quốc gia cùng với sự phát triển của các con Rồng cất cánh trong vòng 50 năm trở lại đây, cho chúng ta bài học rằng:

Việt Nam không theo ai cả, mà chỉ theo chính Việt Nam.

Điều này phù hợp với các nhận định sau:

1) Lực lượng lớn nhất, tin cậy nhất mà nước Việt Nam có thể dựa vào là dân tộc Việt Nam. Dân tộc này sẽ quyết định họ muốn sống trong một nước Việt Nam như thế nào, và dân tộc này có đủ khả năng xây dựng nước Việt Nam như ước muốn đó. Để làm được điều này, dân tộc này bên trong phải xây khối đoàn kết dân tộc vững chắc, nghĩa là tổ chức sự hòa giải hòa hợp dân tộc rộng lớn, bên ngoài phải biết cách, trong tư thế tự chủ, dùng các nguồn lực quốc tế thích hợp để xây dựng tổ quốc giàu mạnh và ấm no cho đa số rộng khắp dân chúng.

2) Các cường quốc và siêu cường có liên quan trực tiếp như Úc, Ấn, Nhật, Mỹ… cũng chia sẽ ý tưởng tự nhiên này. Bản chất của các quốc gia dân chủ tự do là tôn trọng con người, từ đó mà nghiêng về quan điểm các bên cùng thắng (WIN-WIN) trong công bằng và minh bạch. Đây là quan điểm văn minh, tiến bộ trong giao thương và giao thiệp quốc tế. Do đó, các quốc gia này mong muốn được góp phần với nhân dân Việt Nam xây dựng một nước Việt Nam dân chủ, tự do, giàu mạnh đủ sức tự chủ mà không bị bất kì một cường quốc hay một siêu cường nào bức hiếp. Nước Việt Nam mạnh bước trên con đường tiến lên đó chắc chắc có đóng góp tích cực vào cục diện hòa bình và ổn định của khu vực, bảo vệ tuyến đường hàng hải quốc tế biển Đông. Đây chính là lợi ích của thế giới cũng đồng thời là lợi ích rất to lớn cho Việt Nam, là thời cơ mà nước ta không nên bỏ lỡ để thoát chậm tiến, thoát yếu nghèo.

3) Việt Nam không chống Trung Quốc. Không gây hại cho Trung Quốc. Tuy nhiên cần thấy rõ, nước Trung Quốc bành trướng hiện nay không có quan điểm tích cực và tiến bộ trong giao thương và giao thiệp với Việt Nam. Họ chỉ muốn họ THẮNG. Họ chỉ muốn Việt Nam là phiên quốc của họ, là đàn em xung kích theo ý đồ của họ. Họ can thiệp vào việc xếp đặt bộ máy lãnh đạo cao cấp của Việt Nam. Họ can thiệp vào chính sách ngoại giao Việt Nam theo cách để Việt Nam không thể tự chủ, tự lập. Sự gia nhập WTO chậm trễ của Việt Nam là một thí dụ Việt Nam không nên quên. Các cuộc chiến biên giới và biển đảo cùng thực trạng biển đảo hiện nay là những thí dụ khác… Do vậy, Việt Nam cần xây dựng để tiến về hướng tự chủ bảo vệ quyền lợi trước mắt và tương la phát triển lâu dài. Đương nhiên, Việt Nam sẽ hoan nghênh và hợp tác tích cực với một nước Trung Hoa có cung cách giao thiệp văn minh và không xâm phạm quyền lợi của Việt Nam.

2) Việt Nam Nên Xác Định các Mục Tiêu Chiến Lược Nào?

A) Mục Tiêu Tối Thượng Của Quốc Gia

Trước hết, Việt Nam cần Xác Định Rõ Mục Tiêu Tối Thượng của Quốc Gia cho giai đoạn hiện tại. Mục Tiêu Tối Thượng đó nên chứa các ý chính như sau:
Đất Nước Giàu Mạnh và Văn Minh, Đủ Sức Giữ Vững
Nền Tự Chủ và Toàn Vẹn Lãnh Thổ

B) Các Mục Tiêu Chiến Lược để đạt được Mục Tiêu Tối Thượng Của Quốc Gia

Để đạt được Mục Tiêu Tối Thượng nói trên, Việt Nam cần xác định các Mục Tiêu Chiến Lược trên các mặt sau:
Kinh Tế – Quân Sự
Các Đối Tác Trên Thế Giới Hài Lòng và Ủng Hộ
Dân Chúng Trong Nước Hài Lòng và Ủng Hộ
Trình Độ Dân Trí Được Nâng Cao

Về Kinh Tế – Quân Sự, một số Mục Tiêu Chiến Lược có thể là:
Gia Nhập TPP
GDP tăng trung bình 8%-10%/năm (2015-2020)
Dự Trữ Ngoại Tệ: 150 tỉ đô la Mỹ năm 2020
Quân Sự (các chỉ tiêu cụ thể về Quân Sự như ngân sách quốc phòng…)

Về Các Đối Tác Trên Thế Giới Hài Lòng và Ủng Hộ, một số Mục Tiêu Chiến Lược có thể là:
Thực Thi Các Yêu Cầu Phổ Quát của Thế Giới về Nhân Quyền
Tham Gia Liên Minh với Mỹ, Nhật, Úc…
Giữ Giao Thiệp Tốt với Trung Quốc

Về Dân Chúng Trong Nước Hài Lòng và Ủng Hộ, một số Mục Tiêu Chiến Lược có thể là:
Tự Do Lập Hội
Lập Công Đoàn Độc Lập
Đa Đảng
Tự Do Ứng Cử, Bầu Cử chọn đảng thành lập chính quyền
Tam Quyền Phân Lập

Về Nâng Cao Dân Trí, một số Mục Tiêu Chiến Lược có thể là:
Đa Nguyên
Tự Do Ngôn Luận – Báo Chí Tư Nhân
Kính thưa quí độc giả, trên đây là các ý kiến chân thành mong góp phần mình trong cuộc thảo luận sâu sắc và rộng rãi sắp tới của các chuyên gia và nhà chính trị về tương lai Việt Nam.

Tương Lai Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh đất nước đang bế tắc trong chọn lựa chính thể thích hợp để phát triển và giữ vững chủ quyền trước mưu đồ xâm lấn của Trung Quốc, luôn là chủ đề thôi thúc suy tư…

© Trần Quí Cao

© Đàn Chim Việt

7 Phản hồi cho “Dân tộc VN ơi, xin đừng để vuột cơ hội muộn màng!”

  1. Võ Đình Tuyết says:

    Việt Nam bây giờ là một nước cộng sản không có đồng minh,không có anh em,không có tình nghĩa,không có bạn bè.
    Không có một cơ hội nào cho đất nước Việt Nam khi còn chế độ cộng sản.
    So với các nước đang phát triển Châu Á bây giờ,Việt Nam chỉ là loài ngu dốt,chậm tiến,tiếm quyền và ích kỷ.Sự se sua của những tay ( con ông cháu cha) có bằng cấp ngoại quốc như con thủ tướng Dũng chỉ làm thêm băng hoại nước nhà.Bởi vì họ không bao giờ biết thế nào là chữ yêu nước.
    Nếu không có Người Việt tị nạn cộng sản hải ngoại ra đi từ năm 1975, cho đến sau nầy, thì Việt Nam đã trở thành trong những nước nghèo nhất thế giới và đất Việt sẽ là nơi buôn người có bằng cấp hẳn hoi do chính quyền cộng sản chủ mưu.
    Trong mọi thời đại dân tộc Việt suốt bao đời chỉ có luồn cúi và bị đô hộ của người Tàu,nhưng chưa
    bao giờ tệ hại và khốn kiếp như chế độ cộng sản bây giờ.
    Thế giới Tây Phương tự do chẳng bao giờ trở thành một người bạn của chế độ cộng sản Việt Nam,một chế độ lừa lọc,nhỏ mọn,tính toán,hèn hạ,dối trá vào bật thượng thừa.
    Ho chỉ có con đường duy nhất là đưa đất nước vào quỹ đạo cai trị của chính quyền Trung Cộng và giử quyền lực cai trị lương dân..Bọn lãnh đạo vẫn tiếp tục cho con cái tài sản chạy sang các quốc gia tự do phương tây để đề phòng một ngày chúng bị thất sũng và luật lệ ở đó sẽ bảo đảm tính mạng và tài sản của chúng trên danh nghĩa hợp pháp.
    Không có và không bao giờ có một cơ hội cho Việt Nam nếu chế độ cộng sản trá hình vẫn còn tồn tại.Mác, Mao, hay Lê Nin,Stalin hay ai nữa chỉ là sản phẩm trừu tượng,vô cảm, che mắt sau một bọn an cướp tài sản hút máu nhân dân.
    Chưa bao giờ Đất Nước Việt Nam cô đơn và quạnh hiu trên (cánh đồng vô tận) của ngôi nhà chung trái đất hôm nay,thì những cơ hội vuột mất là chuyện nhỏ ai cũng biết. Khi nhìn vào tương lai: cơ hội nào cũng sẽ chẳng còn, còn chăng là những (cánh đồng hoang vu) của bầy kên kên đang rỉa từng miếng xương thịt rã nát của ngôi nhà Dân Tộc Việt.

  2. Chiêu Dương says:

    Việt Nam Nên Có Đối Sách Gì?…Việt Nam không theo ai cả, mà chỉ theo chính Việt Nam.Không theo ai cả mà VN có được tự chủ (!), có được giàu mạnh (!) hoàn toàn là một chủ đề ảo chỉ có trên giấy mực, trên computer. VN là mãnh đất nằm trên vùng gió mùa, nửa năm gió đàng này, nửa năm gió chiều kia; cho nên, để tồn tại người VN đã có câu “gió chiều nào che chiều đó”. Câu tục ngữ này hiểu theo nghĩa bóng là một hành động xấu, không có lập trường rỏ ràng; nhưng, xét nó trong hoàn cảnh địa lý gió mùa của VN, rỏ ràng đó là cách để tồn tại, không bị gió thổi bay đi; không cứng nhắc cầm khiên hướng về một phía.

    Từ thế kỷ 18 trở về trước, ngọn gió “bắc xâm” cứ thổi vào VN, vậy nên, phải che chắn ngọn gió “bắc xâm” này, nói cụ thể phải chống Tàu để tồn tại.
    Từ nửa thế kỷ 19 đến gần giửa thế kỷ 20, ngọn gió “tây xâm” thổi vào VN, phải che chắn ngọn gió “tây xâm” này, nói cụ thể phải chống Pháp để tồn tại.
    Từ giửa thế kỷ 20 ( 1950 ) cho đến bây giờ, ngọn gió “bắc xâm” lại thổi vào VN như tác giả đã xác định nước Trung Quốc bành trướng hiện nay không có quan điểm tích cực và tiến bộ trong giao thương và giao thiệp với Việt Nam. Họ chỉ muốn họ THẮNG. Họ chỉ muốn Việt Nam là phiên quốc của họ, là đàn em xung kích theo ý đồ của họ.Vậy nên, lại phải che chắn ngọn gió “bắc xâm” này, nói cụ thể, lại phải chống Tàu cọng để tồn tại.

    Xin đừng có ấm ớ hội tề rằng thì mà là “không theo ai cả”. Lấy nước bọt mà chống Tàu cọng ??? hay đánh Tàu trên game của vi tính ??? Việc “theo” cũng như “chống” của thế kỷ 21 đòi hỏi những cái đầu am tường thông suốt ít nhất một chuổi “quốc phòng – kinh tế – chính trị – ngoại giao – xã hội”. Chính vì thiếu sự thông suốt này mà giới tri thức Việt cứ loay hoay không biết theo ai để giải quyết vấn nạn của đất nước. Nói cụ thể hơn, tại sao không biết theo Mỹ để có quốc phòng và kinh tế vững mạnh, tại sao không theo Nhật để có một nền ngoại giao đa dạng trong sức ép căng thẳng giửa 2 thế lực giằng co trong vùng, tại sao không biết theo Úc, Hàn để xây dựng một xã hội lành mạnh. Mỹ, Nhật, Úc, Hàn đang cùng một nhóm, tại sao VN không chọn theo nhóm này mà cứ mê khói thuốc phiện gây nên ảo giác “độc lập” ! ! !

    Chỉ theo chính VN ! Theo VN là theo cái gì ? Tác giả yêu cầu dân tộc này bên trong phải xây khối đoàn kết dân tộc vững chắc, nghĩa là tổ chức sự hòa giải hòa hợp dân tộc rộng lớn, bên ngoài phải biết cách, trong tư thế tự chủ, dùng các nguồn lực quốc tế thích hợp để xây dựng tổ quốc giàu mạnh và ấm no cho đa số rộng khắp dân chúng.

    Thành thật xin lổi tác giả trước khi nói (vì tôn trọng cái tâm huyết của tác giả đ/v đất nước ), những yêu cầu của tác giả chỉ thể hiện được trên phim trường hay sân khấu vở tuồng thôi ạ. Đất nước VN có được chính sử cũng đã hơn một ngàn năm, người VN chỉ xây khối đoàn kết dân tộc vững chắc khi chống ngoại xâm, đở thiên tai . Khi hết ngoại xâm, thiên tai họ quay ra cắn xé nhau toé máu. “Hòa giải hòa hợp dân tộc rộng lớn” chỉ có trên mồm mấy tay con buôn chính trị và trên mơ ước của những người tâm huyết với đất nước.

    Khó thấy ở một xứ nhiệt đới nào mà con người ở đó có hoà hợp hòa giải rộng lớn. Mong tác giả có những đối sách thực tế hơn.

  3. UncleFox says:

    Những điều tác giả gợi ý thì mọi người quan tâm đến tình hình đất nước, nhất là ĐCSVN đều hiểu rất “sâu sắc” . Tuy nhiên, Đảng ta cực lực chống lại tất cả các đề nghị trên, chỉ vì “đề xuất” đa đảng là một cái đồ trận bát quái mà hướng nào cũng là tử địa cho ĐCS ta cả .
    Vì thế, khi nào các vị thân hào nhân sĩ lãnh đạo các đảng phái mở một hội nghị Diên Hồng, công nhận ĐCSVN mọi lúc phải có 60% (hay hơn nữa càng tốt) số đại biểu quốc hội mà không cần thông qua bầu cử … thì chúng tôi mới có đủ tự tin mà chia quyền lãnh đạo đất nước cho quý vị . Bằng không thì quý vị nên dẹp bỏ cái ý tưởng hão huyền đi . Có ngon thì nổi dậy lật đổ chính quyền cách mạng … Nhưng nhớ đừng già néo đứt dây, coi chừng chúng tôi bí quá giao trả cái lệnh bài thái thú lại cho Thiên Triều thì tẽn tò cả lũ đây nhớ !

  4. CÁI NGU DỐT THỨ 16 CỦA KARL MARX : LÝ THUYẾT BIỆN CHỨNG HAY SỰ MÊ TÍN VÀO QUAN ĐIỂM BIỆN CHỨNG LUẬN CỦA HEGEL

    Loạt bài viết ngắn này ban đầu đáng lẽ tôi chỉ dự định viết cơ 5 bài, song thấy chưa đủ nên tăng lên thành 10 bài, và bây giờ xin viết bài thứ 16 như là bài kết thúc. Tôi nghĩ đây cũng là dịp để rửa mặt cho dân tộc VN, vì gần suốt 100 năm toàn bộ đất nước chỉ thấy ngập chìm vào học thuyết Mác một cách mù quáng, thấp kém, ấu trĩ, không thấy ai chỉ ra những điểm sai lầm nghiêm trọng của nó, cho dù đó là Trần Đức Thảo, bởi vì do sự sợ hãi hay do chính sự hiểu biết hạn chế. Đây có thể coi như sự rửa nhục của một đất nước có cả nhiều ngàn năm văn hiến.

    Có thể nói học thuyết Mác không thể có nếu không có học thuyết của Hegel, bởi vì cơ bản của học thuyết Mác là dựa vào biện chứng luận của Hegel, không có biện chứng luận này cũng không có học thuyết Mác. Tức không có biện chứng luận duy tâm của Hegel cũng không có quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Mác, tức cái xương sống hay cái cốt lõi của lý thuyết Mác.

    Nhưng biện chứng luận của Hegel là biện chứng luận duy tâm, Mác đem áp dung vào cho quan điểm duy vật, tự hào đó là sự khám phá vĩ đại của mình, mà thực chất đó là sự dại khờ hay sự ngu ngốc của Mác, vì là sự lừa dối hay sự ngụy luận hoàn toàn giả tạo. Bởi không ai khôn ngoan lại đem áp dụng nguyên lý một sự vật cho một sự vật khác có bản chất hoàn toàn đối ngược. Như dung nguyên lý của lửa áp dụng cho nước, dùng nguyên lý của kim loại vận dung cho mây tre lá, dung nguyên lý của vật rắn áp dung cho nguyên tắc của chất khí v.v… Nhưng Mác đã tự hào thông minh để làm điều đó.

    Bởi vậy cuốn Tư bản luận, là cuốn kinh thánh của lý thuyết ông ta, thực chất chỉ chỉ là cuốn kinh tế xã hội hoàn toàn xuyên tạc, gượng ép, phịa đặt, kiểu gọt chân cho vừa giầy, tức ép lý thuyết kinh tế cổ điển Anh quốc, lý thuyết xã hội học Pháp, lý thuyết đấu tranh sinh tồn và tiến hóa của Darwin vào khuôn khổ biện chứng luận của Hegel một cách giả tạo và hoàn toàn trái cựa, ngu dốt.

    Đáng lẽ ra, nếu là một người thông minh sáng suốt, khi đọc biện chứng luận của Hegel Mác phải biết nhận xét, phê phán, đánh giá, đàng này chỉ mê muội thuổng lại một cách u mê của người khác, như vậy bảo không là ngu sao được. Bởi vì ngày cả nguyên lý biện chứng luận của Hegel cũng không có cơ sở khoa học nào cả. Phủ định của phủ định, đó chỉ là sự khái quát hóa kiểu toán học hay tư biện trừu tượng, không đưa ra được lý lẽ dẫn chứng cụ thể đáng tin cậy nào.

    Ngày nay ai cũng biết mầm cây phát triển thành cái cây không phải là sự phủ định của phủ định liên tiếp nơi hạt cây mà do sự tự triển khai hệ thống gien đã chứa sẳn nơi nó kết hợp với điều kiện khách quan phù hợp thuận lợi bên ngoài. Bởi vì không lẽ lý luận ngược lại, khi cái cây bị khô đi và mục nát, cũng lại là tiến trình trong phủ định của phủ định theo chiều ngược lại hay sao, thật sự hoàn toàn vô nghĩa.

    Cho nên Mác cho rằng phủ định của xã hội tư sản là xã hội vô sản, phủ định của tư bản chủ nghĩa là cộng sản chủ nghĩa, chỉ là sự suy luận, phán đoán ức đoán bừa bãi, không mang ý nghĩa khách quan khoa học cụ thể có thể chứng minh được nào cả. Cũng giống như Lênin cũng từng dựa vào đó mà hô lên chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản, là đêm trước của chủ nghĩa xã hội, cũng là theo duy nhất nguy lý suy đoán hoàn toàn tư biện trừu tượng, chẳng có ý nghĩa khách quan nào cả.

    Nói chung lại, 16 bài cơ bản đã viết, mọi người VN ở khắp nơi cần tìm đọc để hiểu biết, nhận xét và phê phán, trong đó kể cả những đảng viên cộng sản có trình độ. Nếu có ai đó phản biện được kết luận của tôi hoàn toàn sai, tôi sẽ khâm phục khẩu phục và công nhận rằng học thuyết Mác xít lêninít là hoàn toàn đúng, còn nếu ngược lại không ai đưa ra được phản biện khoa học hữu lý nào, có nghĩa là chủ nghĩa Mác hoàn toàn sai và cần phải được loại bỏ. Đây là thực tế lý luận khoa học, không phải chỉ thụ động tin theo Nghị quyết của Nghị viện châu Âu là đủ.

    Bởi vì từ khi học thuyết Mác ra đời đến nay, trên thế giới ngay từ đầu đã có nhiều người phê phán, nhưng ở nước ta thì hoàn toàn chưa có. Còn từ khi nó được Lênin mang ra áp dụng, bất kỳ ai ở dưới hệ thống xã hội cộng sản đều phải thúc thủ nếu không cũng bị rơi vào số 100 triệu nạn nhân bị tiêu diệt trên toàn thế giới đã được thống kê. Ngày nay học thuyết Mác hoàn toàn sụp đổ trong thực tế cũng như về mặt lý thuyết, âu đó cũng là điều để mọi người cần sáng suốt nhìn lại.

    Nói chung từ những sai lầm cốt lõi hay cơ bản trong mặt lý luận, nó dẫn đến bao sai lầm thực tế về mặt kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, và về đời sống trong mọi mặt. Và thực tế bất kỳ đất nước nào từng rơi vào chủ thuyết Mác trong quá khứ đều hoàn toàn bất hạnh, chua cay và thất bại, như khối Liên Xô và Đông Âu trước kia chẳng hạn. Nó chỉ thành cộng về mặt tuyên truyền giả tạo, còn thất bại về mặt thực chất hay hiện thực. Có nghĩa con đường cứu nước, hay con đường phát triển đất nước, dân tộc ta ngày nay, là phải thẳng thắn nhìn lại quá khứ, thẳng thắn nhận định hiện tại và can đảm hoạch định tương lai cần thiết, thích hợp. Đó chính là ý nghĩa và mục đích của loạt bài viết trên, tuy giản dị, sơ lược nhưng sâu xa, cốt lõi. Và để định hướng khoa học cho đất nước, rất mong mọi người nhận xét, phê phán và đóng góp ý kiến hữu ích.

    Võ Hưng Thanh
    (17/5/2015)

  5. CÁI NGU DỐT THỨ 16 CỦA KARL MARX : LÝ THUYẾT BIỆN CHỨNG HAY SỰ MÊ TÍN VÀO QUAN ĐIỂM BIỆN CHỨNG LUẬN CỦA HEGEL

    Loạt bài viết ngắn này ban đầu đáng lẽ tôi chỉ dự định viết cơ 5 bài, song thấy chưa đủ nên tăng lên thành 10 bài, và bây giờ xin viết bài thứ 16 như là bài kết thúc. Tôi nghĩ đây cũng là dịp để rửa mặt cho dân tộc VN, vì gần suốt 100 năm toàn bộ đất nước chỉ thấy ngập chìm vào học thuyết Mác một cách mù quáng, thấp kém, ấu trĩ, không thấy ai chỉ ra những điểm sai lầm nghiêm trọng của nó, cho dù đó là Trần Đức Thảo, bởi vì do sự sợ hãi hay do chính sự hiểu biết hạn chế. Đây có thể coi như sự rửa nhục của một đất nước có cả nhiều ngàn năm văn hiến.

    Có thể nói học thuyết Mác không thể có nếu không có học thuyết của Hegel, bởi vì cơ bản của học thuyết Mác là dựa vào biện chứng luận của Hegel, không có biện chứng luận này cũng không có học thuyết Mác. Tức không có biện chứng luận duy tâm của Hegel cũng không có quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Mác, tức cái xương sống hay cái cốt lõi của lý thuyết Mác.

    Nhưng biện chứng luận của Hegel là biện chứng luận duy tâm, Mác đem áp dung vào cho quan điểm duy vật, tự hào đó là sự khám phá vĩ đại của mình, mà thực chất đó là sự dại khờ hay sự ngu ngốc của Mác, vì là sự lừa dối hay sự ngụy luận hoàn toàn giả tạo. Bởi không ai khôn ngoan lại đem áp dụng nguyên lý một sự vật cho một sự vật khác có bản chất hoàn toàn đối ngược. Như dung nguyên lý của lửa áp dụng cho nước, dùng nguyên lý của kim loại vận dung cho mây tre lá, dung nguyên lý của vật rắn áp dung cho nguyên tắc của chất khí v.v… Nhưng Mác đã tự hào thông minh để làm điều đó.

    Bởi vậy cuốn Tư bản luận, là cuốn kinh thánh của lý thuyết ông ta, thực chất chỉ chỉ là cuốn kinh tế xã hội hoàn toàn xuyên tạc, gượng ép, phịa đặt, kiểu gọt chân cho vừa giầy, tức ép lý thuyết kinh tế cổ điển Anh quốc, lý thuyết xã hội học Pháp, lý thuyết đấu tranh sinh tồn và tiến hóa của Darwin vào khuôn khổ biện chứng luận của Hegel một cách giả tạo và hoàn toàn trái cựa, ngu dốt.

    Đáng lẽ ra, nếu là một người thông minh sáng suốt, khi đọc biện chứng luận của Hegel Mác phải biết nhận xét, phê phán, đánh giá, đàng này chỉ mê muội thuổng lại một cách u mê của người khác, như vậy bảo không là ngu sao được. Bởi vì ngày cả nguyên lý biện chứng luận của Hegel cũng không có cơ sở khoa học nào cả. Phủ định của phủ định, đó chỉ là sự khái quát hóa kiểu toán học hay tư biện trừu tượng, không đưa ra được lý lẽ dẫn chứng cụ thể đáng tin cậy nào.

    Ngày nay ai cũng biết mầm cây phát triển thành cái cây không phải là sự phủ định của phủ định liên tiếp nơi hạt cây mà do sự tự triển khai hệ thống gien đã chứa sẳn nơi nó kết hợp với điều kiện khách quan phù hợp thuận lợi bên ngoài. Bởi vì không lẽ lý luận ngược lại, khi cái cây bị khô đi và mục nát, cũng lại là tiến trình trong phủ định của phủ định theo chiều ngược lại hay sao, thật sự hoàn

  6. john tran says:

    Toi dong quan diem voi tac gia.

  7. triết lý gia 0001 says:

    …… Tác-giả nói sao? Cái ý tác-giả là sao??…..CSVN luôn luôn thích khoái vô TPP….rỏ ràng vì sẽ có tiền ngoại quốc đổ vô,CSVN chia 3/7….Tức là CSVN ăn 7 và chỉ chi phí 3,CSVN giàu càn giàu thêm____Ai trả nợ?dân đen VN trả nợ,tức dân đen VN nô lệ thời hiện-đại.Cái quan-trọng còn lại là Mỹ có chụi cho VN vô TPP hay không? Vì sao,vì CSVN hiện tại bị tàu-cộng đô hộ,và CSVN là thái-thú cho tàu-cộng vậy TPP cũa VN là tàu-cộng hưởng hết,rỏ ràng.Cái cộng-sản-Việt-nam quan tâm không phải là nước Việt giàu tới đâu và mạnh tới đâu,mà cái CSVN quan-tâm là làm sao đãng CSVN hùng mạnh đời đời cai-trị dân đen,vì dân đen càng nghèo càng ngu hơn CSVN,thì CSVN càng dể cai-trị. Tui nhắc lại dân đen VN càng nghèo càng ngu,CSVN càng giàu càng khôn thi CSVN mới cai trị dể dàng.Vậy tác-giả góp ý là làm cho dân tộc VN giàu mạnh tức là đi ngược lại với giáo-điều CSVN? Khi khi dân giàu nước mạnh họ sẽ lật đổ chế độ CSVN lập tức,bởi vì ở VN hiện giờ không có ai thích CSVN,chỉ hơn 10 triệu người đãng viên CS và thân nhân họ thích mà thôi,tức 90% còn lại điều muốn CSVN chết đi cho rãnh nợ,cho tốt,……Tóm lại tác-giả góp ý như vậy chắc chắn 100% CSVN không nghe,rỏ ràng.Cũng như mới đây ngoại quốc góp ý cho CSVN là không nên mượn nợ nhiều?….Ngoại quốc nào ăn rồi rãnh không chuyện làm đi bợ…đít CSVN?? Tức là đi bợ đít cái thằng bợ đít,vì CSVN đang bợ đít tàu-cộng!!! Không phải là CSVN không nên đi mượn tiền nhiều mà là không có ai cho CSVN mượn tiền nữa thì đúng hơn,vì mượn tiền về làm giàu dân đen VN trả nợ chứ CSVN có trã nợ đâu dại gì không mượn? Nhưng ai cho mượn nữa,khi mà CSVN đã đi mượn 4 phương 8 hướng hết rồi!!!!____ Cuối cùng ý tác-giả là sẽ có làn sóng đầu tư ồ ạt vô VN khi VN vô TPP???!!!! Tác-giả quên rằng nhiều nhà đầu-tư và nhất là Việt-kiều đã tháo..chạy khỏi Việt-nam,tấm gương Trịnh-vĩnh-Bình còn đó……làm ăn xong bị mất tiền mất vốn và ở tù luôn……Hoàng-Kiều chạy khỏi VN thiếu điều mất dép,mà chạy không lẹ coi chừng bị CSVN kiếm chuyện cầm tù luôn……Ai?còn thằng nào ngu nữa nhào vô,vì CSVN sẽ để họ mập như nuôi heo,heo mập rồi mần thịt luôn! ở một xứ sở mà luật rừng thì thằng nào giàu có,có tiền mà ngu đút đầu vô? Nhũng thằng làm giàu ở VN hiện tại là tay trong tay ngoài với bọn lãnh đạo CSVN thụt tiền ngân-hàng rồi làm giàu,cứ có thằng nào làm ăn chân-chính đâu? làm ăn chân chính tháo chạy hết rồi!!!….Bởi vậy tui đã nói nghe ai không nghe,nghe mấy thằng Việt-cộng nói dóc,rồi có ngày tiền mất tật mang,hỏi ai xa …hỏi ông Alain Phan đang về Mỹ nằm ngủ,vì ổng mất tiền quá nhiều ở VN,và ổng hiểu rỏ CSVN hơn ai hết.CSVN làm sao cai-trị dân đen VN đời đời,chứ họ có quan tâm dân giàu nước mạnh làm gì,góp ý với CSVN mà không hiểu ý họ…thì không nên góp….nay kính.

Phản hồi