|

Hòa giải bằng hiệp định

06-hiep-dinh-td2013-450_OQMA

Sau kinh nghiệm hòa giải năm 1945, những thành phần theo chủ nghĩa dân tộc, quy tụ trở lại chung quanh cựu hoàng Bảo Đại, ở thế chẳng đặng đừng liên kết với Pháp năm 1949, thành lập chính thể Quốc Gia Việt Nam, chống Việt Minh cộng sản. Chiến tranh kéo dài đến năm 1954, và kết thúc bằng Hiệp định Genève ngày 20-4-1954, chia hai Việt Nam tại vĩ tuyến 17. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ở phía bắc, thường được gọi là Bắc Việt Nam (BVN); Quốc Gia Việt Nam (QGVN), đổi thành Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày 26-10- 1955, ở phía nam, thường được gọi là Nam Việt Nam (NVN).

HÒA GIẢI BẰNG HIỆP ĐỊNH GENÈVE

Danh xưng chính thức của hiệp định GenèveHiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, nghĩa là hiệp định Genève chỉ là một hiệp định có tính cách thuần túy quân sự, hai bên ngưng chiến đấu, tập trung ở hai vùng khác nhau và hiệp định nầy không đưa ra một giải pháp chính trị nào cho tương lai Việt Nam.

Sau khi Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam cùng các hiệp định đình chỉ chiến sự ở Lào và Cambodia được ký kết, các phái đoàn tham dự hội nghị Genève họp tiếp vào ngày 21-7-1954 và cùng nhau bàn thảo bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”.

Bản tuyên bố gồm 13 điều; quan trọng nhất là điều 7, ghi rằng: “Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Kể từ ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó.” (Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, Đông Dương 1945-1973, Sài Gòn: Trình Bày, 1973, tr. 53.)

Điểm đặc biệt là sau khi soạn thảo xong bản tuyên bố nầy, chủ tịch phiên họp là Anthony Eden (ngoại trưởng Anh) hỏi từng phái đoàn, thì bảy phái đoàn là Anh, Pháp, Liên Xô, CHNDTH, VNDCCH, Lào và Cambodge (Cambodia) trả lời miệng rằng “đồng ý”. Bảy phái đoàn nầy tuy đồng ý, nhưng không ký vào bản tuyên bố, và chỉ trả lời miệng mà thôi. (Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, cuốn 5, Paris: Nam Á 2002, tr. 2642. Có thể tìm trong Google bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp.) Một văn kiện quốc tế không có chữ ký, thì chỉ có tính cách gợi ý, hướng dẫn chứ không có tính cách cưỡng hành.

Phái đoàn QGVN và phái đoàn Hoa Kỳ không ký vào Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 20-7-1954 và cũng không đồng ý bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954. Hai phái đoàn QGVN và Hoa Kỳ đã đưa ra tuyên bố riêng của mỗi phái đoàn để minh định lập trường của mình. Tuy nhiên, chính phủ QGVN vẫn tôn trọng Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 20-7-1954 và thi hành việc chia hai nước Việt Nam theo đúng thỏa thuận quốc tế.

Nếu để cho Nam Việt Nam (NVN) yên bình xây dựng kinh tế với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, thì đến một lúc nào đó chắc chắn NVN với nền kinh tế tự do sẽ phát triển và vượt xa VNDCCH hay Bắc Việt Nam (BVN) với nền kinh tế chỉ huy theo đường lối cộng sản. Đó chính là điều mà BVN thực sự lo lắng.

Sự giúp đỡ của Hoa Kỳ cho NVN chẳng những khiến BVN rất quan ngại, mà sự hiện diện của người Hoa Kỳ tại NVN còn khiến cho cả Trung Cộng chẳng yên tâm. Không kể cuộc tranh chấp ở Nam Triều Tiên, Hoa Kỳ đã từng giúp chính phủ Quốc Dân Đảng Trung Hoa tiễu trừ đảng CS ở lục địa, và nay đang giúp Trung Hoa Dân Quốc bảo vệ Đài Loan (Taiwan), chống Trung Cộng. Trung Cộng mạnh mẽ chống đối Hoa Kỳ khắp nơi trên thế giới, hơn cả Liên Xô chống Hoa Kỳ. Nay người Hoa Kỳ lại có mặt ở NVN, gần sát với Trung Cộng, nên Trung Cộng rất quan ngại cho an ninh của chính Trung Cộng.

Vì Liên Xô và Trung Cộng đều chống Hoa Kỳ, nên cả hai hậu thuẫn cho BVN mở cuộc chiến xâm lăng NVN. Bắc Việt Nam đưa ra chiêu bài “chống Mỹ cứu nước”, vừa để khích động lòng yêu nước của dân chúng BVN chống lại NVN, vừa để phù hợp với chủ trương chống Hoa Kỳ của Trung Cộng và Liên Xô,

Như thế, rõ ràng các lý do “thống nhất đất nước” và “chống Mỹ cứu nước” chỉ có tính cách biểu kiến bên ngoài, dùng làm chiêu bài động binh, trong khi lý do thật sự được nhà nước BVN che đậy là tham vọng lớn lao của đảng Lao Động (LĐ) tức đảng Cộng Sản, muốn đánh chiếm toàn bộ Việt Nam, bành trướng chủ nghĩa CS đồng thời thi hành nghĩa vụ quốc tế, như lời Lê Duẫn nói, đánh NVN là “đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc”. Kế hoạch tấn công NVN đã được đảng LĐ chuẩn bị trước khi ký hiệp định Genève ngày 20-7-1954, thấy rõ trong kế hoạch Liễu Châu đầu tháng 7-1954.

Trước khi hiệp định Genève được ký kết, tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Hoa), từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954, Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Cộng, bí mật gặp gỡ Hồ Chí Minh, chủ tịch VNDCCH, đưa ra kế hoạch là trước khi rút người ra BVN theo quyết định của Hiệp định Genève, đảng LĐ gài cán bộ ở lại NVN, đồng thời phân tán và chôn giấu võ khí ở lại NVN để chuẩn bị chiến đấu về sau. (Về hội nghị Liễu Châu, mời đọc Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, bản dịch của Dương Danh Dy, tựa đề tiếng Việt là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27, “Hội nghị Liễu Châu then chốt”.)

Như thế, ngay trước khi ký hiệp định Genève vào ngày 20-7-1954, phía cộng sản đã chủ tâm sắp đặt trước kế hoạch trường kỳ mai phục ở NVN, chuẩn bị lực lượng tiếp tục chiến tranh. Ngoài chuyện gài cán bộ đảng viên lẫn trốn trong dân, đảng LĐ còn có cách cài người rất thâm hiểm là cho cán bộ đảng viên đảng LĐ vội vàng cưới vợ trước khi tập kết ra Bắc. Những người vợ ở lại NVN và con cái từ các cuộc hôn nhân nầy sinh ra, sẽ tiếp tay cho cán bộ CS khi họ trở về hoạt động.

Trong khi đó, để kiếm cớ gây chiến, đảng LĐ tức đảng cộng sản BVN lại đổ lỗi cho phía NVN không tôn trọng hiệp định Genève, trong khi chính hiệp định Genève chỉ là một hiệp định đình chiến mà thôi và không đưa ra giải pháp chính trị. Còn giải pháp chính trị được dư tính trong bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”, thì không có chữ ký của bất cứ phái đoàn nào, không có giá trị pháp lý. Lý do có thể là phía CS (Trung Cộng, CSVN) tại Liễu Châu đã quyết định tiếp tục cuộc chiến, nên vận động không ký vào bản tuyên bố cho dễ hành động về sau nầy.

Đó là cách hòa giải bằng hiệp định Genève của CSVN. Tạm dừng để lấy sức, rồi tiếp tục chiến tranh. Cách hòa giải nầy đưa đến việc BVN tái phát động cuộc chiến năm 1960, và dùng viện trợ của khối CS quốc tế, nhất là Liên Xô và Trung Cộng, tấn công NVN.

HÒA GIẢI BẰNG HIỆP ĐỊNH PARIS

Chiến tranh Việt Nam lọt vào cao điểm chiến tranh lạnh toàn cầu. Liên Xô, Trung Cộng giúp đõ, viện trợ cho BVN. Ở thế yếu, NVN phải nhờ Hoa Kỳ giúp đỡ, viện trợ. Điểm khác nhau quan trọng là Liên Xô và Trung Cộng gởi quân viện cho BVN, và BVN sử dụng quân đội BVN và du kích NVN để chiến đấu ở NVN. Liên Xô chỉ gởi chuyên viên ở hậu phương chứ không ra chiến trường. Ngoaøi quaân vieän, töø thaùng 6-1965 ñeán thaùng 3-1968, TQ gôûi sang BVN 320,000 quaân, truù ñoùng ôû caùc tænh vaø thaønh phoá phía baéc Haø Noäi, ñieàu khieån caùc suùng phoøng khoâng, söûa chöõa ñöôøng saù, caàu coáng, ñöôøng xe löûa, baûo veä caùc tænh phía baéc, nhaèm giuùp BVN keùo heát löïc löôïng xuoáng taán coâng NVN. (Qiang Zhai, China & the Vietnam Wars, 1950-1975, The University of Carolina Press, 2000, tr. 135.) Về phía Hoa Kỳ, Hoa Kỳ gởi Bộ binh và Không quân trực tiếp chiến đấu ở Việt Nam từ năm 1965.

Điểm quan trọng là Hoa Kỳ áp dụng chiến lược phòng thủ ở NVN chứ không đánh ra BVN bằng bộ binh như chiến tranh Triều Tiên. Hoa Kỳ chỉ gởi Không quân tấn công những hậu cứ của CS ở BVN. Cứ thủ mãi và chờ địch quân đến tấn công, đưa đến kết quả là tuy quân đội Hoa Kỳ không thua trận nào, nhưng tử trận mỗi ngày một ít; cộng nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm thành số nhiều. Mỗi ngày vài phi công thuộc Không quân Hoa Kỳ bị bắn rơi ở BVN và bị bắt làm tù binh; cộng nhiều ngày thành số đông.

Các số liệu tử vong và tù binh tăng cao làm cho dân chúng Hoa Kỳ sốt ruột, lo sợ cho sinh mệnh của thân nhân mình, đòi rút quân về nước. Phong trào phản chiến trong nước Hoa Kỳ hoạt động mạnh mẽ, dân chúng, sinh viên biểu tình rầm rộ, làm cho đất nước Hoa Kỳ xáo trộn, khiến chính phủ Hoa Kỳ phải kiếm cách ổn định tình hình nội bộ. (Chú ý: lúc đó quân đội Hoa Kỳ còn gồm thành phần động viên. Luật động viên Hoa Kỳ bị bãi bỏ năm 1973, sau Hiệp định Paris. Ngày nay, quân đội Hoa Kỳ gồm toàn quân nhân chuyên nghiệp.) Hơn nữa, thông qua chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ bắt tay với Trung Cộng và đang muốn tách Trung Cộng ra khỏi khối CS do Liên Xô lãnh đạo. Chính phủ Hoa Kỳ liền thay đổi chiến lược, rút quân khỏi Việt Nam và kiếm cách ký hiệp định hòa bình để lấy lại tù binh.

Từ đó, Hoa Kỳ mở đường hòa đàm với BVN và đi đến hội nghị Paris. Chính phủ NVN với kinh nghiệm ê chề năm 1945 và 1954, không chịu nhượng bộ BVN, không chịu ngồi vào bàn Hội nghị Paris, nhưng Hoa Kỳ áp lực, rút quân, giảm viện trợ, nên NVN đành phải chấp nhận. Sau những cuộc thảo luận gay go kéo dài từ năm 1968 đến cuối năm 1972, cuối cùng, ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris tức Hiệp định chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam (Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Vietnam), còn được gọi là Hiệp định Hòa bình Paris (Paris Peace Accords) được ký kết tại nơi bắt đầu, tức Trung Tâm Hội Thảo Quốc Tế (Centre de Conférences International), trong khách sạn Majestic, số 19 đường Kléber, Paris.

Hiệp định gồm 9 chương, 23 điều, có hai bản. Bản thứ nhứt giữa bốn bên VNCH, Hoa Kỳ và CHMNVN, VNDCCH. Bản thứ hai giữa hai bên Hoa Kỳ và VNDCCH. Hai bản chỉ khác nhau ở phần mở đầu và điều 23, còn giống nhau từ điều 1 đến điều 22. Vì có hai bản, nên hiệp định Paris được ký kết hai lần. Lần bốn bên VNCH, Hoa Kỳ, VNDCCH và CHMNVN ký kết vào buổi sáng 27-1-1973. Lần hai bên Hoa Kỳ và VNDCCH ký kết vào buổi chiều 27-1-1973. Hiệp định có hiệu lực từ 0 G. giờ quốc tế GMT đêm 27 rạng 28-1-1973, tức 8 giờ sáng giờ Việt Nam ngày 28-1-1973.

Những điểm chính của hiệp định Paris là: Ngưng bắn trên toàn lãnh thổ Việt Nam; Hoa Kỳ rút quân đội và cố vấn còn lại (khoảng 23,700) trong 60 ngày; Hoa Kỳ triệt phá tất cả các căn cứ trong 60 ngày; trao trả tù binh Hoa Kỳ và các tù binh khác trong 60 ngày; quân đội Bắc Việt tiếp tục đóng giữ tại chỗ ở Nam Việt Nam; rút tất cả các lực lượng ngoại nhập tại Lào và Cao Miên; cấm lập căn cứ và chuyển quân qua hai nước nầy; duy trì khu phi quân sự tại vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời cho đến khi nào thống nhất đất nước bằng một giải pháp hòa bình; thành lập Ủy ban Kiểm soát Quốc tế gồm có người các nước Canada, Hungary, Ba Lan và Indonesia với 1,160 thanh tra kiểm soát việc thi hành hiệp định; Nguyễn Văn Thiệu vẫn là tổng thống miền NVN cho đến khi có bầu cử; BVN tôn trọng quyền tự quyết của dân chúng NVN; không chuyển quân qua khu phi quân sự; không sử dụng võ lực để thống nhất đất nước. (John S. Bowman, The Vietnam War, Day by Day, New York: Maillard Press, 1989, tr. 210.)

Rõ ràng BVN chiếm lợi thế trong hiệp định Paris so với NVN. Trong khi Hoa Kỳ rút quân, triệt phá hết các căn cứ Hoa Kỳ tại NVN, thì quân đội BVN tiếp tục đóng giữ tại chỗ ở NVN. Trong khi đó, BVN bí mật tiếp nhận viện trợ của Liên Xô và Trung Cộng ở BVN, rồi bí mật chuyển vào NVN qua đường Trường Sơn và ngay cả đường vùng phi quân sự ở vĩ tuyến 17, trắng trợn vi phạm hiệp định Paris. Số viện trợ do Liên Xô và Trung Cộng cho BVN trong thời gian nầy tăng gấp 4 lần so với trước đây. (Henry Kissinger, Years of Renewal, New York: Simon & Schuster, 1999, tr. 481.)

Hiệp định Paris quy định việc thành lập một số cơ chế để thực hiện và theo dõi việc ngừng bắn. Đầu tiên là HỘI ĐỒNG HÒA GIẢI HÒA HỢP DÂN TỘC (National Council of National Reconciliation and Concord). Điều 12 chương IV Hiệp định Paris ghi rằng “hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau. Hội đồng sẽ làm việc theo nguyên tắc nhất trí.” Danh xưng rõ ràng là “Hòa giải hòa hợp dân tộc”, nhưng thực chất là HGHH theo kiểu CS.

Ba thành phần nêu trên đây là VNCH, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng (MTDTGP) và lực lượng thứ ba. Lực lượng thứ ba được gọi là trung lập, không theo VNCH cũng không theo MTDT. Trong thực tế, lực lượng thứ ba do CSVN ngấm ngầm tổ chức và điều động, gồm những nhà hoạt động chính trị đòi hỏi hòa bình, dân chủ mà không nhất thiết phải tán thành chủ nghĩa CS hay chủ nghĩa xã hội, nhằm cô lập chính phủ VNCH. Cách quyết định theo nguyên tắc nhất trí, có nghĩa là cả ba bên phải cùng đồng ý mới thông qua một quyết định. Nói cách khác, mỗi bên đều có quyền phủ quyết. Vậy làm sao hòa giải hòa hợp, vì ai không bằng lòng thì phủ quyết, thế là đường ai nầy đi.

Cũng theo điều 12 nầy, HĐHGHHDT sẽ đứng ra tổ chức tổng tuyển cử nhằm bầu chọn cơ quan quyền lực cho NVN. Tuy nhiên, vì chính phủ Hoa Kỳ nôn nóng rút quân, rút tù binh nên ký hiệp định Paris, chịu để cho BVN đóng quân ở lại NVN, nên BVN tiếp tục tấn công NVN, và chiến tranh vẫn tiếp diễn. Cho đến ngày 30-4-1945, BVN cưỡng chiếm NVN, HĐHGHHDT cũng chưa thành lập được.

Như thế, chuyện hòa giải hòa hợp theo điều 12 chương IV Hiệp định Paris chỉ là một cái bánh vẽ cho Hoa Kỳ rút quân, vì trong thực tế, sau HĐHGHHDT, Hiệp định Paris còn thành lập, theo điều 18 chương VI, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát (International Commission for Control and Supervision), gồm đại diện bốn quốc gia Canada (Gia Nã Đại), Hungary (Hung Gia Lợi), Indonesia (Nam Dương), Poland (Ba Lan). Ủy ban nầy cũng chẳng làm được việc gì vì thiếu sự hợp tác về phía CSVN.

Trong khi Ủy ban QTKSGS tự do đi lại trong vùng do chính quyền NVN kiểm soát, thì Ủy ban bị ngăn cản khi đi vào những vùng CS hoạt động. Ngày 7-4-1973, hai trực thăng của Ủy ban chở nhân viên đến Khe Sanh và Lao Bảo để quan sát và kiểm soát sự xâm nhập của CS theo đường Trường Sơn, liền bị quân CS bắn rơi một chiếc, gây tử thương cho phi hành đoàn và 7 nhân viên. Các chuyến bay ở Lộc Ninh cũng bị quân CS hăm dọa. Sau khi một nhân viên Canada bị CSVN bắt giữ, phái đoàn Canada rút lui vào cuối tháng 7-1973, Iran (Ba Tư) được cử thay thế. Tuy Ủy ban tiếp tục hoạt động cho đến năm 1975, nhưng hoàn toàn bất lực. (Webster’s New World Dictionary of the Vietnam War, tt.. 180-181.)

KẾT LUẬN

Sau cuộc hòa giải nội bộ năm 1945, người Việt theo chủ nghĩa dân tộc có được kinh nghiệm ê chề với CSVN. Trong hai giai đoạn 1954 và 1973, người Pháp rồi người Hoa Kỳ, do chủ tâm rời bỏ Việt Nam, nên dễ dàng thỏa mãn những yêu sách của CSVN để CSVN nhanh chóng ký kết hiệp định giúp hai nước nầy ra đi cho rồi, trong khi đối với CSVN, ngưng chiến chỉ là những giờ giải lao và các hiệp định đó chẳng qua chỉ là những tờ giấy loại bị CSVN xé bỏ dễ dàng. Năm 1954, CSVN ký Hiệp định Genève để dưỡng sức chuẩn bị tiếp chiến tranh. Năm 1973, CSVN ký Hiệp định Paris để Hoa Kỳ rút quân, bỏ rơi và ngưng viện trợ cho NVN, rồi CSVN nhận thêm quân viện của Liên Xô và Trung Cộng, tiếp tục tấn công và đánh chiếm NVN năm 1975.

Với những kinh nghiệm lịch sử như thế, bằng những hiệp định quốc tế, CSVN ký, nhiều nước ký và nhiều nước làm chứng, mà CSVN vẫn vi phạm trắng trợn, xé bỏ dễ dàng, thì còn ai dám tin CSVN và hòa giải hòa hợp với CSVN?

(Toronto,24-05-2015)

TRẦN GIA PHỤNG

© Đàn Chim Việt

34 Phản hồi cho “Hòa giải bằng hiệp định”

  1. Phan Văn Minh says:

    Đây là những cái nhất tiêu biểu của đảng CSVN:

    - Khủng bố, thủ tiêu, ám sát. (Chỉ riêng một năm 1965 có 25.000 cán bộ xã ấp và
    thường dân ở miền nam bị giết chết).
    - Tuyên truyền. (Biến cuộc chiến tranh bảo vệ chủ nghĩa CS thành cuộc chiến tranh
    bảo vệ tổ quốc).
    - Lường gạt. (Nói đi học tập cải tạo 15 ngày thành tù nhân dài hạn từ 3 đến 5 hay
    mười mấy năm).
    - Tổn thất. (Địch chết 1 ta chết 4)…

  2. Hồ Thẩm Du says:

    Chiến tranh Việt Nam có thực sự cần thiết?

    Liên quan đến biến cố 30 tháng Tư 1975, có một câu nói của một quan sát viên quốc tế mà tôi rất tâm đắc: “Không có ai chiến thắng cả. Tất cả đều là nạn nhân” (There were no winners, only victims).

    Nhưng tại sao lại không có người chiến thắng?

    Trước hết, không còn hoài nghi gì nữa, người miền Nam chắc chắn là những người thua cuộc và từ đó, là những nạn nhân không những của chiến tranh mà còn của hoà bình với hàng trăm ngàn người bị bắt đi cải tạo, hàng triệu người liều mạng vượt biển để tìm tự do và hầu như tất cả đều sống trong cảnh vừa lầm than vừa bị áp bức.

    Mỹ cũng không phải là những kẻ chiến thắng. Nói cho đúng, họ thắng trong cuộc chiến tranh lạnh với khối xã hội chủ nghĩa bằng việc phân hoá Trung Quốc và Liên Xô đồng thời bằng cách vô hiệu hoá hiệu ứng liên hoàn, gắn liền với thuyết domino vốn là nguyên nhân chính khiến họ tham dự vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Về phương diện quân sự, họ không thắng không bại: họ đã rút quân ra khỏi Việt Nam mấy năm trước khi cuộc chiến tranh chấm dứt. Tuy nhiên, về phương diện chính trị, họ đã thất bại trong nỗ lực bảo vệ một đồng minh là chế độ Việt Nam Cộng Hoà ở miền Nam. Sau đó, về phương diện tâm lý, họ là những nạn nhân với hội chứng Việt Nam, một ám ảnh đầy day dứt trong lương tâm của những người từng tham chiến. Đó là chưa kể hơn 58.000 người lính bỏ mình tại Việt Nam cũng như hàng mấy trăm ngàn người bị thương tật trở thành một gánh nặng trong xã hội Mỹ.

    Thế còn miền Bắc?

    Đương nhiên họ là những người thắng cuộc. Thắng về quân sự: đánh bại được quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Thắng về chính trị: thống nhất được đất nước sau 20 năm chia cắt. Tuy nhiên, bên cạnh những chiến thắng ấy, họ cũng gánh chịu không ít thất bại. Những thất bại ấy làm cho chiến thắng của họ trở thành một tai hoạ cho mọi người.

    Trước hết, như là hệ quả của việc chà đạp lên hiệp định Paris, xua quân cưỡng chiếm miền Nam, Việt Nam phải gánh chịu sự cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Trừ Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa, họ không có một người bạn nào cả. Ngay cả với một nước đồng minh thân cận từng giúp đỡ họ cả mấy chục năm, Trung Quốc, cũng biến thành kẻ thù với hậu quả là, ngay sau chiến tranh Nam -Bắc chấm dứt, Việt Nam phải chịu đựng thêm hai cuộc chiến tranh mới: chiến tranh với Campuchia và chiến tranh với Trung Quốc.

    Hệ quả của tất cả những điều vừa nêu là, về phương diện kinh tế, Việt Nam hoàn toàn kiệt quệ. Lạm phát tăng nhanh; nạn đói lúc nào cũng lởn vởn trước mắt mọi người. Trong nhiều năm, ngay cả lúa gạo, nguồn thực phẩm chính và cũng là điểm mạnh của miền Nam, cũng bị thiếu hụt nghiêm trọng. Dân chúng phải thường xuyên ăn độn hoặc ăn bo bo để thế cơm. Việt Nam trở thành một trong những quốc gia nghèo khó và chậm phát triển nhất thế giới.

    Về phương diện xã hội, hầu như mọi người đều bị lâm vào cảnh khốn cùng. Mâu thuẫn giữa hai miền Nam và Bắc càng lúc càng sâu sắc. Sự thống nhất chỉ có trên phương diện chính trị và hành chính, nhưng về tâm lý, nhìn nhau, dân chúng giữa hai miền vẫn đầy những nghi kỵ và đố kỵ.

    Về phương diện chính trị, dân chúng không còn chút tự do nào cả. Tự do tư tưởng: Không. Tự do ngôn luận: Không. Tự do cư trú và tự do đi lại: Không. Tất cả các quyền tự do căn bản của dân chủ, từ tự do hội họp đến tự do thành lập và tham gia vào đảng phái đều bị tước sạch.

    Có thể nói, trong hơn mười năm, từ 1975 đến 1985, khi phong trào đổi mới xuất hiện, ở Việt Nam, dân chúng trong cả nước đều chia sẻ nỗi bất hạnh chung xuất phát từ việc miền Bắc thắng miền Nam. Không có gì quá đáng nếu chúng ta nói, trừ giới lãnh đạo cộng sản, tất cả mọi người đều là nạn nhân của biến cố 30 tháng Tư 1975. Không phải chỉ những người bị bắt đi học tập cải tạo hoặc bị lùa đi kinh tế mới mới là nạn nhân: Tất cả mọi người đều là nạn nhân. Không phải chỉ những người bị bỏ mình trên biển mới là nạn nhân, ngay cả những người may mắn vượt thoát và được định cư ở nước ngoài cũng là nạn nhân: họ phải xa lìa tổ quốc để sống tha hương, không lúc nào nguôi nỗi khắc khoải trông ngóng về đất nước cũ.

    Nhưng nếu mọi người đều là nạn nhân, cuộc chiến tranh Nam Bắc vốn kéo dài hai mươi năm có thực sự cần thiết hay không?

    Bộ máy tuyên truyền của miền Bắc trước năm 1975 cũng như trong cả nước sau năm 1975 nêu lên ba lý do chính tại sao miền Bắc phát động cuộc chiến tranh ấy: Một, để giải phóng miền Nam; hai, để phát triển chủ nghĩa xã hội sang nửa phần lãnh thổ còn chịu khổ nạn dưới ách “áp bức” của Mỹ và “nguỵ”; và ba, để đánh bại sự “xâm lược” của “đế quốc” Mỹ.

    Xin nói về nguyên nhân thứ ba trước. Đó chỉ là một nguỵ biện. Việc Mỹ đổ cả nửa triệu quân vào miền Nam chỉ là để giúp miền Nam chống lại sự xâm lấn của miền Bắc. Như vậy, nó chỉ là hậu quả chứ không phải là nguyên nhân. Nói cách khác, nếu miền Bắc không mưu toan đánh chiếm miền Nam, chả có lý do gì để Mỹ đổ quân vào miền Nam cả.

    Về nguyên nhân thứ hai, người ta dễ dàng nhận thấy là hoàn toàn không chính đáng. Sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước cộng sản tại Đông Âu, hầu như ai cũng biết chủ nghĩa xã hội đồng nghĩa với áp bức và nghèo đói. Mở rộng chủ nghĩa xã hội từ miền Bắc sang miền Nam, do đó, thực chất là việc xuất cảng áp bức và nghèo đói. Đó là một tai hoạ.

    Chỉ có nguyên nhân thứ nhất là cần phân tích kỹ. Trước hết, không ai có thể phủ nhận sự cần thiết của việc thống nhất đất nước, một di sản của tổ tiên từ ngàn đời trước. Đó là một mệnh lệnh của lịch sử, của đạo lý và của tình cảm. Tuy nhiên, vấn đề là: sự thống nhất ấy có thể được thực hiện bằng cách nào và được trả bằng giá nào? Nó có cần thiết để cả nước phải trải qua hai chục năm chiến tranh tàn khốc với trên ba triệu người bị giết chết? Lịch sử cung cấp hai bài học chính: Thứ nhất, Đông Đức và Tây Đức đã được thống nhất mà không cần phải trải qua cuộc chiến tranh nào cả. Thứ hai, Nam và Bắc Triều Tiên đến nay vẫn bị chia cắt. Nhưng sự chia cắt ấy được đền bù bằng mức phát triển cực nhanh và cực cao của Nam Triều Tiên. Sự thống nhất không sớm thì muộn, không bằng cách này thì bằng cách khác cũng sẽ xảy ra, nhưng khi nó xảy ra, Đại Hàn cũng đã có một nền tảng kinh tế và chính trị vững chắc là Nam Triều Tiên (như trường hợp của Tây Đức và Đông Đức). Ở đây, sự chia cắt không có gì đáng phàn nàn hay ân hận cả.

    Chúng ta tưởng tượng: nếu miền Bắc đừng phát động chiến tranh thì tình hình chính trị Việt Nam hiện nay sẽ ra sao? Thì tất cả những tai hoạ nêu lên ở phần đầu bài viết này sẽ không có. Thì cả hai miền sẽ có hoà bình và nhờ hoà bình, sẽ được phát triển nhanh chóng. Ngay cả khi hai miền Nam và Bắc chưa được thống nhất thì, tuy về phương diện tình cảm, vẫn là một nỗi nhức nhối, nhưng trên mọi phương diện khác, đó lại là một điều may mắn.

    Nguyễn Hưng Quốc.

    • Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ CỦA VIỆC THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

      Sự thống nhất bao giờ cũng cần thiết, đặc biệt sự thống nhất một đất nước. Bởi sự thống nhất gia tăng sức mạnh chung, tăng cường mọi hiệu quả và phúc lợi chung.

      Nhưng thống nhất phải là thống nhất để đi lên, không phải thống nhất để đi xuống hoặc để ỳ ra tại chỗ. Có nghĩa không phải thống nhất bằng mọi giá mà là phải sự thống nhất tích cực mà không phải sự thống nhất tiêu cực.

      Thống nhất tích cực là thống nhất mang lại do sự thắng lợi của bên tích cực. Thống nhất tiêu cực là thống nhất theo cách ngược lại. Ví dụ sự thống nhất để mang lại tự do dân chủ đích thực, đó là thống nhất tích cực. Nếu thống nhất chỉ mang lại sự độc tài độc đoán, đó chỉ là thống nhất tiêu cực.

      Thống nhất tích cực cũng có thể là thống nhất bằng hòa bình, bằng thương lượng công bằng. Thống nhất tiêu cực thì luôn là thống nhất bằng bạo lực, bằng chiến tranh, bằng sự cưỡng chế và đầu hàng của một bên. Cũng có nghĩa hòa bình luôn luôn cần, nhưng không phải hòa bình bằng mọi giá, ấy chính sự thống nhất cũng giống như vậy.

      Thật ra, chiến tranh, chia rẽ và ly tán, rồi hòa bình và thống nhất, mọi điều này trong nhân loại đã có ngay từ thời thượng cổ. Song đó chỉ là sự tranh giành nhau giữa các thế lực, cũng đều trong bình thường, không có gì đặc biệt.

      Nhưng sự chia cắt của nhiều nước sau thế chiến thứ hai, sau phong trào cộng sản quốc tế, sự chia cắt đó chỉ hoàn toàn là do sự chia rẽ chính trị, hay sự chia cắt hầu như chỉ đặc biệt mang tính ý thức hệ. Tức sự chia cắt do tính tương phản như nước với lửa giữa ý thức hệ mác xít cộng sản và ý thức hệ phi mác xít cộng sản.

      Điều này rất dễ thấy như nam và bắc Triều Tiên, đông và tây Đức, lục địa và đảo Đài loan của Trung Quốc, nam và bác Việt Nam chẳng hạn. Có nghĩa sự chia cắt này nếu có chỉ có thể một còn một mất giữa hai bên. Không thể nào có sự thương lượng hay sự hòa giải thật sự, cũng như nước với lửa, sáng với tối, không thể nào trộn chung lại được.

      Cho nên ngôn ngữ tuyên truyền thì vô hạn, nhưng sự thật chân lý khách quan chỉ có một và lại là chuyện khác. Giữa sự thật khách quan và sự tuyên truyền chính trị không trung thực, thì chỉ có một đúng một sai, không thể nào đúng cả. Cái chính đáng và không chính đáng trong cuộc đời luôn luôn cũng giống như thế.

      Cho nên ngày nay đất nước ta đã thống nhất là một điều vui. Nhưng thống nhất trong thực trạng, thực chất và ý nghĩa cũng như giá trị đích thực như thế nào lại là chuyện khác. Giới bình dân it học thì không phân biệt được điều gì, Nhưng mọi người có học có hiểu biết dù thuộc thành phần nào, xuất xứ ra sao thì đều phải biết và cũng đều biết cả. Nhưng biết và yên lặng hay biết và nói ra lại là chuyện khác. Đó cũng tùy theo tính khí, mục đích, hay điều kiện hoàn cảnh của mỗi người.

      Cho nên ý nghĩa hiện này không hướng về quá khứ nữa, mà phải hướng tới tương lai, kh

      • Cho nên ý nghĩa hiện này không hướng về quá khứ nữa, mà phải hướng tới tương lai, không nằm ngủ trên hiện tại nữa, mà phải vựt lên và phải vượt lên hiện tại. Đó mới thật sự là những người tâm can và yêu nước đích thực. Còn nếu như chỉ ù ù cạc cạc kiểu ngu dân và dân ngu, hay chỉ kiểu sắt máu, bạo lực như kẻ tầm thường, kiểu chỉ có niềm tin một chiều mù quáng kiểu bị tuyên truyền nhồi nhét, đều không xứng đáng là những công dân lương thiện của một đất nước, cũng không xứng đáng là những thành viên của một dân tộc mang ý nghĩa thật sự.

        Sự việc chỉ đơn giản như vậy. Bất kỳ những ai không suy nghĩ tới đều là những người không có đầu óc, chẳng có ý nghĩa hay giá trị gì cho dầu họ ở đâu, địa vị ra sao, xuất xứ thế nào, cũng thảy đều chỉ là những loại phù du tầm thường một thời của toàn bộ lịch sử đất nước mà thôi. Bởi vì mọi giải pháp hiệu quả mới đi đến những kết quả thực sự, và tất cả chúng cũng chỉ có thể xuất phát từ những sự nhận thức khách quan, có ý nghĩa, giá trị thật sự, cũng như có ý thức tích cực, thiện chí và xây dựng thật sự. Nên nếu không đạt đến được những nội dung như thế, chẳng qua cũng chỉ là những loại cỏ rác vậy thôi mà nào có khác gì.

        ĐẠI NGÀN
        (04/6/15)

  3. Bộ đội cụ Hồ says:

    Lên đường vaò nam mới đầu chúng tôi cứ tưởng là đánh Mỹ giành độc lập, sau té ra mới biết là đi ăn cướp, sau mới biết là đánh cho đảng ta thống nhất đất nước để bán nước cho Tầu
    Cái đảng CS chó chết mất dậy nhất trong lịch sử té ra chỉ là một lũ bán nước, thật là đau đớn Việt Nam nay đang từ từ thành một tỉnh, một quận của bọn Tầu phù

  4. kimkhanh says:

    Thư ngỏ gửi: Thiếu tướng Lê Minh Đảo Cựu Tư lệnh SĐ 18 BB QLVNCH

    Nhân 40 năm kỷ niệm ngày thống nhất đất nước(Ngày quốc hận của NVQG) Cựu Thiếu tướng Lê minh Đảo Tư lệnh SĐ 18 BB QLVNCH đã trả lời phỏng vấn đài BBC. Sau khi nghe toàn bộ nội dung bài phỏng vấn một câu trả lời dành cho Ngài là: Thất vọng
    https://www.youtube.com/watch?v=IwvAHxa25Ek
    Ngài Lê Minh Đảo hãy tự xem lại bản chất, tư cách, đạo đức của mình. Ngài đang bị thiên hạ(Cờ vàng) thổi ống đu đủ, họ đang bơm Ngài thành người hùng Xuân Lộc của VNCH cách đây “những” 40 năm, có kẻ hoang tưởng hơn lại suy tôn Ngài ta là Anh hùng dân tộc. Cái thứ anh hùng “bán nước” này chỉ có ở người Việt Quốc gia VNCH.
    Thưa Ngài Lê Minh Đảo Ngài đã có một quá khứ “đen tối” và một thời cũng rất “vẻ vang” (cả nghĩa đen và nghĩa bóng của cụm từ này). Qúa khứ Ngài đi lính cho Pháp, làm tay sai của Thực dân, Ngài cầm súng Pháp cùng quân xâm lược Pháp bắn giết những người yêu nước dũng cảm đứng lên đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, chống lại sự đô hộ 80 năm của giặc Tây. Ngài và cộng sự là những tên lính tay sai của thực dân chống lại dân tộc để bảo vệ thuộc địa của Mẫu quốc Pháp. Thực dân Pháp bại trận cút khỏi VN thì Ngài lại “Ngựa quen đường cũ” cam tâm theo giặc một lần nữa, Ngài lại cầm súng giặc chống lại cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước. Từ tên Lính khố Xanh, khố Đỏ Ngụy Binh thời Pháp, sang thời Mỹ lại làm tên lính Ngụy Sài gòn tay sai của Đế quốc. Hai lần theo giặc Ngài gây muôn vàn tội ác với Nhân Dân và cả dân tộc này. Vì thế đã được ông chủ Mỹ cùng Chính phủ bù nhìn VNCH vinh thăng Ngài lên cấp Thiếu tướng. Tội ác của Ngài từ những ngày theo Pháp rồi theo Mỹ đặc biệt trong tháng 4/1975 Lịch sử tại phòng tuyến Xuân lộc vì sự ngoan cố đến điên cuồng của Ngài đã gây tổn thất nặng nề cho CM, làm hàng ngàn chiến sỹ Quân giải phóng đã hy sinh trước ngày đất nước thống nhất. Tội ác của Ngài là tày trời. Nếu CS tàn ác(như Ngài nói), thì Ngài đáng chết gấp ngàn, gấp vạn lần, nhưng CS đâu có trả thù, họ đâu có giết Ngài. Họ độ lượng, lẫn vị tha vẫn khoan hồng, vẫn để cho Ngài được sống đi học tập cải tạo, để xám hối tội lỗi của mình đã gây ra với dân tộc, với CM. Mãn hạn cải tạo với chính sách nhân đạo Đảng và nhà nước VN cho Ngài sang Mỹ theo diện HO. Sang đất Mỹ đất nước của thế giới “tự do”, đất nước mà Ngài đã một thời phụng sự, một thời nuôi dưỡng biến Ngài thành tên lính đánh thuê ngay trên mảnh đất quê hương VN của mình. Sau ngày sang Mỹ lá gan của Ngài đã to trở lại nên Ngài lại nổi máu nhà binh, tưởng mình vẫn là Thiếu tướng Tư lệnh bốc đồng khua môi, múa mép khoe cái tài, cái kiêu hùng của quân lực bại trận. Ngài chê CS đủ thứ vì CS cho Ngài đi tù, đi Cải tạo? Ngài đã là cấp Tướng của một thể chế, dù có bù nhìn Ngài cũng phải tự hiểu rằng: Nhà nước có luật pháp, có kỷ cương, có phép nước, kẻ vi phạm pháp luật phải bị trừng trị, đi tù, đi cải tạo thậm chí bị tử hình để sám hối, trả giá cho tội lỗi của mình gây ra đó là lẽ đương nhiên của bất cứ Quốc gia nào, huống hồ tội phản quốc như Ngài cùng cộng sự. Ngài đã gây quá nhiều tội ác, nợ máu với Nhân dân đáng lẽ ra Ngài phải bị tử hình mới đúng, bây giờ Ngài vẫn sống thọ đến tuổi 82 thế cũng là phúc đức 70 đời. Đừng sống đạo đức giả, đừng giở thói lưu manh từ thời VNCH để huyênh hoang, khoác lác, đừng lấy nỗi nhục của kẻ bán nước, một kẻ bại trận mà rao giảng đạo đức, đó là thứ “Đạo đức giả” khó lọt lỗ tai thưa Ngài.
    Ngài đang tự biến mình thành kẻ “Ăn cháo đá bát” khi bịa đặt nói xấu những người CS tuy là kẻ thù nhưng họ đã từng là ân nhân tha mạng sống cho mình. Ngài về VN hãy ra nhà tù Côn đảo, Phú quốc hay lướt trên mạng Intenets để thấy tội ác trời không dung đất không tha đối với VNCH. Tù nhân CS của Ngài Bị đóng đinh vào đầu, đóng đinh vào mắt cá chân, xương bánh chè và muôn vàn tội ác khác …….di tích lịch sử vẫn còn đó, hàng vạn người tù CS là nhân chứng sống vẫn còn đó, rồi mới nói tội ác tưởng tượng của CS.
    23 năm qua Ngài chưa về VN. Ngài nên noi gương Ông Nguyễn Cao Kỳ cựu Phó Tổng thống của Ngài một chính trị gia khét tiếng chống cộng Ông ta thật xứng danh quân tử, dám nói, dám làm, dám chấp nhận sự thật lịch sử. Một tấm gương sáng về hòa hợp dân tộc. Vì thế Ngài hãy về và nên về VN lấy một lần để thấy dân tộc mình, đất nước mình thay da đổi thịt như thế nào sau chiến tranh, cuộc sống đủ đầy của nhân dân ra sao. 90 triệu dân vẫn sống trong hòa bình, ổn định, ấm no, hạnh phúc. Ngài ngồi tận bên Mỹ như “Ếch ngồi đáy giếng” ăn nói hàm hồ, bịa đặt, nhục nhã chứ vẻ vang gì mà Ngài lên mặt dạy đời một viên Tướng khát máu, bại trận thiếu cả đức, lẫn cả tài. Mang danh là “Tướng” chỉ vì thù riêng mà ăn nói hồ đồ, bịa đặt, thì Ngài chẳng khác gì hạng tiểu nhân, thiếu suy nghĩ. Suy cho cùng đó cũng là do nỗi hận của một kẻ bại trận, kẻ mà cả đời làm tay sai cho quân xâm lược chuyên ăn trên ngồi chốc, hà hiếp dân lành, một thời “Hét ra lửa mửa ra khói”, giờ đây CS đã tước hết mọi bổng lộc, mọi quyền uy từ bán nước cầu vinh, làm tên lính đánh thuê, tay sai cho quân xâm lược mà có, nay phải tha hương cầu thực không tổ quốc. Vì thế Ngài đã hận và vẫn căm thù CS .Thưa Ngài Thiếu tướng Tư lệnh, khi bị ngã Ngựa, dù có là Tướng hay người Lính cần chấp nhận sự thất bại, chấp nhận sự đau đớn, để chấp nhận một sự thật lịch sử hiển nhiên và nói đúng sự thật mới xứng danh người quân tử
    Cái ngu, cái lố bịch nữa của Ngài khi so sánh với Ấn độ, Phi líp pin….. không cần chiến tranh mà vẫn có độc lập đúng là giọng điệu, lập luận của những kẻ bệnh hoạn, đầu óc của kẻ nô lệ, của những kẻ có “gien” bán nước ngụy biện cho hành vi bám đít ngoại bang của mình. Xin hỏi lại Ngài nước Việt ta không có những hạng người bám đít ngoại bang, làm tay sai cho quân xâm lược như Ngài, không có những kẻ cầm súng giặc, chống lại dân tộc như Ngài cùng cộng sự thì làm sao ngoại bang có thể đô hộ, thống trị, tàn phá đất nước đất nước Việt của Ngài gần 100 năm? Sự ngoan cố của quân xâm lược cố tình áp đặt chế độ thực dân, cũ và mới lên mảnh đất này, cùng với đội lính đánh thuê làm tay sai cho quân xâm lược như Ngài cùng cộng sự nên chiến tranh chống xâm lược giành độc lập cho dân tộc ắt phải xảy ra là do chính Ngài và những kẻ như Ngài. Nói người hãy nghĩ đến ta, Ngài đừng bao biện để lấp liếm tội lỗi mà lịch sử đã từng phán xét.
    Tóm lại bản chất của Ngài là một kẻ suốt cả cuộc đời theo giặc vì thế Ngài và các cộng sự của Ngài không còn đủ tư cách nói về lòng yêu nước của người Việt, dân tộc Việt. Bởi người Việt Nam ta có truyền thống lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước. Người dân Việt có lòng yêu nước, dũng cảm kiên cường chống ngoại xâm thì Ngài cùng cộng sự lại theo quân xâm lược chống lại dân tộc.Yêu nước theo kiểu bán nước như Ngài thì chẳng khác gì Nguyễn Ánh “Rước voi về dày mả Tổ, “cõng Rắn cắn Gà nhà”. Hạng người như Ngài là tội đồ của dân tộc, rất đáng bị khinh bỉ. Một tên tướng bại trận cách đây 40 năm chứ đâu phải Anh hùng dân tộc mà Ngài và dân Cờ vàng tự sướng, tự bốc đồng với nhau, mỗi khi có những kẻ dỗi hơi phỏng vấn là Ngài được dịp phun ra những điều xằng bậy, Ngài hãy nhìn về quá khứ của mình, hãy nhìn về tương lai của đất nước, hãy nghĩ về tổ quốc, hãy vì dân tộc mà làm một việc tử tế trước lúc “nhắm mắt xuôi tay” thưa Ngài Cựu Thiếu tướng QLVNCH.
    Hà nội ngày 30 tháng 5 năm 2015
    Nguyễn kim khanh

    • Nguyễn Thanh says:

      Thư ngỏ gửi dư luận viên ngkkh:

      Bọn Việt gian Cộng sản không khảo mà khai chúng chính là bè lũ Việt gian vong bản cúi đầu làm tay sai cho bọn đế quốc Trung- Xô gây chiến tranh tàn khốc khiến cho hàng triệu triệu người Việt chết thảm, triệu triệu nhà cửa bị tàn phá, đất nước bị tụt hậu đây này :

      *** Hồ chí Minh viết :”Cái danh từ tổ quốc là do các chính trị gia đặt ra để đè đầu nhân dân, để buộc những người vô sản phải cầm vũ khí bảo vệ tài sản của địa chủ và quyền lợi của giai cấp tư sản. Thực ra, chẳng có tổ quốc, cũng chẳng có biên giới”.( Trên tờ báo Thanh Niên phát hành ở Quảng Châu ngày 20/12/26 ).

      ***Hồ chí Minh : “Chúng ta theo chủ nghĩa Quốc tế, không theo chủ nghĩa Quốc Gia. Chúng ta phải nâng cao tinh thần đấu tranh giải phóng, nghĩa là hình thức thì dân tộc mà nội dung là quốc tế”. ( “Lịch Sử Đảng Cộng sản Việt Nam” -Tập I) .

      ***Năm 1938, Hồ chí Minh sang Trung Quốc . Hồ kể lại “Là một người binh nhì trong ‘Bát lộ quân’ tôi làm chủ nhiệm câu lạc bộ của một đơn vị ở Quế Lâm.” Tức là Hồ đã từng đi lính cho Mao trạch Đông, và làm đến chức binh nhì như Hồ tự giới thiệu (Trích “Hồ Chí Minh Toàn Tập “, tập X, trang 367).

      *** Trong thư đề ngày 06-6-1938 gửi Lenin, Hồ chí Minh viết: “Đồng chí hãy phân tôi đi đâu đó, hay là giữ tôi ở lại đây. Hãy giao cho tôi một việc làm gì mà theo đồng chí cho là có ích .” (Trích Hồ Chí Minh toàn tập . Sách của đảng cộng sản Việt Nam).

      ***Tổng bí thư đảng CSVN Lê Duẩn : “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc” .

      ***Cựu đại tá CSBV Bùi Tín tại San Jose ngày 23/6/2013 phát biểu: Ông ấy (HCM) theo đường lối quốc tế III để nhuộm đỏ Đông Dương. Nếu mà ông ấy không theo chủ nghĩa cộng sản thì phương Tây nó không cần cuộc chiến tranh để dẹp chủ nghĩa cộng sản .

      ***Nhà văn Tô Hải ở Việt nam viết: “Không có ông Hồ, không có cái đảng này thì đâu đến nỗi cả dân tộc tôi bị chiến tranh tàn phá, anh em, họ hàng đâu đến nỗi chia lìa, chém giết lẫn nhau, đâu đến nỗi thua xa những nước cũng thuộc địa như nước tôi đến cả thế kỷ về mọi mặt” .

    • Nguyễn Thanh says:

      Thư ngỏ gửi dư luận viên ngkk:

      Bộ mặt bán nuớc của bè lũ Cộng sản đây này :

      Trung Quốc : CSVN đã nhiều lần tuyên bố Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
      BBC – 20 tháng 1, 2014

      Năm 1980, Bộ Ngoại giao Trung Quốc có công bố một tài liệu với tên gọi “Chủ quyền không tranh cãi của Trung Quốc đối với hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa”.

      Tài liệu này có một tiểu mục với tựa “Sự man trá của chính quyền Việt Nam”, trong đó chỉ ra những bằng chứng cho thấy trước năm 1979, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhiều lần tuyên bố Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

      Ngoài công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958, tài liệu này còn dẫn nhiều tuyên bố của các quan chức chính phủ miền Bắc, trong đó có của Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm:

      “Ngày 15/6/1956, trong khi tiếp đại diện lâm thời của Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, Lý Chí Dân, Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nói với ông rằng: “Theo dữ liệu của Việt Nam, quần đảo Tây sa và quần đảo Nam Sa về mặt lịch sử là một phần lãnh thổ của Trung Quốc.”

      Ngoài ra, tài liệu của Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn kèm theo một tấm bản đò thế giới do Cục Đo đạc và Bản đồ thuộc Phủ Thủ tướng Việt Nam [Dân chủ Cộng hòa] xuất bản năm 1972 trong đó ghi Tây Sa và Nam Sa theo tên Trung Quốc.

      Tài liệu này còn nói các bản đồ của miền Bắc trong các năm 1960 và 1974 cũng ghi rõ Tây Sa và Nam Sa là lãnh thổ của Trung Quốc.

    • Nguyễn Thanh says:

      Thư ngỏ gửi dư luận viên ngkk:

      Bọn Cộng sản từ Hồ chí Minh ngày trước cho đến Nguyễn phú Trọng ngày nay thảy đều toàn là lũ Việt gian chuyên lấy đất đai, biển cả, hải đảo của Tổ quốc dâng cho Tàu cộng đây này :

      *** Hoàng minh Chính- nguyên Viện trưởng Viện Triết học Mác Lê- : “…quỳ gối dâng đất nước cho ngoại bang thì đấy là một trọng tội, không thể tha thứ được…“Hiện nay, việc bán đất nước là do lãnh đạo cao cấp nhất của đảng Cộng sản. Họ lợi dụng quyền khống chế của họ với quốc hội và chính phủ. Họ độc quyền mà, nên họ cứ làm bừa…” .

      *** Nguyễn Minh Cần- Ủy viên Thường vụ Thành ủy Hà Nội, Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội, chủ nhiệm báo Thủ đô Hà Nội : Hiệp ước về biên giới ngày 30.12.1999 và Hiệp ước về lãnh hải Bắc Bộ ngày 25.12.2000 mà những kẻ cầm quyền CHXHCNVN đã tự tiện ký kết với Trung Quốc mà không công khai thảo luận dân chủ tại quốc hội, cũng như không dám công khai bàn bạc với quốc dân đồng bào, do đó đã làm cho Tổ Quốc ta mất đi hàng mấy trăm cây số vuông lãnh thổ, trong đó có vùng ải Nam Quan, thác Bản Giốc, v.v… và hơn chục ngàn cây số vuông lãnh hải trong vịnh Bắc Bộ!

      *** Nhà văn Dương Thu Hương :” Về mặt đại cuộc, tôi thấy trong toàn thể lịch sử nước Việt, có lẽ cái triều đình Cộng sản hiện nay là cái triều đình hèn hạ và khốn nạn hơn tất cả những triều đình bán nước trước kia mà tiêu biểu là Lê Chiêu Thống. Lê Chiêu Thống có cầu cứu Tàu nhưng chưa bán một mảnh đất, chưa ký một hợp đồng chui, không hèn đến múc độ dám phạm luật của tổ tiên là nhượng đất cho giặc…”.

      ***Nhà thơ Trần mạnh Hảo :“ Một nhà nước mang tiếng là nhà nước của nhân dân, bảo vệ dân, bảo vệ đất nước mà lại đi bắt người đi biểu tình chống ngoại xâm? Thì nó biểu hiện một điều khủng khiếp nhất trong lịch sử dân tộc. Không có ai đi đàn áp nhân dân mình chỉ vì nhân dân mình yêu nước cả” .

      *** Tiến sĩ Hà sĩ Phu :Chỉ biểu tình ôn hòa chống kẻ xâm phạm bờ cõi mà phải xin phép mới được biểu tình thì đất nước này rất xứng đáng làm nô lệ, không có nhân dân anh hùng nào lại ứng xử như con giun vậy. Dân Việt Nam quyết không chấp nhận sự nô lệ ấy .

    • noileo says:

      http://old.danchimviet.info/archives/96076/hoa-giai-bang-hiep-dinh/2015/05
      ”Chống sự đô hộ 80 năm của giặc tây”

      “Sự đô hộ 80 năm của giặc tây” thì đã chấm dứt từ ngày 10-3-1945. Việt nam đã thâu hồi Độc lập từ ngày 11-3-1945, dưới sự điều hành của Thu tuong & chính phủ Trần Trọng Kim, chinh phu dau tien cua nuoc Viet nam Doc lap

      Giặc tây mà từ 1946 người dân VN phải gian khổ đánh đuổi, chính là do Hồ chí Minh & bọn cộng sản VNDCCH phản quốc bán nuớc dẫn vào VN từ tháng 5-1946.

      *****

      Tháng 8-1945 bọn cộng sản Hồ chí Minh làm đảo chánh, cuộc phản bội tháng 8, cướp chính quyền VN, cộng sản hóa chính quyền VN, khiến VN bị thế giới tự do lánh xa.

      KHông đầy 7 tháng sau cuộc phản bội tháng 8, bọn cộng sản Hồ chí Minh & VNDCCH ký với thực dân Pháp bản văn tự bán nước ngày 6-3-1946, dâng cho Pháp nền độc lập của VN mới thâu hồi từ ngày 11-3-1945, đặt VN vào vòng nô lệ Pháp lần thứ 2

      Ngày 19-5-1946, thực thi bản văn tự bán nước 6-3-1945, Hồ chí Minh đứng giữa lòng Hà nội phất cao lá “quốc kỳ” cờ đỏ sao vàng đón quân Pháp tiến Vào hà nội, tái chiếm VN.

      *****

      Tháng 6-1949 Pháp trao trả 6 tỉnh Nam kỳ cho VN đồng thời trao trả Độc Lập cho VN. Năm 1950 Hoa kỳ thiết lập bang giao & trao đổi đại sứ với VNCH lúc ấy còn mang quốc hiệu “Quốc Gia Việt Nam”.

      Chính là Quốc Gia Việt nam đã tham dự hội nghị quốc tế San Francisco 1951, tại đo THủ tướng Trần Văn Hữu của QGVN, đại diện cho VN, đã tuyên bố khẳng định chủ quyền của VN trên HS & TS.

      Nhắc lại những điều trên để cho thấy QGVN & VNCH là quốc gia & chính quyền hợp pháp, chính danh đại diện cho đất nước dân tộc VN, luôn luôn có ý thức & hành động bảo vệ lãnh thổ & chủ quyền VN. (*)

      TRong khi, vào lúc ấy thì phiến quân cộng sản Hồ chí Minh lại cúi đầu trước Mao Trạch Đông, lắng nghe Mao Trạch Đông tuyên bố chủ quyền (bất hợp pháp) của giặc tàu trên HS & TS.

      *****

      Tháng 1-1950 phiến quân cộng sản Hồ chí Minh sang tàu đón giặc Trung cộng Mao Trạch Đông vào VN, dựa vào Trung cộng dựng nên đảng cộng sản Lao động làm công cụ tay sai cho giặc tàu, khủng bố người dân VN, bành trướng chủ thuyết Mác Lê Mao tội ác vào VN,

      từ đó phiến quân cộng sản Hồ chí Minh trở thành phiến quân cộng sản Mao-ít tại VN,

      từ đó Việt cộng và Trung cộng cùng nhau ăn cắp cuộc kháng chiến của người Việt nam,

      từ đó, đội danh nghĩa “kháng chiến”, bọn cộng sản Lao động Tàu đẻ, bọn cộng sản Mao-ít Hồ chí MInh, Võ Nguyên Giáp thu gom xương máu VN dâng cho giặc tàu làm công cụ chiến tranh cho giặc tàu đánh Pháp cho giặc tàu, mở đường cho giặc tàu tiến vào VN thay Pháp đô hộ VN, xích hóa VN, Hán hóa VN, chiếm đoạt VN

      *****

      Cộng sản, cộng sản Hồ chí Minh, cộng sản VNDCCH, cộng sản lao động Tàu đẻ…, cộng sản nào cũng là tội ác, cộng sản nào cũng là phản quốc, cộng sản nào cũng là bán nước, cộng sản nào cũng là tay sai giặc tàu cướp nước Việt nam.

      Hợp tác với Pháp hay hợp tác với Mỹ để chống cộng, đều là đúng đắn tốt đẹp, đều là yêu nuớc VN, đều là bảo vệ tổ quốc VN, còn hơn để cộng sản dâng nước Việt nam cho giặc tàu.

      Hợp tác với Pháp, hợp tác với Mỹ chống cộng thì còn nước Việt nam của người Việt nam, để cộng sản cầm quyền thì mất nước Việt nam vào tay giặc tàu

  5. Trần Ngọc says:

    Khủng bố

    …Khủng bố thuộc nhà nước thì có hai mức độ: Một, ủng hộ và tài trợ cho các tổ chức khủng bố để chúng gieo rắc tội ác ở những nơi khác và hai, bản thân nhà nước đóng vai trò khủng bố đối với dân chúng trong chính nước của họ. Thuộc loại trên, Tổng thống Mỹ George W. Bush, vào năm 2002, cho có ba quốc gia chính được gọi là “trục ma quỷ” (Axis of evil), bao gồm Iraq, Iran và Bắc Triều Tiên. Thuộc loại dưới, tất cả các quốc gia độc tài, với những mức độ khác nhau, đều là những nhà nước khủng bố: Họ sử dụng bạo lực để làm dân chúng sợ hãi, từ đó, triệt tiêu mọi ý định phản kháng, hoặc thậm chí, phản biện.

    Trong ý nghĩa đó, không còn hoài nghi gì nữa, nhà nước Việt Nam hiện nay là một nhà nước khủng bố.

    Thật ra, tính chất khủng bố ấy đã xuất hiện ngay từ khi nhà nước Việt Nam (cộng sản) vừa mới ra đời. Ngay sau Cách mạng tháng Tám, họ đã có chính sách tiêu diệt những người đối lập và đối kháng, qua đó, gây khiếp hãi trong quần chúng để không ai dám chống lại họ nữa. Chính sách này càng trở thành phổ biến trong cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam trong giai đoạn 1954-75. Chính sách gọi là “trừ gian diệt bạo” thực chất là một sự khủng bố. Theo Anthony James Joes, trong cuốn “The War for South Vietnam 1954-75” (New York: Fraeger, 1989, tr. 46), trong cuộc chiến tranh Nam Bắc, Việt Cộng đã giết khoảng 20% các cán bộ làng xã ở miền Nam. Chỉ trong năm 1960, họ giết khoảng 1.400 công chức và thường dân; năm 1965, con số bị họ giết lên đến 25.000 người. Theo Walter Laqueur, trong cuốn “Guerrilla, a Historical and Critical Study” (London: Weidenfeld and Nicolson, 1977, tr, 262-271), những sự khủng bố của chính quyền miền Bắc có quy mô và mức độ tàn độc hơn cả Trung cộng trong cuộc chiến chống lại Tưởng Giới Thạch trong thập niên 1940…

    (Trích từ bài Khủng bố của TS.Nguyễn Hưng Quốc).

Phản hồi