|

Trần Trung Đạo: “Hãy tôn trọng lịch sử” nhưng lịch sử nào?

Lịch sử nào, lịch sử do Đảng CS viết?

Lịch sử nào, lịch sử do Đảng CS viết?


Tôi chưa đọc Bên Thắng Cuộc đầy đủ để viết về tác phẩm này. Sách do một người em gởi từ California vẫn chưa đến. Có thể khi đọc xong cả hai cuốn, sẽ nhận xét Bên Thắng Cuộc với tư cách một người miền Nam đã sống những năm khắc nghiệt ở Sài Gòn, “sinh viên chế độ cũ”, đi kinh tế mới, vượt biển và trăn trở cùng đất nước. Bài viết này chỉ bàn đến luận điểm mà các báo lề đảng dùng khi viết về tác phẩm Bên Thắng Cuộc.

Hầu hết báo lề đảng đều đòi hỏi “Hãy tôn trọng lịch sử”, vâng, nhưng lịch sử nào?

Một trong những đề án lớn của các quốc gia thuộc khối CS Liên Xô cũ không chỉ phục hồi kinh tế, ổn định xã hội sau gần 80 năm sống trong chế độ toàn trị kinh hoàng nhưng là viết lại lịch sử. Các nhà sử học Nga dành nhiều năm để đánh giá các sự kiện diễn ra từ thời Vladimir Lenin đến Mikhail Gorbachev và cho đến nay vẫn còn đang đánh giá. Nhiều chi tiết như các điều khoản bí mật trong hiệp ước Molotov-Ribbentrop, việc chiếm đóng các quốc gia vùng Baltic, sự giúp đỡ của đồng minh trong thế chiến thứ hai v.v… đã bị xóa trong sử CS. Một số sự kiện có nhắc đến nhưng lại cố tình viết sai thủ phạm như vụ tàn sát 22 ngàn sĩ quan Ba Lan tại Katyn vào tháng 3 năm 1940 được viết là Đức Quốc Xã chứ không phải do mật vụ Xô Viết hành hình. Không chỉ sử Nga mà cả lịch sử thế giới, sự sụp đổ của đế quốc La Mã, các hình thái kinh tế cũng được giải thích theo quan điểm CS.

Các nhà sử học Việt Nam trong tương lai cũng sẽ nhức đầu như thế. Lịch sử không có một dòng chảy chính thống và trong suốt qua các thời kỳ đất nước. Lịch sử Việt Nam từ năm 1954 ở miền Bắc và từ năm 1975 trên phạm vi cả nước là lịch sử của kẻ thắng trận, được giải thích theo quan điểm của kẻ thắng trận và để phục vụ cho mục đích của kẻ thắng trận. Lịch sử Việt Nam mà sinh viên học sinh đang học là lịch sử được phát ra từ cái loa, biểu tượng cho bộ máy tuyên truyền của chế độ, giống như cái loa mà Huy Đức có thể đã ám chỉ trong bìa sách Bên Thắng Cuộc.

Rất nhiều tranh luận về lý do tồn tại của chế độ CS tại Việt Nam. Trong cái nhìn của riêng tôi, chế độ CS tại Việt Nam chưa sụp đổ, không phải nhờ đổi mới kinh tế, ổn định xã hội nhưng chính là nhờ tác dụng của cái “loa lịch sử” đó. Đảng CS ít nhiều đã thành công trong việc che giấu được tội ác và khoát cho mình chiếc áo chính danh, chính nghĩa hay ít nhất không một thành phần dân tộc nào chính danh, chính nghĩa hơn đảng CS.

Đảng Cộng sản tại năm quốc gia sót lại từ phong trào CS quốc tế, đặc biệt Trung Quốc và Việt Nam đã pha chế chủ nghĩa Dân tộc vào chủ nghĩa Cộng sản thành một loại hợp chất gây mê man nhãn hiệu Dân tộc Xã hội chủ nghĩa. Đảng CS lý luận rằng họ ra đời để đáp ứng một nhu cầu lịch sử và, như một tác giả viết trong báo Pháp Luật, “những người cộng sản chỉ nối tiếp sứ mệnh mà lịch sử giao phó”. Lịch sử nào giao phó?

Chủ trương nhuộm đỏ Việt Nam của đảng CS rõ như ban ngày khi đẩy hàng triệu thanh niên miền Bắc mang súng đạn Nga Tàu vào cưỡng chiếm miền Nam. Pháp rút sớm hay rút muộn, Mỹ đến hay không đến cũng chẳng ảnh hưởng gì đến mục tiêu thiết lập một nhà nước CS trên toàn lãnh thổ Việt Nam nhất quán từ ngày thành lập đảng CS vào năm 1930. “Độc lập dân tộc”, “Thống nhất đất nước” chỉ là những chiêu bài. Nếu không dùng khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu nước” bộ máy tuyên truyền tinh vi của đảng cũng thừa khả năng để nặn ra hàng trăm chiêu bài, khẩu hiệu hấp dẫn khác để kích thích và vận dụng lòng yêu nước. Bộ máy tuyên truyền của đảng nhồi nhét vào nhận thức của các thế hệ Việt Nam, nhất là thế hệ sinh ra và lớn lên sau cuộc chiến, rằng cuộc chiến tranh gọi là “Chống Mỹ cứu nước” trước 1975 là cuộc chiến chính nghĩa, “đánh Mỹ” là bước kế tục của chiến tranh chống Thực Dân Pháp. Đó là lý luận của kẻ cướp. Đảng CS không chỉ cướp đất nước mà cướp cả niềm tin và khát vọng của những người đã chết.

Như tôi đã viết trước đây, miền Nam có đàn áp chính trị nhưng cũng có đấu tranh chính trị, có ông quan tham nhũng nhưng cũng có nhiều phong trào chống tham nhũng hoạt động công khai, có ông tướng lạm quyền nhưng cũng có ông tướng trong sạch, có nghị gà nghị gật nhưng cũng có những chính khách, dân biểu, nghị sĩ đối lập chân chính. Xây dựng một xã hội dân chủ vừa bước ra khỏi phong kiến và thực dân là một tiến trình vinh quang nhưng cũng đầy trắc trở. Dân chủ ở miền Nam như một chiếc cây non lớn lên trong mưa chiều nắng sớm. Nhưng dù có khó khăn, tham nhũng thối nát bao nhiêu đi nữa, đó cũng là vấn đề riêng của Việt Nam Cộng Hòa không dính dáng gì đến đảng CS ở miền Bắc. Những ông như Trịnh Đình Thảo, Lâm Văn Tết có đủ không gian và phương tiện để đấu tranh một cách hợp pháp tại miền Nam cho một xã hội tốt đẹp hơn như hàng trăm chính khách quốc gia khác. Dĩ nhiên, họ có thể thất bại, bị tù đày và ngay cả bị giết nhưng vẫn là những người quốc gia chân chính. Tuy nhiên, khi tham gia Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, chấp nhận làm công cụ cho đảng CS, họ đã tự chắt chiếc cầu biên giới giữa họ và nhân dân miền Nam.

Tác giả viết trong Sài Gòn Giải Phóng nhắc đến “10 cô gái Đồng Lộc” mà không biết rằng nếu có thể hiện hồn về, công việc đầu tiên của các cô chết trong hố bom Đồng Lộc là đi tìm lãnh đạo đảng CS để thanh toán cả vốn lẫn lời vì cái chết oan uổng của các cô chỉ để đổi lấy một đất nước nghèo nạn, lạc hậu, một chế độ độc tài, tham nhũng, phản văn minh tiến bộ như ngày nay.

Tác giả trên báo Sài Gòn Giải Phóng cũng nhắc đến đến “nhà tù Côn Đảo”, “nghĩa trang Hàng Dương” làm tôi nhớ đến nơi này. Tôi cũng đã từng đến đó, không phải vì phải ở tù mà chỉ vì muốn biết một di tích lịch sử của dân tộc. Đảng xem nhà tù Côn Đảo như một “trường đại học CS”, tài sản riêng của đảng CS nhưng đừng quên nhà tù Côn Đảo do thực dân Pháp lập ra năm 1862 tức 68 năm trước khi đảng CS ra đời. Năm 1945, đảng CS ước lượng có khoảng 5 ngàn đảng viên. Cho dù thực dân Pháp bắt và đày nguyên cả đảng ra Côn Đảo cũng không thể so với số tù nhân thuộc các phong trào yêu nước khác. Với tôi, cuộc chiến chống thực dân Pháp là cuộc chiến chính nghĩa. Trong suốt gần một thế kỷ trong bóng tối thực dân, hàng vạn đồng bào thuộc nhiều thế hệ Việt Nam đã bị bắt, tra tấn và đã hy sinh trên Côn Đảo. Những đồng bào đã hy sinh trong cuộc chiến chống Thực Dân và bỏ xác trên đảo đều xứng đáng được tôn vinh.

Nếu họ đã từng là đảng viên Cộng sản thì sao? Không sao cả. Như tôi đã có dịp viết trong tiểu luận Từ buổi chiều trên nghĩa địa Hàng Dương, việc tham gia vào đảng Cộng sản của một số người Việt Nam, chủ yếu là để được tổ chức hóa nhằm mục đích hợp đồng chiến đấu, đạt đến chiến thắng dễ dàng hơn chứ không phải vì tin vào chủ nghĩa Cộng Sản. Ngày đó, vì điều kiện giao thông khó khăn, núi non cách trở, sự phát triển của các đảng phái chống thực dân ít nhiều bị giới hạn bởi các đặc tính địa phương, bà con giòng họ, hoàn cảnh trưởng thành. Nếu họ sinh ra ở Quảng Nam họ sẽ gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng, sinh ra ở Quảng Trị họ sẽ gia nhập Đại Việt, sinh ra ở Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang họ sẽ gia nhập Dân xã Đảng. Đó là trọng điểm của các đảng phái chống Pháp trong những thập niên đầu của thế kỷ 20. Những người Việt yêu nước thời đó chọn lựa đảng phái như chọn một chiếc phao để đưa dân tộc sang bờ độc lập. Những nông dân hiền hòa chất phác, những công nhân đầu tắt mặt tối làm sao biết được con đường họ đi không dẫn đến độc lập, tự do, hạnh phúc mà dẫn đến nghèo nàn, lạc hậu, độc tài và làm sao biết được chiếc phao họ bám cũng là chiếc bẫy buộc chặt chẳng những cuộc đời họ mà còn gây hệ lụy cho cả dân tộc đến ngày nay. Đảng Cộng sản như một tổ chức thì khác. Mục đích của đảng CS không chỉ nhuộm đỏ miền Nam, nhuộm đỏ Việt Nam mà còn nhuộm đỏ cả dòng lịch sử.

Tác giả viết trên báo Pháp Luật so sánh việc chính quyền miền Nam tra tấn các đảng viên CS và tù “cải tạo” sau 1975 khi kết án tác giả Bên Thắng Cuộc đã “Nhấn mạnh “chế độ hà khắc” của các trại cải tạo nhưng cuốn sách lại không nhắc đến những trại tù và cách ứng xử của chế độ Sài Gòn cũ đối với những người yêu nước.”

Những kẻ ném lựu đạn vào nhà hàng, ám sát, đặt mìn trên quốc lộ 1, quốc lộ 4, đặt bom trong sân vận động, đốt chợ, đốt làng, giết người vô tội không phải tù chính trị hay tù binh chiến tranh mà chỉ là những tên khủng bố. Chúng là những kẻ yêu đảng chứ không phải là “những người yêu nước”. Bấm vào đây (http://www.flickr.com/photos/[email protected]/1718882116/in/set-72157627481846037) để xem các “chiến công hiển hách” của Biệt động thành Sài Gòn Gia Định khi ám sát hàng loạt “Mỹ ngụy” còn mặc tã ở nhà hàng Mỹ Cảnh. Tội ác giết phụ nữ trẻ em của chúng phải được xét xử theo đúng luật pháp. Điều đó đã và đang được áp dụng tại mọi quốc gia trên thế giới không riêng gì Việt Nam Cộng Hòa.

So sánh tù CS ở Côn Đảo và tù “cải tạo” là một cách so sánh vụng về và không cân xứng. Tổng số tù tại Côn Đảo khác nhau tùy theo bên nào tống kết, 5 ngàn theo con số của VNCH công bố và 17 ngàn theo con số của Hà Nội. Dù chọn con số 17 ngàn của đảng thổi phồng vẫn không thể so với hơn 200 ngàn công nhân viên chức và sĩ quan quân đội VNCH bị giam giữ trong 150 trại tù, đa số tận rừng sâu nước độc kéo dài từ 1975 đến 1992 mà chính Thủ tướng CS Phạm Văn Đồng thừa nhận. Các tổ chức quốc tế ước lượng cho đến 1982 số viên chức và sĩ quan VNCH bị giam giữ vẫn còn lên đến 300 ngàn người. Theo tổng kết của báo chí Mỹ, khoảng 165 ngàn người đã chết trong các trại tù CS. Ngoài ra, hàng triệu thân nhân, gia đình, con cái họ bị đày ra các vùng kinh tế mới, bị bạc đãi như nô lệ thời CS chỉ vì lý lịch VNCH.

Một điều quan trọng mà người dân miền Nam sẽ không bao giờ quên, không giống tù Côn Đảo xảy ra trong thời chiến, tội ác “tù cải tạo” vô cùng phi nhân đã được đảng thực thi sau khi đất nước đã hòa bình, sau khi Lê Duẩn ngọt ngào tuyên bố “chiến thắng này thuộc về nhân dân Việt Nam” và sau khi Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn Gia Định vuốt ve các viên chức VNCH còn trong Dinh Độc Lập “Nhân dân Việt Nam chính là người chiến thắng và chỉ đế quốc Mỹ mới thật sự là kẻ bại trận mà thôi.”

Phân tích như vậy để thấy lý luận trong bài viết trên báo Pháp Luật cho rằng cuộc chiến chấm dứt sáng 30-4-1975 “không phải là chiến thắng của một “bên thắng cuộc” hạn hẹp mà là chiến thắng của mọi người Việt Nam, trong đó cả những người từng ở phía bên kia” đúng là sản phẩm của chính sách tẩy não. Miền Nam sau 30-4-1975 là một nhà tù và nhân dân miền Nam là tù nhân dưới nhiều hình thức khác nhau.

Từ 1983, để tồn tại, đảng CS phải tự diễn biến hòa bình bằng cách mở thêm một vài ô cửa sổ cho gió vào nhưng thực chất đất nước vẫn còn bị bao bọc bằng bức tường dày bưng bít thông tin và một chế độ trấn áp không thua tiêu chuẩn một nhà tù khắt khe quốc tế nào. Lý thuyết Mác Lê có thể chỉ còn trong đầu môi chót lưỡi, trong các diễn văn, trong các bài ai điếu của các lãnh đạo đảng nhưng các phương tiện chuyên chính, toàn trị CS vẫn không khác gì nhiều so với thời triệt để cách mạng trước đây. Một nhạc sĩ trẻ Việt Khang chỉ viết hai bài hát chống Tàu bị kết án bốn năm tù. Một cô gái Đỗ Thị Minh Hạnh mới ngoài hai mươi tuổi, đấu tranh cho quyền lợi công nhân phù hợp với luật pháp của đảng CS quy định bị kết án bảy năm tù, một thanh niên trẻ Lê Sơn chỉ đưa tin tức các cuộc biểu tình chống Trung Quốc và chống khai thác Bauxite tại Tây Nguyên bị kết mười ba năm tù. Và hàng trăm, hàng ngàn người khác đã sống và đã chết, nhiều trường hợp rất âm thầm, trong nhà tù CS chỉ vì dám nói lên khát vọng dân chủ tự do.

Tác giả trên báo Sài Gòn Giải Phóng viết “Có thể lúc này lúc khác, Đảng có sai lầm. Cuộc sống khó khăn, đôi khi tôi cũng mất lòng tin vào đường lối của Nhà nước.” Hãy chỉ dùm tôi, không phải một năm, một tháng mà chỉ một ngày thôi đảng CS đã “lúc này lúc khác”. Bản chất của chế độ chưa hề thay đổi dù chỉ một giờ.

Lãnh đạo đảng có 38 năm để chọn một hướng đi phù hợp với trào lưu tiến hóa của nhân loại, có hàng trăm cơ hội để sửa sai nhưng họ không làm. Tất cả chính sách của đảng chỉ nhằm một mục đích duy nhất là củng cố quyền cai trị mặc cho dân tộc bị bỏ lại phía sau một đoạn đường quá xa so với đà tiến của nhân loại sau cách mạng tin học và toàn cầu hóa kinh tế cuối thập niên 1980. Tội ác của đảng với “tù cải tạo”, “kinh tế mới”, “đổi tiền”, “đánh tư sản”, có viết hàng tủ sách cũng không hết. Nỗi đau và sự chịu đựng vô bờ bến của nhân dân miền Nam nói riêng và cả nước nói chung, không thể nào diễn tả cạn dòng. Hàng ngàn câu chuyện thật đau lòng đã xảy ra trên con đường máu nhuộm Việt Nam sau 1975 và chỉ được phơi bày khi bức tường chuyên chính CS bị đạp đổ.

Có hai cách để đạp đổ bức tường chuyên chính. Thứ nhất, đi mượn một cái búa lớn của các cường quốc đem về đập phá bức tường và thứ hai xói mòn bằng những bàn tay nhỏ Việt Nam kiên nhẫn. Sau 38 năm, những người đi tìm búa hoặc chết trên đường hoặc trở về không. Còn lại hôm nay là những bàn tay Việt Nam nhỏ nhoi. Bàn tay Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Lê Quốc Quân, Đặng Xuân Diệu, Hồ Đức Hòa, Lê Văn Sơn và hàng ngàn người Việt Nam yêu nước khác. Dù đang ngồi trong bốn bức tường đen, họ mới chính là những người đang viết sử và thấy đâu là sự thật.

© Trần Trung Đạo

7 Phản hồi cho “Trần Trung Đạo: “Hãy tôn trọng lịch sử” nhưng lịch sử nào?”

  1. Tien Pham says:

    “Ngoài ra, hàng triệu thân nhân, gia đình, con cái họ bị đày ra các vùng kinh tế mới, bị bạc đãi như nô lệ thời CS chỉ vì lý lịch VNCH.”

    Làm tôi nhớ lại thời tôi còn ở trong nước (CHXHCNVN).

    Bố tôi là dân di cư 54, người Công Giáo, trí thức (bác sĩ dân biểu cả 2 thời kì đệ I và đệ II cộng hoà.) Nói ra chẳng phải để khoe khoang, nhưng để cho thấy rằng tôi là con “Ngụy” đến cỡ nào.

    Tôi có học giỏi cách mấy (tôi là “học sinh tiên tiến” suốt từ năm lớp 6 (đệ thất) tới lớp 10 (đệ tam. Đầu năm lớp 11 (đầu thập niên 1980) thì tôi ra đi.) tôi cũng sẽ chết dấm chết dúi ở 1 cái xó xỉnh nào đó ở bên Campuchia, như các thanh niên trai tráng trong xóm. Đơn giản là vì tôi (chắc chắn) sẽ rớt khi thi vào đại học (môn lí (lịch) là 1 môn hiểm hóc nhất mà CSVN áp dụng lên con cháu của người thua cuộc.) Tôi kô sợ đi lính rồi chết ở mặt trận. Nhưng “bị đì” vì là con của Nguỵ là (hơi bị) bất công.

  2. Trung Kiên says:

    Trích bài chủ:…”Những kẻ ném lựu đạn vào nhà hàng, ám sát, đặt mìn trên quốc lộ 1, quốc lộ 4, đặt bom trong sân vận động, đốt chợ, đốt làng, giết người vô tội không phải tù chính trị hay tù binh chiến tranh mà chỉ là những tên khủng bố. Chúng là những kẻ yêu đảng chứ không phải là “những người yêu nước”. Bấm vào đây (http://www.flickr.com/photos/[email protected]/1718882116/in/set-72157627481846037) để xem các “chiến công hiển hách” của Biệt động thành Sài Gòn Gia Định khi ám sát hàng loạt “Mỹ ngụy” còn mặc tã ở nhà hàng Mỹ Cảnh. Tội ác giết phụ nữ trẻ em của chúng phải được xét xử theo đúng luật pháp. Điều đó đã và đang được áp dụng tại mọi quốc gia trên thế giới không riêng gì Việt Nam Cộng Hòa

    Hoàn toàn đồng ý với nhận định trên đây của tác giả Trần Trung Đạo…

    Hơn nữa, những kẻ phá hoại này (VC) bị VNCH bắt, xử theo luật pháp và giam tù trong kỳ thời chiến tranh…

    Còn csvn đánh lừa những người lính VNCH đã buông súng ra trình diện khi chiến tranh đã chấm dứt và “hoà bình” đã trở lại.

    Hai sự kiện “giam tù” hoàn hoàn khác nhau!

    Đánh lừa, bắt nhốt người thua cuộc để trả thủ là hành động của những kẻ tiểu nhân, hèn mạt…không có ngôn ngữ nào có thể biện minh cho csvn được!

    Cám ơn tác giả Trần Trung Đaọ và ĐCV.Info về bài viết này.

    • Nguyen To says:

      Việt cộng là bọn cướp phá hoại,
      nguyên nhân nước VN có bọn cướp này là do bọn phản quốc hợp
      tác với thực dân Pháp và bọn này sẽ tiếp tục hợp tác với VC để chia rẽ
      hận thù và tàn phá Quốc Gia Việt Nam

  3. NGUYEN AN says:

    Một phần lịch sử là đây:

    Hồ chí Minh có đứa con rơi là Nguyễn tất Trung (làm con nuôi Vũ Kỳ) vẫn còn sống sót (có vợ con đàng hoàng).
    Tố Hữu vẫn còn đứa con gái rơi, không thừa nhận (còn sống sót tại VN).
    Mẹ cô nầy là người Quảng Ngãi, nhưng ca cầm trên sông Hương và cô con gái nầy, tiếp tục “nghề đặc biệt” trên sông Hương khi mẹ qua đời, phục vụ sinh lý cho cán bộ nội thành!
    (Tố Hữu muốn thủ tiêu giọt máu rơi nầy, bằng xúi tự thiêu(năm 1963) nhằm tố, “chụp mũ” Ngô đình Diệm
    đàn áp Phật Giáo, nhưng cán bộ nội thành tráo người khác, tự thiêu thay thế và biến cô thành “gái làng chơi” …
    Cô cho biết (theo lời mẹ), Tố Hữu bắt đầu bài thơ “cách mạng” TỪ ẤY cũng từ cuộc tình qua đường nầy, trên đò ca
    sông Hương … và chấm dứt đời làm thơ với câu cuối cùng:
    ” Sống là cho, mà chết cũng là cho”
    Được dân gian sửa lại là:
    ” Sống là CHÓ, mà chết cũng là CHÓ”.
    @* Câu chuyện tình nầy của Tố Hữu, rất ly kỳ hấp dẫn, độc đáo và độc ác, có thể viết thành phim sau nầy, thay thế cho truyện tình nổi tiếng của Đức: “Một thời để yêu và một thời để chết” …
    @@ Muốn tìm tài liệu về câu chuyện tình của Tố Hữu (hoặc để dựng phim sau nầy) thì vào thư viện Quốc Hội Hoa Kỳ, tìm báo “Văn nghệ Tiền Phong” khoảng năm 1986 (thời Tố Hữu vừa mất chức).
    Bài viết do cô con gái rơi Tố Hữu viết từ VN, gởi đăng trên VNTP.

  4. doctin says:

    Một trong những “chính sử” của bè lũ đồ tể Việt cộng là dưới đây . Vu khống đến tận cùng của sự bỉ ổi ! Cười pể pụng, té khỏi ghế ngồi .

    ***Ba mươi năm nhìn lại tội ác cưỡng ép di cư của Mỹ, Nguỵ ở miền Nam Việt Nam qua tài liệu lưu trữ tại TTLTQG III (1975-2005) – Nguyễn Thị Ngọc Diệp -

    Ngày 22/7/1966, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 136 – CP thành lập Uỷ ban Điều tra tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam. Phông tài liệu Uỷ ban Điều tra tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam được dần hình thành từ đó. Có thể nói, đây là khối tài liệu đầy đủ, chính xác, cập nhật về tội ác mọi mặt của đế quốc xâm lược Mỹ và chế độ Ngụy quyền ở Miền Nam Việt Nam. Cả đến giây phút chót cùng của cuộc chiến, Mỹ – Ngụy vẫn cố tình phạm thêm một tội ác mới – tội ác cưỡng ép di cư.

    Tập tài liệu về tội ác cưỡng ép di cư của Mỹ – Ngụy năm 1975 (Hồ sơ số 126 – Phông Uỷ ban Điều tra tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam) gồm 58 tờ, trong đó có 2 tờ đánh máy, còn lại là bản viết tay, cuối các văn bản có ghi thời gian, chữ ký và họ tên người viết. Thời điểm lập các văn bản có khác nhau, nhưng chủ yếu rải rác từ đầu tháng 3 đến tháng 12 năm 1975. Nội dung tài liệu có thể tóm tắt thành 3 phần lớn sau đây:

    1. Về tội ác cưỡng ép di cư của Mỹ ở Miền Nam Việt Nam kể từ giữa tháng 3 cho đến tháng 7 năm 1975.
    2. Một số sự kiện về việc di tản những người ở các tỉnh tại Miền Nam Việt Nam.
    3. Tuyên bố của Uỷ ban Điều tra tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam về tội ác cưỡng ép di cư và bắt cóc trẻ con của chính quyền Pho.

    Tựu trung lại, trong năm 1975, khi phía ta bắt đầu cuộc tổng tấn công thì cũng là lúc Mỹ – Ngụy ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, gây chiến tranh tâm lý để vu cáo cách mạng, rằng cộng sản sẽ “trả thù” và “tắm máu”, đồng thời chúng dùng vũ lực để cưỡng ép hàng chục vạn người phải rời bỏ nơi ăn, chốn ở để theo chúng di chuyển về những khu vực do chúng còn tạm thời kiểm soát. Trong bước đường cùng, chúng đã không từ cả việc “bắt cóc’’ hàng loạt trẻ em, và “xuất cảng” hơn 13 vạn người sang Mỹ và một số nước khác dưới danh nghĩa “di tản nhân đạo”, để thực hiện mưu đồ đen tối chủ nghĩa thực dân mới, “học thuyết Thái Bình Dương” và chống phá cách mạng Việt Nam sau này.

    Với mục đích làm trống rỗng các vùng mới giải phóng, phá vỡ cơ cấu xã hội Việt Nam về lâu dài, tập hợp bọn phản Cách mạng để sau này sẽ chống lại ta, lừa bịp để kích động tình cảm và lương tri của nhân loại thế giới mà trước hết là nhân dân Mỹ, Mỹ – Ngụy đã tổ chức cuộc “di tản nhân đạo” thực chất là cưỡng ép di cư. Trong cuộc di tản này, đã có hàng nghìn người chết vì nạn đắm tàu, xuồng và thuyền bè: Chỉ riêng tối 23/3 có khoảng 3000 người chạy khỏi Huế trên một chiếc tàu của ngụy đã bị chết chìm vì tàu đắm. Vào giữa tháng 3, do bị sử dụng làm bia đỡ đạn cho Mỹ – Ngụy, hàng trăm dân thường đã bị chết gục trên đưòng số 7, cách Tuy hoà 25 km. Nhiều người già, phụ nữ, trẻ em đã bị chết đói, chết khát ở dọc dường hoặc ở ngay trên tàu của Mỹ – Ngụy. Đầu tháng 4, nhiều người đi trên tàu “Pioneer Conteener” của Mỹ đã bị quân ngụy cướp của cải, giết vứt xác xuống biển. Mỹ – Ngụy còn đưa đi đày ải hàng vạn người tại nhà tù Phú Quốc. Tính hết tháng 4, Mỹ đã “bắt cóc” khoảng 1700 trẻ em trong 1 chuyến bay di tản kiểu này.

    Do những nỗi khổ cực về tinh thần và vật chất, do phải xa lìa gia đình, nhiều người di cư đã đấu tranh quyết liệt với Mỹ để đòi về nước, họ bị giới cầm quyền Mỹ đe dọa, giam cầm, đàn áp thẳng tay. Tuy nhiên, trước sự đấu tranh không ngừng của những người Việt xin hồi hương, ngày 16/10/1975, Mỹ phải cho một tàu biển chở 1546 người từ Guam trở về.

    Tóm lại, hành động cưỡng ép di cư đầy tội ác kể trên của Mỹ rõ ràng đã vi phạm nghiêm trọng công pháp quốc tế mà trước hết là tuyên ngôn nhân quyền năm 1948, Hiệp định Genever năm 1954 về việc bảo vệ dân thường trong chiến tranh, Hiệp ước quốc tế năm 1966 về quyền dân sự và chính trị của con người….

    Như vậy, cho đến giây phút cuối cùng của cuộc chiến tranh phi nghĩa, đế quốc Mỹ vẫn còn phạm thêm một tội ác “lợi dụng những dân tị nạn và trẻ mồ côi làm con tin”, cưỡng ép người Việt di cư sang Mỹ chẳng khác gì việc “buôn bán nô lệ trong thế kỷ trước mà hàng triệu người da đen từ Châu phi đã bị đưa sang Mỹ”, “vừa cướp người, vừa cướp của”….(Lời của Tổng thống Idi Amin của Ouganda; của E.Fog giám đốc một tổ chức thuộc Hội đồng các nhà thờ thế giới ở Genever).

    Với 58 trang hồ sơ có đầy đủ các số liệu làm bằng chứng, đặc biệt có dẫn tin từ các hãng tin quốc tế như Reuter, AP, UPI, AFP, BBC…, tập tài liệu này đã tố cáo, vạch trần, lên án tội ác của đế quốc xâm lược Mỹ. Cho đến hôm nay, sau 30 năm, những con số, những sự kiện vẫn còn nguyên chân xác, khách quan và sinh động, có giá trị lịch sử và có ý nghĩa to lớn đối với các nhà nghiên cứu. Nhiều người không muốn di cư đã bị Mỹ tiêm thuốc mê để đưa đi. Đại bộ phận những người di cư đã phải trải qua một cuộc sống thiếu thốn, khổ nhục, bị đày ải và vô cùng hỗn loạn tại các trại lều vải của Mỹ và một số nơi kkác như ở khu vực Thái Bình Dương. Chỉ có bọn tay sai đầu sỏ, bọn mật vụ chuyên giết người theo Mỹ trước đây là được Mỹ ưu đãi. Trong số 5138 tên mật vụ đã sang Mỹ, rất nhiều tên chỉ huy đã được chuyển cho CIA sử dụng.

  5. doctin says:

    Cựu tổng bí thư đảng Cộng sản Liên xô Mr. Gorbachev : “Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng Cộng sản. Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng đảng CS chỉ biết tuyên truyền và dối trá.”

    Tổng thống Nga sô Putin : “Kẻ nào tin những gì CS nói là không có cái đầu ”

    Nhà văn Nguyễn Tuân:Tất cả chúng ta đều mang chung một họ là họ “Sợ”

    Vậy thì làm gì có chính sử do sử gia chân chính viết dưới chế độ Việt cộng. Dưới nanh vuốt cai trị của Đảng và Nhà Nước Việt cộng , chỉ có bịa sử , ngụy sử với những tuyên truyền, bôi nhọ, xuyên tạc, vu khống, gian dối mà thôi .

  6. Trương Thúy Sơn says:

    Cảm ơn tác giả Trần Trung Đạo, bài viết thật sắc sảo và cảm động. Đúng là các nhà sử học sau này sẽ phải rất nhức đầu vì sự bịa đặt và bóp méo lịch sử của bọn CS. May mắn thay, chúng ta còn có những bàn tay nhỏ bé khác của Việt Nam như Huy Đức đã là 1 trong những người tiên phong làm công việc này. Dĩ nhiên Bên Thắng Cuộc không phải là cuốn sử cũng không phải là 1 cuốn sách tòan hảo không có sai trái và thiếu sót nhưng hy vọng là sẽ có nhiều Huy Đức khác tiếp tục công việc này đề hòan chỉnh lich sử Việt Nam trong thời gian mà bọn CS hoạt động, tuyên truyền và cướp chính quyền của dân tộc.

Phản hồi