|

Tướng Võ Nguyên Giáp, như tôi từng biết

Đại Tướng Võ Nguyên Giáp và nhà báo quân đội Bùi Tín.

Đại Tướng Võ Nguyên Giáp và nhà báo quân đội Bùi Tín.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa qua đời ngày 4/10/2013, quá tuổi 102, (đến 25-8-2011 là tròn trăm tuổi).
Thọ hơn 1 thế kỷ là cực hiếm, cực quý trong đời một người, vượt qua Đại Thọ Bách Niên. Người xưa nói khi nắp quan tài đậy lại là dịp luận bàn đánh giá đầy đủ về cuộc đời của người mới mất.Tuy vậy, do hoàn cảnh lịch sử, đấu tranh chính trị và chiến tranh kéo dài, sự phân chia Nam Bắc sau trận Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơnevơ, do hòa giải hòa hợp dân tộc vẫn còn ở phía trước, nên việc đánh giá tướng Giáp còn là một vấn đề tranh cãi, tranh cãi quyết liệt, kéo dài, với những chính kiến khác nhau, xa nhau, trái ngược hẳn nhau. Đây là điều không có gì lạ. Cho nên một đánh giá thống nhất về tướng Giáp là điều khó xảy ra, là hoàn toàn ảo tưởng. Qua bài viết này, tôi giữ thái độ khách quan công bằng, cũng là tưởng niệm khi ông mới đi xa.

Tôi gặp tướng Giáp từ những ngày đầu khởi nghĩa tháng 8-1945 ở Hà Nội. Năm 1948 – 1949 tôi gặp lại ông ở Bộ Tư lệnh Quân khu 4, thành phố Vinh. Sau 1955 tôi dự nhiều cuộc họp ở Bộ Quốc phòng – Tổng tham mưu, do tướng Giáp chủ tọa. Đầu tháng 5-1975, khi vào Sài Gòn tìm hiểu tình hình, ông điện chọn «nhà báo quân đội Bùi Tín làm người lên kế hoạch và hướng dẫn đại tướng thăm thú phố xá Sài Gòn – Chợ lớn, thăm gia đình vài anh chị em biệt động thành, thăm bà mẹ chiến sỹ tiêu biểu», trong 2 ngày, sau đó ông mới làm việc chính thức với Ủy ban Quân quản, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 và xuống Cần Thơ thăm Quân khu 9, tôi cùng đi theo.

Năm 1976 và 1977, tướng Giáp cầm đầu Đoàn đại biểu quân sự Việt Nam đi thăm chính thức lần lượt các nước Trung Quôc, Cộng hòa Dân chủ Đức, Ba Lan, Hungary, Romania, Liên Xô. Tôi ở trong đoàn, làm Trợ lý báo chí cho Bộ trưởng kiêm phóng viên cho báo Quân đội Nhân dân, giúp ông theo dõi thời sự quốc tế, trả lời phỏng vấn của báo chí, truyền hình các nước, đồng thời làm tin về hoạt động hằng ngày của đoàn. Mỗi buổi sáng, Cục trưởng đối ngoại của Bộ Quốc phòng và tôi là 2 người thường ăn sáng riêng cùng tướng Giáp để báo cáo tình hình và bàn công việc trong ngày.

Những năm 1986, 1990 vào dịp Đại hội đảng CS khóa VI và chuẩn bị Đại Hội VII, ông thường nhắn tôi đến nhà riêng ăn cơm gia đình để tìm hiểu tình hình xã hội, quân đội, dư luận quốc tế. Ông là người ưa nghe hơn là nói, thường kín đáo, không cởi mở, ít bạn tâm giao; ông cũng không hút thuốc, không uống rượu, không uống cà phê, chỉ uống nước trà pha rất loãng, không đánh bài tulơkhơ để giải trí như các ông tướng khác. Một thời khi bị xét nét về cái gọi là vụ «án xét lại chống đảng» (1966-1967) ông giải tỏa tinh thần bằng cách học đánh đàn dương cầm, mới chơi được vài bài phổ thông, chưa chơi được bài cổ điển như Dòng sông Danube hay Phiên chợ Ba Tư.

Công danh và những điều hạn chế

Về tài năng, ông Giáp quả có tài, mới đứng vững trên vị trí chỉ huy cao nhất của Quân đội Nhân Dân từ 1946 cho đến 1982, nghĩa là suốt 36 năm, qua 2 cuộc chiến tranh lâu dài, ác liệt. Tất nhiên trong cơ chế lãnh đạo tập thể, còn có Bộ Chính trị, có Đảng ủy Quân sự Trung ương, có các tướng lãnh và sỹ quan giúp việc dưới quyền, lại còn có cố vấn quân sự Trung Quốc, Liên Xô và vài nước khác, nên những chủ trương chiến lược, chiến dịch thường được bàn bạc chung.

Như khi chủ trương mở chiến dịch Biên giới năm 1950, lúc đầu tướng Giáp đề xuất đánh vào thị xã Cao Bằng trước, nhưng các cố vấn Trung Quốc do tướng Trần Canh cầm đầu đề nghị đánh theo kiểu «công điểm diệt viện», trước hết đánh vào Đông Khê trên đường số 4, ở giữa Cao Bằng và Lạng Sơn, tiêu diệt cả binh đoàn Charton từ Cao Bằng rút chạy và binh đoàn Lepage từ Lạng Sơn lên đón, đều bị tiêu diệt hay bắt sống ở ngoài công sự, khi hành quân trong rừng; kết quả là giải phóng luôn cả Cao Bằng, Lạng Sơn và một vùng biên giới rộng lớn, thu rất nhiều vũ khí, bắt nhiều tù binh. Biên giới Việt – Trung rộng mở là chuyển biến chiến lược, có ý nghĩa quyết định cho những chến thắng sau này.

Về chiến địch Điện Biên Phủ, có thể nói chủ trương chiến dịch mang đậm tài năng chỉ huy của tướng Giáp. Năm 1989, nhân kỷ niệm 35 năm chiến dịch này, ông đã kể lại cho tôi nghe diễn biến cụ thể của chiến dịch, có ghi âm, được nhà văn Hữu Mai cùng dự ghi lại, thành bài hồi ký «Quyết định khó khăn nhất» đăng trên tuần báo Nhân dân Chủ nhật. Khi quân Pháp vừa nhảy dù xuống lòng chảo Điện Biên hồi cuối tháng 11-1953, Bộ Tổng tham mưu đã phác họa ngay kế hoạch bao vây và tấn công theo phương châm «đánh nhanh giải quyết nhanh» (khoái tả khoái diệt), theo học thuyết quân sự của Lâm Bưu khi địch mới lâm thời phòng ngự, chưa có hệ thống phong thủ vững chắc. Tổng cố vấn Vi Quốc Thanh và đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tán thành phương châm này, theo kiểu ồ ạt, thường gọi là «biển người». Đầu tháng 1-1954, tướng Giáp lên đến mặt trận, vòng vây được xiết dần, pháo lớn được kéo vào đặt trên sườn núi, được ngụy trang kỹ, với nhiều ụ pháo nghi binh, dự định khai hỏa vào lúc 18 giờ ngảy 26-1, dự tính sau 2 đêm 1 ngày sẽ diệt xong cả tập đoàn cứ điểm.

Nhưng cả đêm 25-1, tướng Giáp thao thức trăn trở về khả năng chiến thắng. Trưa 26-1  ông họp đảng ủy mặt trận cùng 3 tướng: Hoàng Văn Thái,Tổng tham mưu trưởng kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận; Lê Liêm, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị kiêm Chủ nhiệm chính trị Mặt trận; Đặng Kim Giang, Phó chủ nhiệm hậu cần kiêm Chủ nhiệm hậu cần Mặt trận. Sau khi nêu rõ tuyến phòng thủ đã trở nên kiên cố của quân Pháp, tướng Giáp đưa ra ý kiến ngừng cuộc tiến công, rút pháo ra phía sau, chuẩn bị lại theo phương châm «đánh chắc tiến chắc», nghĩa là: đánh dũi theo đường hào bao vây chia cắt, diệt từng cứ điểm, dùng chiếc xẻng cán ngắn làm công cụ tiến công chính. Cả 3 tướng Thái, Liêm, Giang đều sững sờ vì bị bất ngờ, muốn giữ nguyên phương châm cũ, vì bộ đội đã được động viên cao, chỉ chờ lệnh là xông tới, nay đình lại là như dội nước lạnh, sau này động viên trở lại rất khó. Đã xế chiều, tranh luận còn gay go, tướng Giáp hỏi lại rằng có ai tin là sẽ chắc thắng trăm phần trăm, theo phương châm cũ không, thì cả 3 tướng nói trên đều không trả lời được. Ông dùng quyền bí thư đảng uỷ mặt trận, quyền tư lệnh chiến dịch kết thúc cuộc họp,  dùng điện thoại ra lệnh trực tiếp cho các tư lệnh dưới quyền giữ vững quyết tâm diệt địch nhưng đình chỉ tiến công, kéo pháo ra, chấp hành triệt để, vì tình hình đã thay đổi, địch đã phòng thủ vững chắc, cần thay phương châm tác chiến sang «đánh chắc tiến chắc», ai còn thắc mắc sẽ giải thích sau. Việc thay đổi phương châm, rút pháo ra, chuẩn bị thêm gần 50 ngày đêm, để đêm 10-3 mở cuộc tiến công vào cứ điểm Him Lam, Độc Lập cho đến chiều 7 tháng 5-1954 toàn thắng, cũng qua hơn 50 ngày đêm chiến đấu, được tướng Giáp coi là «Quyết định khó khăn nhất» trong đời ông. Cần công bằng công nhận đây là biểu hiện tài chỉ huy mang dấu ấn riêng của ông. Như ông kể, Đại tá Nguyễn Hiếu ở Sở chỉ huy chiến dịch và Đại tá Cục phó Quân báo Cao Pha đã góp phần của mình, sớm tán đồng phương châm «đánh chắc tiến chắc» do ông đề ra. Về sau, nhiều sỹ quan công nhận rằng không thay phương châm, cứ liều húc vào một hệ thống phòng thủ vững chắc như tướng Pháp Navare và Cogny mong muốn thì 4 sư đoàn tiến công – vốn liếng quân sự của cuộc kháng chiến -  sẽ bị tổn thất nặng nề ra sao, và diễn biến của cuộc chiến tranh chắc chắn sẽ khác hẳn. Các cố vấn quân sự Trung Quốc đều bất ngờ khi tướng Giáp báo tin thay đổi phương châm và sau khi nghe giải thích họ cũng tỏ ra tán thành.

Sau chiến thắng lớn như trên, các nhà bình luận quân sự phương Tây thường chỉ ra phía kháng chiến đã chịu những tổn thất khủng khiếp, gấp 3 hay 4 lần đối phương. Cái giá phải trả cho chiến thắng là quá lớn, lớn đến khủng khiếp, toàn là trai tráng thanh niên tuấn tú, có lý tưởng, chất lượng cao của dân tộc. Đây là sự thật. Hồi tháng 4-1996, trong cuộc hội thảo ở  trụ sở Quốc Hội  Hoa kỳ, tướng Westmoreland nói với tôi rằng: «Tôi công nhận tài năng của tướng Giáp, phải có tài mới ở lâu đến hơn 30 năm chiến tranh trên cương vị tư lệnh quân sự cao nhất; nhưng phải nói thật là nếu như tướng Giáp là một viên tướng Hoa kỳ thì ông đã bị mất chức từ lâu rồi, vì Quốc hội chúng tôi, xã hội chúng tôi không thể chấp nhận những tổn thất sinh mạng của quân đội mình cao đến vậy».

Tôi nghĩ  nền độc lập của đất nước, quyền sống tự do của nhân dân là vô giá, dù cho phải trả giá cao, nhưng lãnh đạo đảng Cộng sản đã không quan tâm thật sự đến tự do của nhân dân, chỉ quan tâm trước hết đến quyền lãnh đạo tuyệt đối và duy nhất của đảng, do đó mà vô vàn hy sinh của các liệt sỹ cuối cùng đã trở nên phũ phàng, mỉa mai, không được đáp đền một cách xứng đáng. Đây là điểm tiêu cực nhất của tướng Giáp, là tỳ vết sâu đậm nhất của một danh tướng, từng được coi là Người Anh Cả của Quân đội Nhân dân. Ông mang danh là một viên tướng «Sát Quân», sát quân một cách lạnh lùng.

Tôi đã gửi 2 lá thư cho ông (năm 1992 và 1996), nhắc ông rằng quân hàm đại tướng 4 sao của ông được mạ bằng xương máu của hàng vạn vạn chiến binh, rằng «nhất tướng công thành vạn cốt khô», mong ông hãy tham gia, ủng hộ phong trào đổi mới theo hướng dân chủ hóa thật sự đất nước; rằng ông chỉ cần ghé thăm anh Hoàng Minh Chính đang bị chính quyền đối xử rất tồi tệ, hoặc nhắn anh Đại tá Phạm Quế Dương mới ra khỏi nhà giam đến hỏi chuyện, cả 2 đều là sỹ quan từng dưới quyền trực tiếp của ông, ông vẫn làm ngơ, không động lòng. Đây là điểm yếu về ý chí, công tâm, nhân cách.

Nhiều người nhắc đến lá thư tháng 1-2004 của tướng Giáp gửi lãnh đạo đảng CS yêu cầu giải quyết «vụ án siêu nghiêm trọng» liên quan đến Tổng cục II, làm rõ vụ Năm Châu, Sáu Sứ và vụ T4, và sau này là 3 lá thư của ông hồi 2008-2009 về yêu cầu đình chỉ việc khai thác bauxite trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên. Đây là những việc làm có ý nghĩa tích cực, nhưng lá thư thứ nhất quá chậm trễ, vì các vụ Năm Châu, Sáu Sứ và vụ T4 đều xảy ra từ hồi 1991 – 1993 cũng như vụ dựng lên Tổng cục II từ Cục 2 Quân báo đến lúc đó cũng đã được mười năm. Ông Giáp phải chờ đến năm 2004 – năm kỷ niệm nửa thế kỷ Chiến thắng Điện Biên Phủ  – mới lên tiếng. Mà nội dung lên tiếng xem kỹ ra là nặng về thanh minh cho riêng cá nhân mình, như ông bị Năm Châu, Sáu Sứ dựng lên tài liệu để vu cáo là ông có âm mưu đảo chính, hay vụ T4 là do Tổng cục II bịa ra tài liệu vu cáo ông và nhiều nhân vật khác có quan hệ với CIA  của Hoa kỳ. Nói tóm lại ông chỉ trước hết nhằm bảo vệ thanh danh của cá nhân mình, cố chăm nom cho cái bộ mã của người hùng Điện Biên không bị hoen ố, cho đến khi hơn trăm tuổi.

Thái độ của ông đối với vụ khai thác bauxite cũng có phần yếu ớt, buông xuôi, so với những lá thư mạnh mẽ, lặp đi lặp lại của các tướng Đồng Sỹ Nguyên, Nguyễn Trọng Vĩnh và một số sỹ quan cấp cao khác.

Dũng khí là đức tính hàng đầu của một danh tướng, nên vào năm 1984, khi ông Lê Duẩn đến nói chuyện rất hẹp với cán bộ lãnh đạo báo Nhân Dân, ông kể rằng hồi 1968, bộ trưởng quốc phòng «nhát như thỏ đế», tránh mặt ra nước ngoài. Sự thật kế hoạch quân sự Mậu Thân 1968 là do các ông Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh, Trần Văn Trà đề xuất, khởi thảo và chỉ đạo thực hiện. Khi chiến sự bùng nổ Tết Mậu Thân, ông Giáp đang dưỡng bệnh 2 tháng ở Hungary sau khi mổ cắt túi mật ở đó. Thật ra ông không tán thành tham vọng tổng tiến công và nổi dậy, ông chỉ có ý thực hiện tập kích chiến lược, đánh rồi rút bảo toàn lực lượng, đánh lâu dài. Ý ông đúng, nhưng không cản nổi.

Ở Bộ Quốc phòng và Tổng tham mưu, các sỹ quan đều biết rằng suốt trong 30 năm, tướng Giáp rất ít khi ra mặt trận. Ngay ở Điện Biên Phủ ông gần như chỉ ở trong hang đá Mường Phăng, ngoài tầm pháo địch, suốt hơn 4 tháng trời, không ra gần hay sát nơi chiến trận. Sau khi chiến dịch toàn thắng ông mới ra duyệt binh tại chiến trường đã im tiếng súng  và tìm hiểu những di tích của các trận đánh. Trước đó, các chiến dịch lớn Trung Du, Hòa Bình, Thượng Lào … ông cũng ở trên Việt Bắc, chỉ huy từ rất xa.

Từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc chiến tranh ở miền Nam (1959 – 1975), ông không hề đặt chân lên chiến trường miền Nam (trừ 2 ngày tháp tùng ông Fidel Castro trên một đoạn ngắn thăm đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Cam Lộ – Quảng Trị, khi sắp kết thúc chíến tranh.). Trong khi đó các tướng Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Trần Độ, Hoàng Cầm, Lê Ngọc Hiền, Chu Huy Mân, Đoàn Khuê … đều ở chiến trường miền Nam vài năm. Do đó trong cuộc chiến tranh ở miền Nam, rút ra được những kinh nghiệm nóng hổi, thiết thực và bổ ích nhất, tướng Giáp đóng góp không có gì đáng kể, so với một loạt bài tổng kết lớn của tướng Nguyễn Chí Thanh (ký tên Trường Sơn), một số bài báo của tướng Trần Độ (ký tên Cửu Long) cũng như một số tài liệu tổng kết cho Học viện quân sự cấp cao của các tướng Lê Trọng Tấn, Hoàng Cầm, Hoàng Minh Thảo và Nguyễn Hữu An …mà cán bộ học viện thường gọi là «Binh thư mới» của Quân đội Nhân dân.

Một nhược điểm của tướng Giáp là văn phong, khẩu khí của ông, nếu không thể nói là yếu kém thì có thể nói là không có gì nổi bật. Ông mất đi, để lại hàng chục đầu sách, hàng trăm luận văn, bản báo cáo, hàng chục hồi ký (phần lớn do nhà văn quân đội Hữu Mai ghi lại), rất nhiều bài trả lời phỏng vấn trong nước và nước ngoài. Có cuốn sách nào hay, những ý tưởng quân sự nào đặc sắc của cá nhân ông, để lại cho hậu thế hay không? Điều này rất khó nói. Tôi từng dự nhiều buổi nói chuyện của ông tại Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, tại Học viện Quân sự cấp cao, ở trường Sỹ quan Lục quân, ở nhiều Quân khu, có thể nói ông không có năng khiếu truyền đạt, thông tin một cách bổ ích, hấp dẫn, rất thiếu những hình ảnh, dẫn chứng đặc sắc thú vị. Ông không có tài hùng biện, lôi cuốn của tướng Nguyễn Chí Thanh, không có tài kể chuyện thú vị  của tướng Trần Độ, không có sự sống động dày dạn của lão tướng Lê Trọng Tấn, không có sự táo tợn bộc trực của tướng Phùng Thế Tài, cũng không có cái giọng bình dân lính tráng bỗ bã của tướng Đinh Đức Thiện.

Vốn là giáo sư sử học trường tư thục Thăng Long, tướng Giáp say mê nghiên cứu lịch sử, hiểu rõ thiên tài quân sự của Napoléon. Ông thông minh, đôi mắt sáng, có trí nhớ tốt. Nhưng cách trình bày, khoa sư phạm của ông thường lại sáo mòn, đầy những quy luật, nguyên tắc nhạt nhẽo, khô cứng, lặp đi lặp lại đến phát chán cho người nghe. Bao giờ cũng là do sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng, có đường lối chính trị và đường lối quân sự đúng đắn; có Quân đội Nhân dân, quân đội của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, được nhân dân bao bọc, che chở, nuôi dưỡng, gồm 3 thứ quân: chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, phối hợp chặt chẽ 3 vùng: rừng núi, trung du và đồng bằng; vùng tự do, vùng tranh chấp và vùng tạm chiếm; luôn giữ quyền chủ động cả về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật và chiến đấu, kết hợp chặt chẽ tiền tuyến với hậu phương…, quanh quẩn chỉ có thế.

Tướng Peter Mac Donald của Quân đội Hoàng gia Anh, từng sang Việt Nam gặp tướng Giáp hồi 1987 đã viết cuốn «GIAP – hai cuộc chiến tranh Đông Dương» (GIAP – les deux guerres d’ Indochine) do nhà xuất bản Perrin – Paris phát hành năm 1992, trong đó ông nhận xét: «Những tư tưởng của tướng Giáp được ghi lại trên giấy thường là chán ngán đến chết người » (ses pensées transcrites sur le papier sont souvent mortellement ennuyeuses). Đây là nhận xét gần với sự thật.

Kết luận cuốn sách 350 trang, tướng P. Mac Donald viết: «Từ khi còn trẻ, tướng Giáp đã thấm nhuần lý thuyết Cộng sản. Thật đáng tiếc là trải qua mấy chục năm dài, lẽ ra trí thông minh của ông đã có thể mách bảo ông rằng cái chế độ mà ông tham gia xây dựng là sai lầm tệ hại, để từ đó tìm ra con đường khác bảo đảm hạnh phúc cho đồng bào của ông. Như một người theo Công giáo thời Trung cổ sợ hãi bị trừng phạt khủng khiếp khi bỏ đạo, ông đã mù quáng phục vụ đường lối Marx – Lénine theo như Hồ Chí Minh dẫn giải».

Trên đây là nhận xét khách quan của một nhà quân sự già dặn từng ở trong quân đội Anh 32 năm, từng sống qua 26 nước, từng nghiên cúu kỹ trận Điện Biên Phủ, từng là chủ biên cuốn Lịch sử thế giới (1987).

Bi kịch lớn nhất của tướng Giáp khá nhiều người nhận thấy đúng là: một danh tướng, có kiến thức, thông minh nhưng lại không đủ thông minh và dũng khí để sớm nhận ra và từ bỏ một lý thuyết sai lầm tệ hại, chỉ đem lại tàn phá và tổn thất cho nhân dân, đến nay vẫn chưa có tự do và hạnh phúc khi ông nhắm mắt.

Blog Bùi Tín (VOA)

66 Phản hồi cho “Tướng Võ Nguyên Giáp, như tôi từng biết”

  1. Trung Úy says:

    Đừng quá lo xa. Nếu Bùi Tín qua đời, một gia đình của Bùi Tín khóc là đủ.
    Cần gì phải ồn ào bát nháo, lố lăng, khóc lóc sượng xùng trông như một phường cải lương
    Trên thế giới chỉ có vaì quốc gia nghèo đói là có màn than khóc tập thể, lên đồng tập thể.
    Trung Úy

  2. Nguyễn Trọng Dân says:

    Chà…

    Dạo này Đổ Huynh viết văn cứ như Đông Phương Bất bại, cầm cây kim bay tới bay lui không cần điểm tựa…

    Đổ Huynh lại viết trật rồi !

    Hồ để cho Ngô đi vì có lệnh của…OSS!
    ( lúc này Hồ đang câu cá OSS )

    Hơn nữa , gia đình họ Ngô biết bao lâu nay ÂM THẦM cưu mang rất nhiều vị quan lại hết thời , trong đó có ông cụ thân sinh quan huyện …uống rựơu say mất chức năm nào …

    Anh tông tông Vịt đẹt nhà ta thoát chết cũng vị sự rộng lượng của cụ Khả năm nào…đó thôi

    Kính

    • tonydo says:

      Bác Trọng Dân có lẽ đúng! Câu chuyện khi HCM mời NĐD và các đảng phái QG tham gia chính phủ Lâm Thời hồi mới cướp chính quyền 1945 vì bị tướng Lữ Hán của Tưởng ép thì mọi người đều biết và sử sách cũng đã chép.
      Chuyện của TT NĐD nhất định không hợp tác và HCM cho đi nhưng tướng Giáp đòi thịt.
      HCM giải thích: Các chú không biết ở Huế người ta thường nói, Đầy Vua không Khả, Đào Mả không Bài và ra lệnh cho Giáp đưa NĐD ra khỏi Hà Nội (lúc đó tướng Giáp là B.Trưởng tư pháp, với nhiệm vụ lo thịt các đảng phái QG).
      Tất nhiên nhảy vào làm chính trị mà thấy đối thủ có khả năng cản trở con đường tiến của mình thì thả rọ trôi sông hay đâp đầu cho bể sọ, cũng như bóp dái cho chạy lên cổ.v.v. đều có thể hiểu được.
      Điều bác nói có OSS dính vô thì rất có cơ sở và Họ Ngô có giúp cụ thân sinh của HCM là điều dễ hiểu.
      Kính cám ơn bác.

  3. tuphuong says:

    Nếu Bùi Tín chết! Những ai xung phong đi đưa tang? Được bao nhiêu người????

    • Trọc Phú Thời Gian says:

      Câu hỏi thật “đáng đồng tiền bát gạo”. Chắc chắn sau khi Bùi Tín chết, sẽ có rất nhiều bài viết của “lề phải, lề trái” phân tích hành động lừa thầy phản chủ của Bùi Tín.
      Từ những năm 1950s, khi chính quyền Bảo Đại lôi kéo thi sĩ Nguyễn Bính “hồi chánh” trong đoàn quân Nam Tiến 1946 với nhiều cám dỗ. Trên báo và đài phát thanh của chính quyền Bảo Đại đã tung tin ông đầu hàng, ông đã nói với bạn bè:
      Mình không bỏ Sở sang Tề
      Mình không lỗi hẹn lời thề thì thôi.

      Từ xưa cổ nhân đã nói “Thà chết trên chiến trường còn hơn là kẻ đảo ngũ”.

      Từ thời Tam Quốc không ai tin Ngụy Diên.
      Bùi Tín là Ngụy Diên hiện đại!

      • noileo says:

        Bùi Tín đâu có làm gì để có thẻ bị gọi là “phản”! Bùi Tín vốn là một đảng viên đảng cộng sản, khi nhìn ra đảng cộng sản là sai lầm, Bùi Tín đã bỏ đảng cộng sản, như vậy sao gọi là “phản”?

        Chỉ có mấy đảng cướp và đảng cộng sản mới gọi việc đảng viên bỏ đảng là “phản đảng”. Một đảng chính trị tử tế, đảng viên một đảng chính trị tử tế không bao giờ dám gọi hành động “bỏ đảng” là “phản”.

        *****

        Bùi Tín bỏ đảng một cách công khai, như vậy sao gọi là “phản”?

        Bùi Tín tố cáo, nêu ra những hành động sai trái của đảng cộng sản, của những “thần thánh” cộng sản cho mọi người biết để khỏi bị cộng sản lường gạt, như vậy sao gọi là “phản”?

        *****
        Ở bên nước Do thái có nhân vật Ariel Sharon, Sharon là thủ tướng Do Thái, lãnh đạo đảng Likud là đảng cầm quyền, nhưng khi thấy đảng Likud có những đièu sai trái & bất cập, mà Sharon đã cố gắng thay đổi đường hướng đảng Likud cho đảng Likud trở nên tốt đẹp hơn, mà Sharon cố gắng khuyên bảo các đồng chí trong đảng Likud thay đổi phương huớng cho đảng, nhưng không đuọc, thế thì Sharon bèn bỏ đảng Likud, thành lập đảng khác, đảng Kadima.

        Có ai, có người Do Thái nào vì thế mà bảo Sharon là “phản đảng” đâu ?

        Khi ra ứng cử, đảng mới Kadima của Sharon toàn thắng!

        Có ai bảo như thế là Sharon “phản đảng” đâu?

        Chỉ có bọn cướp, chỉ có đảng cướp và đảng cộng sản mới gọi việc một đảng viên bỏ đảng là “phản đảng”

        *****
        Ngụy Diên cho đến khi bị mã Đại chém đầu vẫn là Ngụy Diên như mọi người biết, Ngụy Diên có làm gì để bị gọi là “phản chủ”?

        Thục ra Ngụy Diên không phản, nhưng vì Ngụy Diên đã có ý kiến khác với Gia cát Lượng, nên bị Gia cát Luọng “găm”. Ngụy Diên là một tướng tài, ngay từ đầu đã đưa ra ý kiến đánh mạnh, đánh thẳng vào quân Tào, nhưng Gia cát Lượng không nghe, Gia cát Lượng dùng lối đánh cẩn thận của mình, rốt cuộc, thời gian cho thấy lối đánh của Gia cát Luọng là thảm bại, cho nên Gia cát Lượng càng “găm” Ngụy Diên

        Nhưng Ngụy Diên là một tướng tài đáng bậc đại tướng, nên sinh thời Gia cát Luọng hoặc cũng tiếc, hoặc không dám phế bỏ NGụy Diên, chỉ khi GCL chết đi mới bầy kế cho Mã Đại ám sát Ngụy Diên…

    • Nguyễn Trọng Dân says:

      Tại sao lại viết hổn vậy?

    • noileo says:

      Ngớ nga ngớ ngẩn!

    • Lu viet says:

      Nếu Bùi Tín Chết !
      Bác BT, bác VTH,bác NMC…là con cái gia đình có truyền thống yêu nước, theo Cs bởi bố mẹ,là đảng viên cs,nửa đời thấy mình…sai,cái lý tưởng mình theo đuổi bị phản bội bởi cái đảng mà ngày còn trẽ tự hào gia nhập.từ vị trí mới, lưu vong, các bác viết sách, viết bài cho bọn trẻ ( như tôi) có cơ hội đọc và biết và hiểu về chế độ Cs ở Vn độc hại như thế nào mà tránh xa.Mỗi bác một vị trí, một kinh nghiệm cho bức tranh tổng thể về Công sản Vn.Được đọc 3 bài viết của bác BT về tướng Giáp,tôi cho là viết “công bằng”, đúng với thực tế từ các bài viết khác đánh giá về tướng Giáp.

  4. Phước says:

    Chắc trong đầu mấy người này, chỉ có những vị tướng như Thánh Gióng mới xứng, vì một mình “mặc áo giáp sắt, cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt” và “nhổ tre đằng ngà” đánh tan giặc, không tốn một giọt máu nào của nhân dân, quân đội….Hỡi ôi, bàn chuyện chiến tranh cứ như nói chuyện trên trời. Tuổi gì không biết. Cứ như các ông ấy, dân mình sáp nhập mẹ vào Trung Quốc làm một nước cho đỡ phải nghĩ, hoặc sắp nhập với nước Mỹ cho nhanh, thành một tỉnh, một bang, đỡ phải “chiến đấu”, đỡ “mất máu, mất xương” của đồng bào. Có phải ý của các vị đại ca nhà em là vậy không? Hay ý các vị là mong chờ một “thánh” hoặc là các vị là người ‘tài”, tay không tấc sắt, dùng cái lưỡi không sương để đánh thắng kẻ thù trang bị tận răng mà không tốn giọt máu, khúc xương nào? Tài quá ta.

  5. Minh Phương says:

    Một đất nước VN nghèo nàn, một quân đội NDVN trang bị vũ khí lạc hậu hơn đối phương hàng trăm lần… Nhưng đất nước và QĐNDVN phải đối đầu với những cường quốc kinh tế, quân sự như Pháp và Mỹ giàu có, quân đội được trang bị, vũ khí hiện đại bậc nhất thế giới, thì việc QĐNDVN phải hy sinh hàng trăm ngàn cán bộ, chiến sỹ để tống cổ các đội quân viễn chính xâm lược ra khỏi bờ cõi, giành chiến thắng trọn vẹn, giữ gìn nền độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, thì cái giá đắt về sự hy sinh sinh mạng ấy là điều tất yếu, không có gì phải phê phán. Chỉ những kẻ xâm lược bị bại trận, những người Việt bán nước, đánh thuê cho quân xâm lược và những kẻ bất mãn với chế độ thì mới hằn học, cay cú, thù hận trước chiến thắng oanh liệt của dân tộc Việt Nam. Vì vậy, chúng tìm cách vạch lá tìm sâu, bới bèo ra bọ để hạ thấp chiến thắng vĩ đại của đất nước, quân đội, các vị lãnh đạo và nhân dân Việt Nam mà thôi. Lũ ngơm ấy đáng để lịch sử và nhân dân Việt Nam ngàn đời lên án và nguyền rủa.

    Hãy vào các báo online của Việt Nam để xem các hình ảnh hơn nửa triệu người dân đến viếng vong linh đại tướng Võ Nguyên Giáp ở nhà riêng của ông số 30 Hoàng Diệu, Hà Nội từ hôm 06/10 đến tối ngày 09/10 thì biết lòng dân đối với đại tướng Võ Nguyên Giáp. Vì vậy, dù bất cứ ai nói xấu đại tướng Võ Nguyên Giáp thì kẻ đó đã mất gốc, không còn là con dân nước Việt Nam nữa.

    • Nguyễn Trọng Dân says:

      Phải nhớ cho kỹ , Việt Nam không cần phải đối đầu với người Pháp về quân sự , Pháp vẫn phải trao trả độc lập cho Việt Nam.

      Hãy nhìn Cao Miên(Campuchia) với Shi-a-nuc. Nước Pháp trao trả độc lập cho Cao Miên mà Cao Miên không cần một chiến thắng quân sự nào hết

      Tương tự như vậy đối với Ấn Độ , họ không hề có một chiến thắng quân sự nào trước Thực Dân Anh

      Cộng Sản đã lợi dụng lòng yêu nước của dân tộc để gây bao tang thuơng

      Trong tương lai. lịch sữ sẽ mở với nhiều bằng chứng cho thấy chế độ Thực dân tại Đông Dương chấm hết mà không cần đến chủ nghĩa cộng sản

      Ghê gớm hơn , chính vì chủ nghĩa cộng sản mà dân tộc Việt Nam bị lệ thuộc tới giờ này.

      Hàng ngàn người đã khóc róng trong đám tang của Tôn Đức thắng, của Lê Duẫn , và của Giáp không có nghĩa là TỘI ÁC CỦA HỌ GÂY RA SẼ ĐƯỢC LỊCH SỮ THA THỨ

      Ki’nh

  6. quang phan says:

    Bấm chuột vào link dưới đây của trang mạng MotGocTroi , bạn có thể đọc được toàn bài viết Trận Mưa Bom Giáng Sinh 1972 của tác giả Trọng Đạt cho thấy nếu năm 1965 mà Hoa kỳ dội bom Hà nội te tua như Giáng Sinh năm 1972 thì Võ nguyên Giáp và bè lũ bọn Việt cộng đã bị bại từ lâu rồi.

    http://www.motgoctroi.com/StLichsu/LSCandai/TrongDat/MuabomGSinh.htm

  7. japanfan page says:

    Khổ thân cho những kẻ nói xấu Đại Tướng, tụi này chắc chắn là lính Pháp, Mỹ đầu thai lại đây mà :)))
    Những kẻ chỉ tối ngày gặp ai cũng nói xấu, thì cứ yên tâm rằng chính gia đình, vợ con của tụi này cũng ko phải là tình cảm thật đâu đấy… Hơn nữa ở đời mà ko kính trọng được một người như Đại Tướng, thì cả đời không có làm gì ra hồn đâu :))) Cứ yên trí như vậy :)))

    • noileo says:

      Hơn nữa ở đời mà ca ngợi những tên tội phạm phản quốc như Võ Nguyên Giáp, can tội cùng với tên tội phạm phản quốc Hồ chí Minh khom lưng uốn gối cõng giặc tàu vào Việt nam, phạm tội ám sát chính trị, phạm tội ác chống lại con người, thì cả đời không có làm gì ra hồn đâu :))) Cứ yên trí như vậy :)))

  8. tonydo says:

    Gửi các cháu đang tranh đấu với đảng CS để đưa đất nước tới Phú Cường!
    Nhân tiện gửi bác UncleFox luôn!
    Bài này ngài Bùi Tín viết về tướng Giáp. Bác chỉ chia sẻ câu kết của bài viết, tức là ngài Bùi Tín chê tướng Giáp không giám từ bỏ lý tưởng CS.
    Ngài Bùi Tín từ bỏ CS năm 90, trong khi đó Thượng Tá Đỗ Doãn, Nguyễn Minh Cần.v.v nhận ra cái sai của CS từ những năm 60, các ngài trong nhân văn giai phẩm thì lật tẩy chủ nghĩa CS năm 67, chị Dương Thu Hương thì qùy trên đường phố Sài Gòn, khóc và nhận ra cái ác của lý tưởng CS khi tiếp thu t/p này năm 75.
    Bác nhận thấy ngay cái không tốt của chế độ CS khi mới hơn mười tuổi, năm 56 khi Mẹ bác phải qùy trên hai nửa qủa mít vì “tội” Địa Chủ.
    Quân dân VN ta thích cường điệu hoá nhiều thứ, trong đó có lý tưởng, cái nằm ở trong đầu người ta mà chỉ có thể giết họ chứ chẳng bao giờ lấy ra được.
    Thông minh, học rộng như ngài Bùi Tín chẳng nhẽ phải tới 90 tức là 36 năm sau khi đất nước chia đôi và chấm dứt cuộc chiến huynh đệ tương tàn 15 năm sau mới nhận ra cái sai của chủ nghĩa CS hay sao?
    Thượng Đế cho chúng sanh đời sống. Mọi người, (ngoại trừ những đấng Anh Hùng, Vĩ Nhân) còn thì ai cũng phải lo tìm cái tốt nhất cho bản thân mình và gia đình, kể cả mạng sống.
    Tướng Giáp không thể làm như ngài Bùi Tín, Tổng Thống Thiệu có thể bỏ chạy nhưng không thể hàng CS, Cụ Ngô thà chịu chết chứ không thể chạy ra nước ngoài, khi HCM gạ NĐD vô chính phủ Lâm Thời thì cụ Ngô nói: Người của các ông giết gia đình tôi, tôi không thể làm việc với các ông được và HCM đã để NĐD ra đi.
    Nói chung mỗi người một hoàn cảnh, mang cái mà ngài Bùi Tín gọi là Lý Tưởng ra chê tướng Giáp kể cũng lạ.
    Chào khiêm tốn. Kính bác UncleFox. Bác Tony.

Phản hồi