|

Diện mạo văn hóa, văn học miền Nam trong những tình thế cực đoan lại là nơi hội tụ của bốn dòng chảy văn hóa-văn học

sach

Những năm 1954, đối với nhiều người-cả miền Bắc lẫn miền Nam- chắc hẳn là một hồi ức khó quên.

Miền Nam lúc bấy giờ đã rộng tay mở một sinh lộ cho những thân phận tối tăm nhờ đó có cơ may tìm lại được cuộc sống con người. Những người di cư năm 1954 đa phần đều là dân quê ít học nên xa lạ với những vấn đề chính trị, vấn đề ý thức hệ hay chủ nghĩa. Vậy mà họ là nhân tố chính của cuộc di cư này. Sự thành tựu của cuộc di cư chẳng những về mặt chính trị, xã hội an sinh, kinh tế như một phép lạ Hy Lạp mà còn phải nhờ vào lòng quyết tâm của đôi chân họ. Sự quyết tâm ấy thể hiện nơi một thanh niên mệt mỏi kiệt sức sau chuyến vượt thoát nằm ngủ mê man, nhưng tay vẫn nắm chặt cây Thánh giá đặt trên ngực. Và một bức ảnh gây ấn tượng nhất trong cuộc di cư: đó là hình ảnh một người tàn tật bước lên tầu bằng hai tay với lời ghi chú: Để có tự do thì dù đi bằng tay vào Nam vẫn cứ đi

50 năm Bắc Kỳ di cư, 1954-2004, trang 70

Hai triệu đôi chân trần, phần lớn chưa hề biết xỏ vào đôi giầy, đôi dép. Phần nhỏ là nhửng tiểu thư, trai gái Hà Nội. Họ đã làm thay đổi hẳn diện mạo của miền Nam về mặt văn hóa và con người sau này. Nghĩ lại phải thấy đó là điều may mắn và kỳ diệu. May mắn dĩ nhiên cho kẻ mới tới mà cho cả người tại chỗ. Và cho đến năm 1975, biên giới khác biệt giữa các miền về mọi mặt đã nhoà đi. Nó chỉ còn là Một. Một miền Nam-.
Nhớ lại, lúc bấy giờ trong một tình thế chính trị bất ổn, nhiều phe phái, nhiều khuynh hướng trái chiều, nhiều áp lực ngoại quốc từ nhiều phía, lòng người còn bất định chia rẽ.. Đó là một tình thế xã hội, chính trị, tính địa phương cực đoan vậy mà nó lại có cơ may tạo thành những nhân tố tích cực cho một miền Nam đầy triển vọng như một miền đất hứa sau này.

Do những hoàn cảnh Địa-Chính trị(géo-politique) cực đoan trái chiều, thật khó tin là 1954 lại là cơ may miền Nam lại thừa hưởng một không khí văn hóa, văn học mở rộng chưa từng có- Như gió bốn phương- của nhiều dòng văn học chính thống cũng như không chính thống.

Bài viết này nhằm trình bày lại sự hội nhập văn hóa của bốn dòng chảy đó. Bốn dòng chảy đó bao gồm : Văn hóa bản địa miền Nam. Văn Hóa từ Bắc du nhập vào sau cuộc di cừ từ 1954. Văn hóa du nhập từ phương Tây do các trí thức 99% du học chọn về Miền Nam thay vì về miền Bắc. Và cuối cùng không kém phần quan trọng là dòng văn học vắng mặt .. Xử dụng cụm từ này, tôi muốn nhắc nhở đến phần đông giới văn nghệ sĩ còn ở lại miền Bắc bị đảng cộng sản dẹp bỏ, loại trừ thì ngược lại họ được đón nhận bằng cả hai tay ở miền Nam.

Tất cả đã làm nên sự đa dạng, sự phong phú và tính tự do và nhân bản của miền Nam VN trước 1975..

Việc tìm hiểu này dĩ nhiên không thể nào chỉ bó chặt vào phạm vi văn học, văn hóa. Nhưng còn cần tìm hiểu các vấn đề trên liên quan đến vấn đề ngữ học, xã hội học, địa lý thiên nhiên và địa lý nhân văn cũng như tôn giáo, triết học. Đó là một tìm hiểu có tính cách liên ngành (interdisciplinaire) và nhờ đó hiểu được dòng giao lưu văn hóa giữa hai miền Nam-Bắc cũng như với văn hóa du nhập từ Tây Phương chảy về.
Phần một: Dòng chính thống bản địa

Trước khi có sự hội nhập các dòng văn hóa, văn học các nơi đổ về miền Nam thì miền Nam đã hình thành một dòng văn hóa, văn học bản địa xử dụng chữ quốc ngữ- vốn đã có mặt, ít lắm cũng trên trăm năm rồi-.

Theo tài liệu của văn khố Pháp để lại cho thấy ở Nam Bộ các vị đề đốc, thống đốc, giám đốc nội vụ đã áp dụng triệt đề việc cưỡng bách dừng chữ Quốc Ngữ qua các Nghị định còn để lại từ năm 1869, ký tên lần lượt các ông G.Ohier, Béliard, Le Myre de Vilers, Lafontvv..Việc cưỡng bách thi hành ấy được dùng trong các thông tư, thông cáo trong hành chánh. Làng nào viết được những công văn bằng Quốc ngữ sẽ được thưởng. Công chức, nhân viên biết xử dụng tiếng Annam được thưởng.

Nó còn còn áp dụng cho các kỳ thi trong học chánh, trong việc cho xuất bản báo như tờ Gia Định báo. Tờ Gia Định báo được tài trợ dưới quyền ông Potteau và đương sự được nhận lãnh thêm 1200 quan nột năm.

Nguyễn Văn Trung, Chữ, Văn Quốc Ngữ, thời kỳ đầu Pháp thuộc, trang 25-47.

Và người Pháp Pháp phải mất bốn năm để hỗ trợ chính sách này trên toàn cõi Nam Kỳ…

Thật ra đây chỉ là một giải pháp chính trị nhằm loại trừ ảnh hưởng của người Tàu trên các thành phần Nho sĩ còn sót lại và thực hiện chính sách trực trị và đồng hóa. Người Pháp hiểu rõ về sự cần thiết phải loại bỏ ảnh hưởng văn hóa của người Tàu và mối lo ngại ấy là có thực. Vào năm 1905, người Tàu đã đào tạo một cách bài bản một đội quân với hơn 200.000. 200.000 binh sĩ dưới cờ này đã do các sĩ quan Nhật huấn luyện.

Binh đội này trở thành một mối đe dọa cho láng giềng phương Nam.

Xem Annam et Indochine Francais: Esquisse de l’histoire Annamite II. Rôle de la France en Indochine trang 161-164.

Giải pháp chính trị của người Pháp lại có tác dụng ngược lại là nhờ chữ Quốc Ngữ đã tạo dựng nên một nền văn học chữ Quốc ngữ ở Nam Kỳ thay thế cho chữ Nho và ảnh hưởng cùa người Tàu..

Về điểm này, Nam Kỳ đã đi trước Bắc kỳ một bước về sự phát triển báo chí và số người đọc được chữ quốc ngữ. Số người mù chữ có lẽ ở miền Bắc nhiều hơn miền Nam. Sau 1954, người ta còn thấy những bác đạp xe xích lô, ngồi gác chân thoải mái đọc «  Bà Bút Trà » trong khi chờ khách. Phải có tiền mới mua báo được. Và phải biết chữ mới đọc được báo. Cả hai yếu tố đó miền Nam trội hơn miền Bắc một bực.

Tuy nhiên, ảnh hưởng văn hóa của người Pháp chĩ giới hạn ở một số thị dân giàu có ở Sài gòn và một vài thành phố lớn.

Nửa thế kỷ đô hộ của người Pháp chưa đủ độ chín mùi. Nó còn thiếu một chất xúc tác để chan hòa vào nếp sống bản địa. Đa số dân Nam Bộ vẫn sống nếp sống dân giã từ bao đời nay để lại. Chẳng những thế, nó chia ra hai bộ mặt xã hội trái chiều: một bên là nếp sống của đám dân thị thành-nếp sống theo Tây Phương-. Bên kia là nếp sống của người dân vùng lục châu đặm cá tính miền. Và chính nếp sống nảy làm nên cá tính của miền Nam tử giọng nói, cách ăn mặc, cách sinh hoạt làm ăn đến nếp sống văn hóa tín ngưỡng. Nó giàn dị mà thực tiễn, nó vượt khỏi khuôn khổ mẫu mực, nhưng vẫn có một khuôn mẫu cấu trúc đặc sản của người đất vùng đất mới.

Và đây là những nét đẹp văn hóa đặc thù, khởi sắc của con người vùng đất mới.

Vì thế, văn học, văn hóa với chữ Quốc Ngữ của vùng đất mới mang tính thực dụng nên còn sơ sài, còn nhiều mảnh đất hoang chưa khai phá về mặt thi ca, tiểu thuyết, kịch nghệ. Nó chưa tinh luyện, chưa đạt tính nghệ thuật cao. Nó không có cơ hội cọ sát, giao lưu với dòng chảy chính cho ngang tầm với người ta-. Người ta đây là phía Bắc.

Cùng lắm chỉ có một thứ văn hóa được gọi một cách thân thương quen thuộc là văn hóa miệt vườn hay vùng Lục Châu(chữ dùng của Nguyễn Văn Trung), đủ dùng cho nhu cầu trao đổi, giải trí cho bản địa.

Vì thế, nhiều người đã võ đoán vội vã, nhiều người chế nhạo chữ nghĩa miền Nam chưa đầy một cái cái lá đa!!

Nhận xét đó cũng có phần đúng. Miền Bắc dù không chịu trực tiếp sự cai trị của người Pháp xem ra lại tiếp thu khá nhanh về văn hóa Pháp.

Sự hội nhập nhanh hay chóng tạo ra cái tâm lý so đo hơn kém, cao hay thấp- do mặc cảm tự tôn cũng có, do truyển thống thi cử tồn tích từ trước một phần, do vị trí địa lý trước đây coi Hà Nội là vùng trung tâm cũng có.

Từ đó, phía Bắc vẫn tự xếp mình vào vị trí ưu tiên về văn hóa, văn học ngay từ trước khi người Pháp có mặt.

Và một điều trớ trêu là ngay người dân miền Nam cũng tự nhận thế yếu của mình về văn học. Người đầu tiên nhận ra cái thế yếu về văn học giữa hai miền lại là một người miền Nam. Ông Đông Hồ Lâm Tấn Phác, người gốc Hà Tiên, gốc gác truyền đời của họ Mạc. họ Lâm từ di dân bên Tầu sang nước ta từ thế kỷ XVII. Ông là người người miền Nam đầu tiên có thơ đăng trên Nam Phong, ở miền Bắc lúc mới 20 tuổi.

Vì thế, ông quá hãnh diện và coi việc đó như một đặc sủng. Ông cho rằng cần học hỏi văn học xứ Bắc, thống nhất ngôn ngữ- một thứ ngôn ngữ xứ Bắc bóng bảy, trau chuốt, du dương, ý nhị và trang trọng- thay cho ngôn ngữ Nam Kỳ giọng thẳng đuột, tự nhiên lại còn hơi thô của các cây bút Nam Kỳ mà tiêu biểu là Hồ Biểu Chánh.

Hồ Biểu Chánh trở thành nạn nhân của những thành kiến văn học kể từ đó đến nay!!! Vị tất ngày nay đã hết!!!

Nguyễn Hiến Lê viết lại về giai thoại về Đông hồ như sau:

“ Đọc những sách báo quốc ngữ miền Nam xuất bản khoảng từ 1900 đến 1920, chúng ta thấy có một lối viết lỏng lẻo, hời hợt, mất hẳn văn hóa cố hữu, tế nhị, cổ truyền của hai miền Trung Bắc..

Mãi cho đến sau thế chiến thứ nhất 1914-1918, nhờ cuộc giao thông tiện lợi, phong trào sách báo ở Hà Nội truyền được vào Nam, tình trạng bế tắc này mới thay đổ. Bắt đầu là Nam Phong tạp chí ( 1917-1934) rồi đến Phong Hóa, Ngày Nay ở Hà Nội (1932-1940 báo Tiếng Dân ở Huế ( 1927)…

Nguyễn Hiến Lê, Mười câu chuyện văn chương, nxb Văn Nghệ, trang 99.

Sau này, nhiều người miền Nam coi Đông Hồ như một thứ con hoang của Nam Kỳ. Vương Hồng Sển- một người miền Nam tiêu biểu nhất về sự hòa trộn sắc tộc- Ông mang ba dòng máu trong người là Việt, Tàu và Campuchia. Ông cũng mang trong mình ngoài dòng máu còn tính chất Nam Bộ đặc sệt trong chữ nghĩa của ông và thường gọi đùa ông Đông HồCâu chuyện Đông Hồ:” Đông Hồ là nhà văn Bắc Kỳ”.

Nguyễn Văn Trung cũng trích dẫn những bài báo của Đông Hồ đăng vào năm 1935 như sau:

Đông Hồ đã lên tiếng về việc phát âm và việc xử dụng hỏi ngã không đúng của các nhà văn Nam Bộ. Ông viết trong báo “ Sống” của ông, số 19, Mars 1935 về Dấu hỏi dấu ngã như sau:

“ Báo chí in trong Nam mà in được dấu hỏi, dấu ngã là một sự rất khó khăn.. Chúng tôi hết sức thu xếp với nhà in và nhiều công phu xem xét để từ đây báo “ Sống” cũng in được đúng dấu hỏi dấu ngã như ở Bắc”.

Đặc biệt Đông Hồ không ưa văn của Hồ Biểu Chánh đến độ không chịu được. Ông thú nhận đọc Hồ Biểu Chánh phải nhận là ông tả đúng đời sống xã hội của Nam Kỳ lục tỉnh… nhưng “ đọc thì cũng đọc”, thích thì cũng thích, duy chúng tôi cứ không chịu được lời văn viết trơ tru thẳng tuột hời hợt của ông.

Ông viết tiếp:

Thời kỳ đó, theo quan niệm của chúng tôi viết là làm văn chương mà văn chương thì phải sửa sang gọt dũa, phải điêu luyện chải chuốt. Đâu là tả thực đâu là tả chân, câu văn cũng phải xếp đặt lại hơn ngôn ngữ thường dân. Tối thiểu phải có một kỹ thuật… Tôi không chịu được văn chương Hồ Biểu Chánh.. Như tôi bây giờ vẫn không chịu nổi văn chương hát cải lương với văn chương của những tiểu thuyết “ chưởng” hiện đang thịnh hành”.

Lục Châu học , Nguyễn Van Trung, chương đầu, Một mảng văn học bị bỏ quên
Những nhận xét của Đông Hồ ngày nay cho thấy tính “ nông cạn” của ông. Cái hay bản sắc của mình thì chối từ, đi nhận vơ vay mượn cái hay của người. Phải đợi đến Lê Xuyên với Chú Tư Cầu, sau này bản thân người viết bài này mới nhận thức thấm thía được cái ngôn ngữ Nam Bộ nó hay như thế nào!!!

Phải chăng vì thế mảnh đất trống văn học Nam Bộ sau này đã được bổ sung bởi một số nhà văn, nhà báo từ miền Bắc vào tăng cường gồm những “ mũi nhọn” suất sắc như Tản Đà, Ngô Tất Tố, Phan Khôi, Đào Trinh Nhất, Bùi Thế Mỹ, Thiếu Sơn .. Đặc biệt Phan Khôi đã trong nhiều năm trời đã làm mưa làm gió với những bài viết phê bình đủ loại của ông trên Phụ Nữ Tân Văn. Phải coi đây là sự hội nhập, tiếp xúc đầu tiên giửa hai miền.

Và thừa nhận rằng đây là những sứ giả văn hóa đầu tiên từ Bắc được gửi vào..

Tuy nhiên cây khế ngọt miền Bắc trồng ở trong Nam vị tất đã ngọt. Và cây vú sữa miền Nam mang ra tặng “Bác”, bác chăm bón, tưới mỗi ngày mà cây vú sữa cứ thế mà còi cọp, teo dần nay không còn ai nhắc tới nữa.

Phải chăng văn hóa nhập cảng rất đễ bị rơi vào tình trạng bị dư thừa- không được đón nhận-( Unwanted) nếu không khéo chọn?

Vậy mà nay -1954- trong phút chốc lịch sử, miền Nam đang phải chuẩn bị đối đầu chờ đón một đội ngũ hàng loạt những văn nghệ sĩ đến từ phương Bắc. Cái khó chịu phải nhường đất đai, chia xẻ cơm áo để sống chung đã dành. Sự khó chịu, bất nhẫn có thể do sự khác biệt về lối sống, lối nghĩ, tiếng nói như những kẻ xa lạ.

Đó là sự phân biệt Nam-Bắc khó tránh khỏi.

Cứ xét bề ngoài, đa số những người miền Bắc lúc bấy giờ trông quê mùa, chất phác, sùng đạo, vận áo nâu, răng thì nhuộm đen, chân thì đi đất-ngón chân cái và chân chỏ xẻ ra để bám chặt trên đất bùn chơn trượt, răng thường hô ra ngoài và chưa bao giờ biết đánh răng bằng bàn chải, chưa bao giờ biết đến bánh mì, kẹo tây, xà phòng. Phụ nữ thì chít khăn mỏ quạ như phụ nữ Hồi giáo- xa lạ, ngơ ngác, quê mùa- so với người dân miền Nam mặc áo đen, hoặc bà ba rộng thong thả ngồi trên xe thổ mộ hay xe máy ba bánh chạy như bay trên đường phố Sài Gòn.

Cả một sự khác biệt về mầu đen- mầu nâu, về tiếng nói, về y phục. Và sự khác biệt lớn nhất là sự giàu và ngèo.

Cho nên trong công việc hội nhập, trăm ngàn khó khăn, khổ đau không thiếu các uẩn khúc, sự tị hiềm, sự hiểu lầm, ngôn ngữ xa lạ va chạm khó tránh nổi của cái mà ngày nay ta gọi là những cú sốc văn hóa.(Choc culturel). Sốc cho cả hai bên. Sốc cho kẻ phải đón nhận và sốc cho kẻ mới tới.

Kẻ đón nhận thì khó chịu, kẻ mới tới thì ngỡ ngàng.

Mặc dầu vậy, nhiều người di cư từ miền Bắc sau này vẫn coi mảnh đất miền Nam là miền đất hứa, coi lá quê hương của mình. Miền đất ấy tóm gọn trong một vài chữ là: Chỗ nào cũng có, chỗ nào cũng thừa, gần như ăn thật làm chơi, tự nhiên người dân nghèo miền Bắc trở thành trung nông mà mỗi gia đình được tặng không ba mẫu đất.

Chỗ nào cũng hứa hẹn một ngày mai tươi đẹp. Đó là cái thừa của miền Nam, cái thiếu của miền Nam nó nằm ở chỗ khác.

Chính cái thừa, cái thiếu này đã gây ra biết bao sự tranh luận!

Tuy nhiên không mấy ai lưu tâm đến một thiểu sồ nhửng thanh niên, thiếu nữ, gốc gác Hà Nội đã đem theo họ những tinh hoa đất Bắc làm đẹp miền Nam..

Thứ nhất là tiếng Bắc Hà Nội- được gọi lạ giọng nói Hà Nội đã trở thành iếng nói chuẩn trên các đài phát thanh và truyền hình sau này. Các xướng ngôn viên, các ca sĩ bất kể là giọng Nam hay Huế bắt chước nói tiếng Bắc. Các giáo sư dạy trung học người Bắc được trọng dụng hơn vì giọng Bắc. Và một số nhà văn miền Bắc viết trong các nhóm Sáng Tạo, Hiện Đại, thế kỷ 20 sau này được nhiều giới trẻ ưa đọc.

Tuy nhiên sự Hội nhập thường hai chiều. Chiều nhận và chiều thải loại. Giọng Bắc được ưa chuộng. Nhưng một số lớn từ thông dụng, các tiếng xưng hô theo chức tước, danh phận, các lối nói láy, nói mát, nói bóng nói gió, các câu chửi đủ loại có vần điệu, hầu như biến mất khi vào miền Nam. Tôi đã viết một bài tham khảo nhan đề: Cuộc di cư chữ nghĩa của miền Bắc để phân tích hiện tượng văn hóa, xã hội này.

Nguyễn Văn Lục, Lịch sử còn đó, trang 105

Thứ hai cách ăn mặc của Hà Nội- nhất lá áo dài của tiểu thư Hà Nội- đã có một ảnh hưởng toàn diện trên toàn thể miền Nam sau này. Miền Nam đẹp, tươi sáng, mát mẻ với những tà áo trắng nữ sinh trên khắp miền đất nước.. là thứ văn hóa kế thừa, nhập cảng từ đất Bắc. Áo bà ba, quấn ống loe, rộng của người Miền Nam chui đầu vào cũng lọt, chỉ còn thấy xuất hiện ỡ người dân ở dưới ruộng. Nhưng ngược lại mầu nâu của người miền Bắc cũng tuyệt chủng, vì trong Nam chắc không có củ nâu để nhuộm. Răng đen cũng biến mất. Khăn mỏ quạ hay chít khăn cũng dần bị thay thế.

20 năm tuổi trẻ miền Nam, tren dcvonline.net Nguyễn Văn Lục

Thứ ba, tinh thần chịu đựng, sự chăm chỉ học hành cũng như làm ăn đã là chất kích dộng thanh niên thiếu nữ miền Nam cố gắng chăm học, tranh đua với đời.

Đó là ba nhân tố tích cực trong sự giao lưu giữa hai miền Nam-Bắc.

Vùng đất Nam Bộ bị bỏ qua hoặc bị bỏ quên

Đó là ngữ từ được Nguyễn Văn Trung dùng khi ông viết cuốn Lục Châu Học, một cuốn sách xử dụng nhiều tài liệu để biện minh và phục hoạt lại dòng Văn học vùng đất mới.

Công việc phục hoạt này là chính đáng bởi vì từ nhiều năm, nhiều thế hệ nhà văn có tiếng tăm vẫn có thói quen dễ dãi không nhìn ra được cái cá tính, cái đặc sản của văn học, văn hóa của miền Nam.

Ngay bản thân người viết bài này, sau 1954 thường không đọc tờ báo Sài Gòn Mới của bà Bút Trà, không đọc truyện của nhà văn Hồ Biểu Chánh, không đậm đà với hát Cải Lương, đi coi Hát Bội thì chỉ thấy như phường tuồng của Tàu, la hét om sòm, ăn mặc, bôi vẽ mặt quá lố…

Sự ngộ nhận ấy bắt đầu bằng việc các trí thức miền Bắc cho rằng: Truyện ngắn và tiểu thuyết xuất hiện sớm nhất ở miền Bắc.

Vũ Ngọc Phan cho rằng Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách là cuốn tiểu thuyết đầu tiên. Ông viết:

“Bởi thế cho nên Tố Tâm là quyển tiểu thuyết đầu tiên được mọi người chú ý đến một cách đặc biệt, và như thế, ta phãi nhận là dư luận cũng nhiều lúc công minh”.

Vũ Ngọc Phan, Nhà Văn Hiện đại, trang 141

Còn truyện ngắn thì dành vinh dự ấy cho Phạm Duy Tốn:

“Nói về truyện ngắn viết theo lối Âu Tây, Vũ Ngọc Phan cũng khẳng định Phạm Duy Tốn là người đi trước nhất…”

Vũ Ngọc Phan, Ibid, trang 176.

Nói chung, dư luận miền Bắc đánh giá cao vai trò của Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh đối với quốc văn và học thuật..

Nhưng ông Nguyễn Văn Trung đã đặt ngược vấn đề bằng cách đưa ra bằng chứng là trong Nam có truyện ngắn xuất hiện sớm nhất ngay từ năm 1887. Truyện có nhan đề: Truyện thầy Lazarô Phiền của JP.J.B. Nguyễn Trọng Quản. Truyện in thành một cuốn sách không phải đăng trên báo .. Cuốn sách được ghi là tại Libraire-éditeur, rue Catinat, 1887( do nhà bán sách và xuất bản J.Linage, đường Catinat, 1887.

Tôi phải viết ra điều này, vị nhiều vị làm nghiên cứu từ miền Bắc vào không đủ điều kiện tra cứu tài liệu miền Nam đã tự nhận họ có tác phẩm đó trong tay và viết bài phê bình.. Đây là một điều rất đáng tiếc không thích hợp cho tư cách lương thiện trí thức của người làm công việc nghiên cứu.

Như thế, công bằng mà nói, Vùng Lục Châu thì từ bao giờ đến nay, nó vốn có sẵn một dòng văn học bản địa vốn tự nó có sắc thái riêng- sắc thái miền-. Họ tự hào gọi cái sắc thái đó là cá tính miền Nam.

Cái vấn đề là một bên đặt nặng cán cân phê phán trên tính chất văn học, một bên đặt nặng đến cá tinh văn học. Sau này, tôi mới nhận thức được cái đúng cái sai khi tiếp xúc với nhiều sắc thái miền của các chủng tộc trên thế giới. Khi học Nhân Chủng học, tôi mới nhận thức được rằng cá tính văn học ở trên và ở rất cao so với cá tính văn học. Và nói một cách công bằng thì không thể mang sự cao thấp ra để so sánh hoặc đánh giá cao thấp..

Có điều gì cho phép người ta đánh giá thấp các văn hóa các dân thiểu số so với các chủng tộc được coi là văn minh? Phải nhìn nhận có nhiều văn hóa và nhìn nhận sự đa tạp và tính chất bản địa của mỗi nền văn hóa ấy. Ngày nay ai mà còn cho rằng văn hóa Tây Phương “cao hơn” văn hóa Đông Phương thì họa là điên rồ.

Và đề xuất ra một nguyên tắc bất di bất dịch cần thiết nhất: Đó là tinh thần biết tôn trọng cái cá biệt, cái địa phương tính và từ đó mới cảm thức và nhận ra vô vàn cái đẹp của văn hóa và văn học.

Và về mặt Nhân chủng học, cái văn minh miệt vườn đó đã bao lần trở thành lời mời gọi quyến rũ, thúc dục người ta cuốn gói ra đi tìm một bình minh mới cho tương lai mình và con cháu mình.

Đã gọi là cá tính thì không ai giống ai và sự khác biệt là chính.

Trong số những tác giả coi nhẹ giá trị văn học của miền Nam cách này cách khác có những tên tuổi lớn như các cụ: cụ Dương Quảng Hàm, Trần Trọng Kim, Vũ Ngọc Phan, Đào Đăng Vỹ. Đặc biệt Phạm Duy Tốn, ( thân Phụ Phạm Duy), tác giả truyện ngắn: Sống chết mặc bay chê dân Nam Kỳ không có văn minh.

Lời chê trách này gây nên một làn sóng phẫn nộ và một số tác giả đã lên tiếng phản bác: Thế nào là Văn Minh như quý ông Lương Khắc Ninh, Trương Duy Toản, Nguyễn Kim Đính, Trần Chánh Chiếu, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn Ngọc Ân..

Hầu như cả Sài gòn- lục tỉnh chỗ nào cũng bàn chuyện ông Tốn.

Chưa cần bàn đến nội dung, đến giá trị văn học. Sự phê phán, nhận xét của văn giới Bắc Kỳ kể lá quá quắt lắm nên tờ Nông Cổ Mín đàm đã phải lên tiếng vào ngày 26-6-1919 như sau:

- Xưa rầy bổn báo thường xem báo giới Bắc Kỳ thấy luận nhiều bài thiệt là khinh bỉ Nam Kỳ thái quá; như Trung Bắc Tân Văn bàn luận về quốc văn thì cho văn Nam Kỳ là hát bội; còn Nam Phong bài của M. Phạm Quỳnh, Một tháng ở Nam Kỳ thì cho người Nam Kỳ có lượng mà không có phẩm; người Nam Kỳ những nhà giàu có phần đông toàn là ngu ngốc cả ..

Và lời nhận xét được coi là chuẩn mực nhất là của Phạm Quỳnh với một lời lẽ trịch thượng cho rằng:

- Trí thức Nam Kỳ mất gốc: Dự tiệc thấy có người vào dân Tây nói toản tiếng Tây. Như thế cho thấy các bậc thượng lưu trong Nam Kỳ không còn chút gì là cái phong thể Annam nữa.

- Sinh hoạt văn hóa nhiều về lượng, nhưng kém về phẩm” Kể đến báo ở Nam Kỳ thì nhiều hơn báo Trung, Bắc Kỳ về cái lượng, nhưng còn cái phẩm có được xứng đáng với cái phẩm hay không?

- Về sách thì cái tệ dịch sách của Tàu.. (..) Thứ nhất là các bản dịch cũ của tàu như Tam Quốc, Thủy Hử, Chinh Đông chinh Tây, Đông Châu, Phong thần…Những chuyện Tàu tự tám mươi đời, triều ấy văn chương đã chẳng ra gì mà truyện thì toàn những chuyện huyền hoặc, quái đản, của mấy bác cuogn62 nho bên Tàu đời xưa ngồi không bịa đạt ra để khoái trá những bọn hạ lưu vô học. Thế mà dịch nhiều như vậy, thịnh hành như vậy, nghĩ cũng khả kính thay..

Áy là các tệ tiểu thuyết cũ dịch của Tàu. Đến cái tệ của phần nhiều các tiểu thuyết mới ngày naym thì lại thậm hơn nữa, vì cách đ0ặt để đủ lảm cho bại hoại đủ làm cho bại hoại phong tục, điên đảo luân thường vậy. Tôi biết có bộ cực là dâm bôn mà lại rất là thịnh hành trong phụ nữ coi đó thì thì biết cái hại sâu đến chừng nào.

Nguyễn Van Trung, Lục Châu Học, chương mở đầu
Cả một thế hệ văn học, cả một lô “ đỉnh cao trí tuệ” cũng rập theo một luận điệu lối mòn, chủ quan, hời hợt… Nói gì bây giờ. Nhưng qua kinh nghiêm này, tôi trở thành người viết “ dặt lại vấn đề” về mọi lãnh vực từ triết học, văn học, nhất là sử học và chính trị. Tôi thú nhận đốn ngã nhiều cây cổ thụ trong rừng và trở thành người viết ngược dòng..gây nhiều ân oán..

Đó là nỗi thiệt thòi của kẻ hậu sinh muốn đi tìm sự thật

Việc bỏ quên hay bỏ qua có một nền văn học ở miền Nam kể ra cũng khó trách, bởi vì đôi khi chính dân miền Nam cũng tự nhận mình như thế.. Hãy nghe ông Phan Văn Hùm trong bài Văn miếu ở Nam Kỳ viết về giới trí thức miền Nam.

“Dưới triều Nguyễn ở Nam Kỳ có đỗ đạt chỉ lưa thưa vài bốn tiến sĩ mà Phan Thanh Giản là được sự nghiệp hiển hách hơn cả.. Rồi trường cao đẳng, rồi trường cao học, rồi trường đại học, lần hồi thiết lập đề ở cả tại Hà Thành. Người đỗ cao ở bên Pháp về như các ông Ngụy Như Kô Tum, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Nguyên, Ngô Đình Nhu… cho đến văn thi sĩ, ngệ sĩ sau buổi ra trường cao tiểu học hoặc trung học, cũng không phải ở Nam Kỳ mà có. Tôi muốn nói vô duyên với sự học thời kim như thời cổ”.

Tạp chí Tri Tân, sốn 144, ngày 01-05-1944

Nguyễn Van Trung, Lục Châu Học, chương mở đầu

Không biết cụ Phan Văn Hùm nghĩ thế nào về trí thức chứ bản thân cụ cũng có bằng cao học triết học- Diplôme d’Études Suprieures de philosophie- nào có thua kém ai. Và nếu hiểu trí thức là người dấn thân nhập cuộc tranh đấu thì đất Nam Kỳ thiếu gì. Đó là những Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Trần Văn Thạch, Hồ Hữu Tường, Lê Bá Cang, Trần Văn Chiêu, Phạm Ngọc Thạch, Hồ Văn Ngà, Phan Văn Chánh, Huỳnh Văn Phương, Trần Văn Sĩ, Đào Hưng Long, Lư Sanh Hạnh, Nguyễn Văn Lịnh,, Lương Đức Thiệp, Lý Vĩnh Khuôn, Lê Quang Lương, Nguyễn Văn Quá, Nguyễn Văn Tiền vào các thập niên 1930-1935..

Những thiên kiến đối với văn học miền Nam còn được tiếp sức bởi những nhà phê bình khác như Phan Khôi, Thiếu Sơn, Lê Văn Siêu. Sau này có thêm Phạm Thế Ngũ và luật sư Trần Thanh Hiệp của nhóm sáng Tạo. Trong số trên, Phan Khôi là cây bút tranh luận đanh thép nhất, trận địa nào cũng có mặt ông đi hàng đầu, nhất là về vấn đề văn học và phụ nữ.

Phan Khôi trong Phụ nữ Tân Văn số 32 viết: Vấn đề viết chữ Quốc ngữ cho đúng”. Có chỗ ông khuyên các cô kén chồng là: hễ các cậu nào viết chữ Quốc ngữ không đúng thì không lấy..Và ông cũng không ngần ngại đem mấy ông cố đạo, các ông Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của ra mà kết án… Còn gì bất công hơn mang Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của- những người thợ nề xây dựng cái nền nhà miền Nam lúc khởi đầu ra mà phê phán-.

Sau 1955, trong một bài nói chuyện tại Câu lạc bộ Văn Hóa đường Tự Do nhan đề “ Viễn tượng văn nghệ miền Nam, ngày 12-8-1960 , ông Hiệp khẳng định” Văn nghệ miền Nam không có quá khứ..

Ông Nguyễn Phủ đã phản biện lại bài viết của ông Trần Thanh Hiệp đăng trên tạp chí Bách Khoa như sau: số 88 ngày 1-9-1960.

Lời tuyên bố của ông Trần Thanh Hiệp gián tiếp phủ nhận văn học cổ truyền miền Nam, cô lâp và tách rời miền Nam ra khỏi dòng văn học nói chung một cách nông nổi và vô bằng. Không có quá khứ là điều đáng tiếc, nhưng có may mắn là tiến mau lẹ”.

Bách Khoa, số 88 ngày 1-9-1960, trang 96-99.

Câu chuyện phê phán văn học miền Nam tưởng rằng là văn học, nhưng thực chất là là vấn đề Nam-Bắc. Sự đố kỵ giữa hai miền là một thực trạng thường trực, có lúc đậm, lúc nhạt, lúc công khai, lúc âm ỉ.

Nhờ có cuộc hội nhập của các dòng văn học từ miền Bắc, hoặc từ các nước Tây Phương mà sự ngộ nhận dần dần được khai thông..

Nhưng kể từ sau 1954, khi có sự va chạm giữa hai nền văn học cho thấy Văn học miền Nam đã tự khẳng định bản chất văn học miền Nam như thế nào..

Dòng Văn Học bản địa miền đất mới được xây dựng dựa trên địa lý thiên nhiên, địa lý nhân văn và hoàn cảnh chính trị, xã hội thời bấy giờ

· Về địa lý thiên nhiên

Trong một bài viết của tôi nhan đề Sông nước với con người, tôi cho rằng miền Nam có thể có một nền văn minh sông nước( Civilisation de l’eau) chăng? Nước phải chăng là một tiền đề cho sự xác lập một nền văn hóa mà sau này Sơn Nam gọi là Văn minh sông Rạch ?

Người Pháp khi đặt chân lên đất Nam Kỳ có lẽ hơn ai hết đã nhận thức rõ được điều ấy. Trong những tài liệu mà nay còn được lưu trữ, người ta thấy có những nhật ký về Đàng Trong như trong Nhật ký du hành bằng Tàu của ông D Richery đến đảo Côn Sơn ( Poulor Condor) còn được biệt danh là đảo Isle d’Orléans và từ đó đề ra những hoạt động thương mại với Đàng Trong.

Mà mục đích của các công cuộc khảo sát là:

“ Dự án chỉ thị liên quan đến sự thám thính bờ biển Đàng Trong và đặc biệt nhất về Đà Nẵng.

Xem Victor Tantet, Chef au burerau au Ministère des colonies nhan đề : Mục lục tóm lược văn thư tổng quát về Đàng Trong/Nam Kỳ, người dịch Ngô Bắc, trong Gio-o.net

Sự quan tâm của người Pháp cho thấy họ nhìn từ Đà Nẵng đến đảo Phú Quốc có một thuận lợi không chối cãi được về sự giao thông đường biển. Nhất là Lyautey đã có cái nhìn viễn kiến về Sài Gòn. Theo ông, nó không chỉ là nơi thuận tiện cho việc giao thông và buôn bán làm ăn, mà trong tương lai nó còn là “ tiền đồn” của Viễn Đông.

Và công của Lê Văn Duyệt là dựng lên một Sài Gòn, cho người ngoại quốc đến làm ăn buôn bán và dựng nên một bến cảng trù phú, sầm uất.

Sài gòn lúc ấy được gọi là Gia Định Kinh (một thứ kinh đô của miền Nam). Nguyễn Ánh do úy kỵ và do chính sách Trung ương tập quyền đã đổi thành ly sở của Thành Gia Định.

Không lạ gì, Nguyễn Ánh đã từng trú chân ở miền đất này và lập nên sự nghiệp thì cuối cùng khi lên ngôi đã gọi miền Nam là miền đất xa xôi ấy. Điều đó cho thấy ông chỉ coi mảnh đất miền Nam như mảnh đất tạm dung. Tầm nhìn tương lai và điều ông âp ủ là mảnh đất Phú Xuân quen thuộc. Chọn lựa ấy là đúng hay sai? Nhưng giả dụ thay vì chọn Phú Xuân, Nguyễn Ánh chọn đất Gia Định với bày tôi là Tổng trấn Lê Văn Duyệt thì tương lai Việt Nam chắc hhẳn là khác. Khác theo nghĩa tiến bộ và giàu mạnh hơn?

Mặc dầu bị Trung ương hạn chế quyền hạn, nhưng cả hơn 100 năm trước đây, Sài gòn đã có Hoa Luân thuyền công ty với thủy trình đi khắp nơi như xuống Mỹ Tho, Cái Bè, Vĩnh Long, Sa Đéc, Cù lao Gien, Châu Đốc, Long Xuyên…

Đường sông, kênh đào, rạch là mạch máu chính nối liền các lưu dân. Nay ở U Minh Thượng, tháng sau đã ở U Minh Hạ. Lúc sông Tiền, lúc sông Hậu, lúc ẩn nấp ở lung vào láng hoặc len lỏi vào các con kinh rạch..

Và cũng không lạ gì, trong một bài viết trên tờ Indochine, Louis Malleret ngạc nhiên khi thấy người Việt Nam di chuyển khắp nơi chỉ bằng thuyền.. Người ta di chuyển bằng đủ thứ thuyền. thuyền có người chèo, thuyền có mái che có nhà để ở, thuyền nan, thuyền buồm, tam bản, thuyền thúng. Đặc biệt ở Huế có thuyền rồng ( Galères du roi), sơn nhiều mầu, trạm trổ rực rỡ, có con rồng có vẩy và đầu ngổng cao.

Đặc biệt ở vùng lục châu- Văn hóa miệt vườn- 100% do đất phù Sa bồi từ sông Cửu Long người ta di chuyển chủ yếu bằng chiêc tam bản. Trong khi miền Đông thuộc- Văn Hóa miệt Giồng-, đất phù sa pha trộn với sỏi- người ta dùng xe bò, xe ngựa để di chuyển.

Như thế, nước và đất xác định cách sinh sống làm ăn và nếp sống vật chất cũng như văn hóa của một vùng đất nước. Chẳng khác gì các xứ Âu Châu hay các nước có sa mạc như Mông Cổ thì sự di chuyển của họ bằng ngựa.

Sông nước với miền địa lý ưu đãi như thế đã biến những người lưu dân miền Nam, lúc ban đầu, một phần không nhỏ là những dân du mục, những khu dân cư di động. ( Quartier mouvant.) khó phân biệt vùng nào với vùng nào..

Ngôn ngữ thông tục gọi là nếp sống Hạ Bạc.( population flottante). Đơn vị làng xã như đơn vị kinh tế xã hội khép kín ở miền Bắc không có ở trong Nam.

Cho nên họ có giọng nói riêng, không giống Trung cũng không giống Bắc mặc dầu phần đông họ đến từ dân Ngũ Quảng.( như Quảng Nam, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức((Thừa Thiên), Quảng Nam, Quảng Ngãi. Ngôn ngữ nay đầy phương tính du nhập thêm tiếng Trung Hoa, tiếng Chàm, tiếng Cao Mên. Tiếng nói của họ dần mất đi cái vẻ hào nhoáng, chau chuốt bên ngoải và nhất lá dụng ý hàm ẩn. Do cọ sát thực tế, tiếng nói trở thành bộc trực đơn giản, một chữ một nghĩa, cái hiểu sao nói vậy của thuở bình minh đầu đời.

Đó là thứ tiếng nói và viết như một, nói sao viết vậy.
Trong Nam không có lủy tre, không có cổng làng, không có đơn vị kinh tế biệt lập nên những giá tri xã hội , tôn giáo, phong tục đều cũng khác biệt, thông thoáng, thực tiễn và mở rộng.

Đó là một xã hội mở. Mở theo mọi nghĩa.. Luật pháp nếu có là luật giang hồ. lấy lời nói làm trọng, trọng chữ tín. Cho dù có đi ăn cướp, ăn trộm thì cũng nhuốm sắc thái anh hùng Lương Sơn Bạc, trọng điệu nghệ giang hồ, hào hiệp bốc trời.

Nếu có luật thì là thứ luật bất thành văn. Nếu có thứ luân lý thì lấy đạo lý giang hồ làm trọng. Nếu có văn hóa thì có thứ văn hóa đa tạp, kế thừa và chọn lọc, thải loại. Nếu có tôn giáo thì là thứ tôn giáo pha trộn-tổng hợp- điều tiết.

Bỏ thứ luân lý cầu lợi cho bản thân, bỏ thói giả hình, bề ngoài thơn thớt.. Nếu có luân lý thì đó là thứ luân lý khi thấy hoạn nạn thì tương cứu, đùm bọc, sống chết có nhau. Trong tình nghĩa bạn bè, khinh miệt bọn lòng lang dạ sói, bọn phù thinh hay xu nịnh. Tánh nết cương trực, bảo có là có, bảo không là không.

Chẳng hạn đạo Phật có đấy, nhưng không phải theo Đại thừa «  thuần túy » mà ảnh hưởng tiểu thừa tử người Miên, pha một chút, bớt một chút, gia giảm, nặng phần tổ chức, có xu hướng chính trị và được võ trang vừa thỏa đáng nhu cầu tâm linh, vừa thích hợp với tình thế..

Đặc biệt vắng bóng hiếm hoi sư sãi trung gian.. mà chỉ có hàng Chức sắc trung gian lãnh đạo..

Và nói như Vilmont( quan đầu tỉnh ở Tây Ninh), viên chức cao cấp người Pháp nhận xét rằng :

Il est strictement Cochinchinois.. Nó là một hiện tượng tôn giáo thuần túy Nam Kỳ.. Nhận xét trên càng đúng khi áp dụng vào trường hợp đạo Cao Đài.

Đạo Cao Đài thờ Lão Tử, Khổng tử, Thích Ca, Giêsu, Lý Thái Bạch, Quan Vân Trường, Khương Tử Nhavv.. Thờ tất tần tật…

Người Pháp lại một lần nữa lấy làm khó chịu nhận xét một cách chế tiễu là «  Thứ đạo tạp hóa » ( La religion de bazar).
Về địa lý nhân văn

Vùng đất mới này, dân số hỗn tạp với sắc dân từ nhiều nguồn đổ về. Từ miền Trung đổ vào vì lệnh cấm đạo, từ phía Bắc tới trong tiến trình Nam tiến. Và nói dại không có cuộc Nam tiến này thì tất cả chúng ta đều ngồi bó gối trên dẻo đất hẹp của đồng bằng sông Hồng. Cộng thêm là số người Trung Hoa tỵ nạn. Đó là những di thần bài Mãn, phục Thanh với các tên tuổi như Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch đã đến Cù Lao phố Biên Hòa.

Tưởng đến ở tạm để nuôi chí phục thù hóa ra ở luôn.

Dân số vì thế tăng lên đến 20%. Dưới triều Nguyễn, tỉ lệ thi đỗ cử nhân ở Nam Kỳ chỉ chiếm 2% so với cả nước. Tinh hoa dồn cục ở đất Bắc Kỳ nên thường được coi hay tự nhận là đất văn học. Trong khi Nam Kỳ- do những người đi khẩn hoang- thì chữ nghĩa không đầy một cái là me. Họ không rành câu cách ngôn thánh hiền. Người dân miền Nam sống gần sông nước nên chủ yếu di chuyển bằng thuyền. Nhìn lên là Trời, nhìn xuống là nước như một thứ sân khấu thiên nhiên do trời đặt để. Cho nên người ta còn gọi đó là nền văn minh sông rạch. Nhiều người lưu dân sống lang bạt, rầy đây mai đó. Làm ăn không khá cũng bỏ đi, gặp rắc rối với pháp luật cũng bỏ đi.. Lại còn bọn “ Gia Long tẩu quốc”, bọn bị Tây Sơn xua đuổi, sau này lại đến bọn giặc theo Lê Văn Khôi thời Minh Mạng bỏ trôn.

Tát cả những đám dân đó trở thành lớp người lang bạt, rầy đây mai đó, đâu cũng là nhà, vui thì ở, không vui thì bỏ đi.. Và người Pháp đã có lý khi gọi bọn họ là Population flottante. Người ghét thì gọi bằng đủ thứ tên như dân « trốn xâu lậu thuế », bọn « trôi sông lạc chợ ».

Trường hợp Phan Thanh Giản đỗ tiến sĩ nói huỵch tẹt ra chỉ là món quà Huế tặng cho dân miền Nam. Biên niên sử triều Nguyễn tỏ ra bận tâm về kết quả thi cử kém cỏi của miền đất lạc thổ này.

Nhưng cũng phải thừa nhận rằng có nhiều con đường khác đi đến thành công giàu có ngoài con đường cử nghiệp. Huế khoa cử, Huế lễ nghĩa, vậy mà ở đó sự nghèo đói, túng thiếu có thể sờ thấy, có thể đụng mặt mỗi ngày. Vậy mà lại thừa khả năng dấy lên những cuộc bạo loạn đủ loại..Huế cộng sản, Huế Mậu thân, Huế đấu tranh đủ thứ..

Huế chỉ tắt tiếng khi có cộng sản.

Tất cả đều đã dấy lên từ đó như một miền đất nhiều bất hạnh. Ở nơi ấy chỉ có hận thù đủ loại và những giọt nước mắt thầm lặng (The silent tears). Trong khi miền đất đồng bằng sông Cửu Long nhiều dìa cá, cá nổi lên như mù u chín rụng chẳng ai thèm bắt.

Cho nên giữa một điền chủ và một ông Huyện, người dân hẳn đã biết chọn tương lai của mình về phía nào.

Nếu đã hãnh diện gọi đất Bắc là đất văn học thì cùng một lẽ ấy, gọi mảnh đất miền Nam là miền đất hứa.

Nó hứa đủ thứ. Hứa cho mảnh đất lành chim đậu, hứa cho cơm no áo ấm đến cả giàu sang thức ăn thức uống ê hề. Nhưng điều quan trọng hơn cả, nó hứa cho một tương lai con người được giải thoát ra khỏi những ràng buộc xã hội phong kiến của mảnh đất cũ với lũy tre, với tục lệ làng xóm và với chèn ép con người.

Nó không có nổi một Vũ Trọng Phụng, một Nam Cao chỉ vì nơi đây nó không có cuộc sống đọa đầy mà ở nơi đó con người không có cơ may làm người. Thêm nữa nó hứa cho một mảnh đất tình nồng lấy tình bạn, tình nghĩa xóm làng lam mạch sống luân lý.

Và như nói ở trên xin được nhắc lại một lần nữa: Và ở đâu có nhiều bạn là quê hương ta ở đó.

Nó không cần một cuộc cách mạng xã hội, một cuộc tranh đấu giai cấp với bạo lực và chém giết như những tên đồ tể giết người. Nó trọng cái đạo lý giang hồ, trọng nghĩa khí, lấy chữ tín làm đầu. Nó biết khinh miệt bọn lòng lang dạ sói, khinh miệt bọn xu nịnh, bọn phù thịnh.

Đó là sự khác biệt rõ nét giữa Bắc và Nam.. Đó cũng là sự giải phóng con người để không còn những Thị Nở và Chí Phèo căn bản dựa trên một xã hội lý gay gắt. độc đoán, phi nhân và tàn bạo..

Nhưng ngược lại nó một biểu tượng cho một xã hội tình lấy tình nghĩa làm gốc..Nó không chỉ vì mình mà còn vị người. Hoạn nạn thì tương cứu đùm bọc, sống chết có nhau, làm ơn mà chẳng kêu cầu ơn nghĩa, trả tiền thì không ai chịu nhận lại nói rằng ” có chi mà gọi rằng ơn” ( chữ dùng của Sơn Nam). Cuộc chiến vừa qua nó thể hiện đúng mức và trọn nét văn hóa giữa Nam và Bắc.

Xem Lịch sử còn đó, Nguyễn Văn Lục, trang 24
Xem Thế kỷ XXI nhỉn về

Dòng văn học bản địa lục châu dù còn có những thô thiển, nó vẫn là nơi hội tụ thuận lợi nhất tiếp nhận nhiều dòng văn học khác và nhờ đó sau 20 năm, miền Nam đã tự hình thành một nền văn hóa, văn học đa dạng, tự do và nhân bản..

Dưới chính quyền bảo hộ nó đã khởi đầu với những tài năng xuất chúng như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của và Trương Minh Ký. Trong ba người ấy chỉ duy nhất có Trương Vĩnh Ký được nhắc tới nhiều mà có vị đã không ngần ngại viết:

Ở Trương Vĩnh Ký, ở điểm thứ nhất, là quá cỡ, quá khổ. Có lẽ số phận đã dành cho ông một trí thức quá cỡ so với mặt bằng kiến thức lúc ấy và ngay cả với người đồng đạo đương thời.

Xem Thế kỷ XXI nhỉn về Trương Vĩnh Ký, trang 80

Ngày nay, nhìn lại thì quả là cơ hội may mắn cho miền Nam lẫn cả miền Bắc.. Và chỉ đến khi nó đụng chạm, tiếp xúc với văn học miền Bắc sau 1975, người ta mới nhận chân ra được những giá trị của nó.

Rất tiếc, lại một lần nữa, Miền Bắc phạm phải một lỗi lầm lịch sử là đã phủ nhận nó, quét sạch, tiêu hủy toàn bộ cái nền văn học ấy, đầy đọa những nhà văn, nhà báo, nhà văn hóa đã góp phần hình thành nền văn học ấy.

Xin đọc tiếp phần Hai: Dòng chảy di cư năm 1954-55.

©  Nguyễn Văn Lục

© Đàn Chim Việt

52 Phản hồi cho “Diện mạo văn hóa, văn học miền Nam trong những tình thế cực đoan lại là nơi hội tụ của bốn dòng chảy văn hóa-văn học”

  1. Nguyễn Trọng Dân says:

    Xin Đôi lời v ề luật thơ của bài thơ tuyệt tác của anh Nguyên Thạch :”Đỗ Thị Minh Hạnh – Anh thư ngời sáng ”
    **********************************************************************

    Bài thơ này tac giả làm giống theo luật thơ của bài thơ Hạng Võ biệt Ngu Cơ

    Riêng mấy câu ngắn là Biến thể từ một câu dài
    QUÁ TUYỆT VỜI !

    Luật như sau:

    Vận cuối ở câu đầu và câu chót phải trắc
    Vận cuối câu đầu phải vần với vận trắc câu cuối của khổ thơ trên
    Hai câu giữa phải vận bằng , cùng vần

    Trước giò thì HẦU HẾT mình hay làm thơ như thời Tiền ChiếN tức khổ thơ 4 câu , câu thứ ba chử cuối là vận trắc , các câu khác cùng vận cùng vần

    Xin Ví Dụ

    Đưa người, ta không đưa sang SÔNG ( bằng )
    Sao có tiếng sóng ở trong LÒNG
    Trời sanh không thắm không vàng VỌT ( trắc )
    Sao đầy hoàng hôn trong mắt TRONG
    ( Thanh Thanh Tâm)

    Hay thơ của anh Phan Huy hầu hết cũng thế

    Riêng luật này , Tác Giã theo chính xác , lại còn biến thế cắt câu ra khiến cảm xúc của người đọc càng trổi dậy mạnh mẽ

    Xin Chép lại thơ anh Nguyên Thạch một lần nữa cho mọi người thấy

    Em như dòng sông mênh mông nước CHẢY ( trắc _ Biến thể thành 2 câu ngắn )
    Chở những lời ca từ đền Hát, sông Đáy thuở nào ( bằng )
    Em là tình thương, là khúc nhạc, là ca dao ( bằng cùng vận )
    Lòng mở rộng dạt dào như biển CẢ.

    Em tựa mùa thu, thơ vấn vương rừng LÁ ( trắc cùng vận )
    Cho thi nhân bút tả muôn lời
    Em là vầng trăng, sáng mãi không vơi
    Là tia hy vọng cho những mảnh đời khốn KHÓ.

    Thu tháng Tám , dậy đất trời lộng GIÓ
    Trĩu mây đen vàng võ thê lương
    Thu tàn hoang che khuất mọi nẻo đường
    Đem cuồng lũ bạo cường giăng KHẮP

    Việt Nam ơi Có chăng Độc LẬP?
    Tự Do ơi xa tấp mờ XA
    Hạnh Phúc ơi Dân nằm bụi không NHÀ
    Bánh vẽ hỡi Sao dân ta chờ MÃI?

    Em thân liễu trên bước đường quan TÁI
    Gầy guộc xác xơ… ôi thân gái dặm trường
    Tuổi xuân thì mà hy sinh cả yêu đương
    Dành tất cả cho con đường Nhân BẢN…

    Liễu yếu đào tơ hao mòn theo năm THÁNG
    Mà Quê Hương vẫn khuất dạng tương lai
    Lời cầu nguyện cho em vượt bóng tối đêm dài
    Quê Hương sớm thoát khỏi ách tai nô LỆ.

    Đỗ Thị Minh Hạnh nữ lưu thế HỆ
    Cùng thanh niên bốn bể đứng lên
    Hãy là những con sông vượt khúc khủy gập ghềnh
    Hòa dòng chảy vào mông mênh biển CẢ.

    Ngày hôm nay, dẫu bão giông bỏng HẠ
    Vượt gian nan, rừng lá sẽ đơm bông
    Tuổi trẻ niềm tin quyết chí chung lòng
    Hãy hy sinh tất cả vì non sông rạng RỠ.

    Chí thanh niên há đành làm tôi TỚ?
    Nhìn đau thương…Đành nỡ quay lưng?.
    Mai hội Quê Hương sẽ chào đón tưng bừng
    Anh thư thế hệ con cháu Triệu Trưng ngời SÁNG.

    ( Nguyên Thạch )

    ***********************************

    Trong bài Hạng Võ Biệt Ngu Cơ , cũng chơi theo luật này

    HẠNG VÕ BIỆT NGU CƠ

    “Ngu Cơ Hỡi , hãy nhìn ta tên chiến bại ,
    Sức đã tàn quân mõi giữa vòng vây
    Sáng ngày mai giặc Hán sẽ thẳng tay
    Ta sẽ chết để hồn về đất cũ.

    Đây ,ta còn đây bình rượu
    Phút sau cùng ấm áp tất lòng chung
    Hãy cùng ta vui trọn phút sau cùng
    Giữa chiến trường còn sặc mùi tử khí

    Lòng ta giờ bận tâm suy nghĩ
    Sáng ngày mai son phấn sẽ ra sao?
    Lần đầu tiên giọng Sở phải nghẹn ngào
    Nàng theo ta thành ra dang dỡ

    Hãy uống đi rượu này pha lệ Sở
    Cõi trần ai duyên Ý bấy nhiêu thôi
    Ôi đẹp quá từ ánh mắt dáng ngồi
    Trong lòng ta , một mối tình bất tận !

    Nay cơ đồ đã đến hồi khánh tận
    Mà tình này rượu cạn vẫn chưa say
    Bên ngoài kia quân Hán xác chất đầy
    Không lấp nổi lòng ta niềm hối hận ”

    *******************

    “Tâu Bệ Hạ , lòng thiếp nào buồn hận
    Tình con người hơn hẳn chuyện được thua
    Gần đêm nay nguyệt cỡn lẫn môi đùa
    Tuy thoáng chốc mà thành trang sách sử !

    Tâu Bệ Hạ. Hỡi ba quân sĩ tử !
    Hãy cùng say ấm cúng nghĩa quân thần
    Hồn nước Sở , nhuệ khí vẫn trào dâng
    Loài mạt Hán , hay ho gì quân tráo trở !

    Tâu Bệ Hạ , vũ khúc tình nước Sở
    Với đường gươm sáng quắc thiệt oai nghiêm
    Thiếp xin múa dâng trọn cả nổi niềm
    Trước sinh tử , tình Chồng cùng nghĩa Vợ ..

    Phía xa xa trời Đông dường hé mở
    Cho anh hùng trận cuối thỏa bình sinh
    Hởi ba quân máu thấm cõi tơ tình
    Hồn của ta vẹn nguyên lòng nước Sở !”

    ***********

    “Nước đã vở mà sao tình không vỡ!
    Nàng quyên sinh sững sốt vạn hùng binh
    Tiếng hò reo quân Hán phải rùng mình
    Ôm xác nàng , ta cũng thề cùng thác !
    HỠI BA QUÂN ! SÁT !”

    ***********************************************************

    HY VỌNG NHIỀU CAO THỦ DÙNG LUẬT NÀY CHO NHIỀU BÀI THƠ TUYỆT TÁC NHƯ ANH NGUYÊN THẠCH

    NGOÀI RA , BÀI THƠ CỦA ANH Nguyen Thach RẤT CÓ HỒN… ” chở những lời ca từ đền hát , sông Đáy thửo nào ”

    Tuyệt cú mèo !

    VẠN KÍNH GẦN XA

  2. mẹ đốp says:

    Ông Phan Huy ơi, ông mần thơ về Võ đại tướng hay quá, tui khoái nhứt mấy đoạn dưới đây nè :

    Một thuở ông làm tướng sát quân
    Oan hồn uổng tử vướng đôi chân
    Quân dân, đồng chí theo đòi mạng
    Ông trả làm sao hết nợ nần.

    Ông đã làm thinh khi đảng ta
    Sai Đồng ký giấy hiến Hoàng sa
    Nói rằng thà giaoTàu quản lý
    Còn hơn để nguỵ giữ quê nhà.

    Ông đã làm thinh khi đảng ta
    Bản giốc, Nam quan, biếu làm quà
    Cao nguyên, hải đảo dâng triều cống
    Rước giặc Tàu xâm chiếm quốc gia.

    Ông đã làm thinh khi đảng ta
    Hoá thân thành đảng cướp ma phi a
    Đuổi nhà, chiếm đất dân cùng khổ
    Khắp trời than khóc tiếng kêu la.

    Thế giới cười ông, đại tướng điên
    Dân chúng chê ông, đại tướng hèn
    Riêng ông vẫn một lòng trung hiếu
    Với đảng mà thôi, đảng búa liềm.

  3. Nguyễn Trọng Dân says:

    MỘT BÀI THƠ QUÁ HAY BÀ CON ƠI !

    Đỗ Thị Minh Hạnh – Anh thư ngời sáng
    (QLB)

    Em như dòng sông
    Mênh mông nước chảy
    Chở những lời ca từ đền Hát, sông Đáy thuở nào
    Em là tình thương, là khúc nhạc, là ca dao
    Lòng mở rộng dạt dào như biển cả.

    Em tựa mùa thu, thơ vấn vương rừng lá
    Cho thi nhân bút tả muôn lời
    Em là vầng trăng, sáng mãi không vơi
    Là tia hy vọng cho những mảnh đời khốn khó.

    Thu tháng Tám , dậy đất trời lộng gió
    Trĩu mây đen vàng võ thê lương
    Thu tàn hoang che khuất mọi nẻo đường
    Đem cuồng lũ bạo cường giăng khắp.

    Việt Nam ơi
    Có chăng Độc Lập?
    Tự Do ơi
    xa tấp mờ xa
    Hạnh Phúc ơi
    Dân nằm bụi không nhà
    Bánh vẽ hỡi
    Sao dân ta chờ mãi?

    Em thân liễu trên bước đường quan tái
    Gầy guộc xác xơ… ôi thân gái dặm trường
    Tuổi xuân thì mà hy sinh cả yêu đương
    Dành tất cả cho con đường Nhân Bản…

    Liễu yếu đào tơ hao mòn theo năm tháng
    Mà Quê Hương vẫn khuất dạng tương lai
    Lời cầu nguyện cho em vượt bóng tối đêm dài
    Quê Hương sớm thoát khỏi ách tai nô lệ.

    Đỗ Thị Minh Hạnh nữ lưu thế hệ
    Cùng thanh niên bốn bể đứng lên
    Hãy là những con sông vượt khúc khủy gập ghềnh
    Hòa dòng chảy vào mông mênh biển cả.

    Ngày hôm nay, dẫu bão giông bỏng hạ
    Vượt gian nan, rừng lá sẽ đơm bông
    Tuổi trẻ niềm tin quyết chí chung lòng
    Hãy hy sinh tất cả vì non sông rạng rỡ.

    Chí thanh niên
    Há đành làm tôi tớ?
    Nhìn đau thương…
    Đành nỡ quay lưng?.

    Mai hội Quê Hương sẽ chào đón tưng bừng
    Anh thư thế hệ con cháu Triệu Trưng ngời sáng.

    Nguyên Thạch

    • TỈNH TÌNH TINH says:

      Í anh Dân ơi em thấy anh có vẻ đã tởn đến già trò chơi chữ thì phải. Vì mới nghe thấy tên em là anh đã dị ứng với mấy từ ĂN THEO, HIỆP, KEO rồi, gì mà cứ như đỉa phải vôi í. Với người có tâm hồn và học hành tử tế như em thì Ý TẠI NGÔN NGOẠI anh à những người tầm tầm còn lầm lẫn thơ với văn vần như anh thì chỉ tổ NÓI DÀI NÓI DAI RA NÓI DẠI THÔI. Anh à mẹ em vẫn dạy chị em chúng là: NGƯỜI THANH(như em í) THÌ NÓI TỤC CŨNG THANH còn bây giờ em lại muốn nói là NGƯỜI TỤC (như anh í) THÌ NÓI THANH MẤY CŨNG LÀ TỤC. Vì sao í, này nhé cưng. Bụng anh, cái đầu anh đã toàn phân thì mồm anh cũng thối như C… vậy thì lời anh nói, chữ anh viết chắc hẳn là cũng nồng nặc như miệng anh vậy. Chả khó để kiểm chứng điều em nói đâu cưng, cưng cứ mở những bài của cưng mà coi có câu nào là không có những lời nhớp nhơ RƠI RA TỪ MIÊNG CƯNG ĐÂU, người thế nào chà rào thế vận nghe cưng?

      • TỈNH TÌNH TINH says:

        Mấy bài thơ anh Dân đăng lên đây hay goá hà nhưng cái bụng em, cái đầu em toàn phân thì mồm em cũng thối như C..vậy thì làm sao mà em hiểu được cũng như làm sao mà em hoạ lại được đây .

    • cononglienminh says:

      Công nông liên minh và thành viên trong nhóm thông báo: Sau một thời gian tranh đấu thì chúng tôi nhận thấy thế này. Các đối tượng chống phá cách mạng Việt nam ở trang này cũng không có gì là ghê gớm và không cần phải quá tôn công sức. Những tham luận lạc lõng của họ cũng chỉ đạt chuẩn VỞ SẠCH CHỮ ĐẸP ÍT LỖI CHÍNH TẢ- TRỪ KỲ LƯU RA- Những nhân vật này không nguy hiểm gì cho cuộc sống bình yên của toàn thể nhân dân Việt Nam. Cái tâm cái tầm của họ đã hiện nguyên hình qua cuộc thử sức vừa rồi. Chủ nhà TTXCC6 nói một câu khá hay: NHÂN DÂN VIỆT NAM KHÔNG DỄ DÀNG BỊ LỪA DỐI. Thật đúng là như vậy và có lẽ chân lý đang thuộc về những gì đang diễn ra ở Việt Nam đó là: ĐOÀN KẾT-TIN TƯỞNG –HĂNG SAY HỌC TẬP- HĂNG SAY LÀM GIÀU MỘT CÁCH CHÍNH ĐÁNG.
      Có câu tre già măng mọc. Mấy ngày qua đã chứng tỏ một đội ngũ măng non đã trưởng thành đủ sức làm thất bại mọi âm mưu dù thâm độc và đen tối đấn đâu đi nữa của kẻ thù.
      Vậy chúng tôi lại lên đường đến một trận chiến mới. Xin để lại mặt trận này cho “LỰC LƯỢNG ĐỊA PHƯƠNG VÀ DÂN QUÂN DU KÍCH”
      ĐOÀN KẾT ĐOÀN KẾT ĐẠI ĐOÀN KẾT
      THÀNH CÔNG THÀNH CÔNG ĐẠI THÀNH CÔNG
      Kính

  4. Nguyễn Trọng Dân says:

    “Đứng lại làm chi cho mắc công
    Vừa đi vừa đái vẽ nên rồng….”
    ( Phan Văn Trị )

    Vốn là người miền Nam nên xin lạm bàn đôi chút đến văn chương đất này..

    Nhắc đến miền Nam mà không nhắc đến cụ Phan Văn Trị ( 1830-1910) e quá là thiếu xót !

    Cụ Phan đổ cữ nhân dưới triều Tự Đức hình như vào khoảng 1848-1849 , nhưng không ra làm quan , cụ Phan tàn tàn bình dân theo kieu dân miền Nam đi đây đó , thỉnh thoảng đi dạy.

    Cụ là bạn rất thân với Cụ Thủ Khoa Huân

    ( Ghi chú: Cụ Thủ Khoa Huân ( Nguyễn Hữu Huân) , đậu thủ khoa hình như năm 1852 cũng dưới triều Tự Đức , đi khởi nghĩa chống Pháp, bị chém vào năm 1875. THẬT KHÔNG NGỜ , ĐÚNG 100 NĂM SAU THÌ XẢY RA VỤ ĐẠI TÁ HỒ NGỌC CẪN BỊ XỮ BẮN _ 1975 ! )

    Sau Cụ Chiểu , thì cụ Phan là cây bút chiến chống… DƯ LUẬN VIÊN Tường kịch liệt nhất

    Văn Học Việt Nam không có cuộc bút chiến thơ nào mà dai dẵng , Xát Xạc như thế

    Trong Khuôn khổ ngắn của phản hồi , Xin tạm trích một cuộc Xướng _ Họa ngắn sau :

    ( Lúc này , chính quyền Pháp còn mạnh..tới hơn 70 năm sau )

    Bài xướng của Dư Luận Viên Tường

    Giang san ba tỉnh hãy còn đây,
    Trời đất xui chi đến nỗi này?
    Chớp nhoáng thẳng bon dây thép kéo,
    Mây tuôn đen kịt khói tàu bay.
    Xăn văn thầm tính, thương đôi chỗ,
    Khấp khởi riêng lo, biết những ngày.
    Miệng cọp hàm rồng chưa dễ chọc,
    Khuyên đàn con trẻ chớ thày lay!

    Bài họa của Cụ Phan

    Hơn thua chưa quyết đó cùng đây,
    Chẳng đã, nên ta mới thế này,
    Bến Nghé quản bao cơn lửa cháy,
    Cồn Rồng dầu mặc bụi tro bay.
    Nuôi muông giết thỏ còn chờ thuở,
    Bủa lưới săn nai cũng có ngày.
    Đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ,
    Lòng ta sắt đá há lung lay!

    Nay nước nhà TẠM LỌT VÀO TAY KIỀU CỘNG Ở BA ĐÌNH , TAY SAI HÁN QUỐC, nên trước huơng hồn cụ Phan , hậu bối xin tri’ch lấy bài thơ này của cụ mà cảnh báo mấy chàng dư luận viên Kiều Cộng

    NUÔI MỘNG GIẾT THỎ CÒN CHỜ THUỞ
    BỦA LƯỚI SĂN NAI CŨNG CÓ NGÀY
    ĐỪNG MƯỢN HƠI HÙM RUNG NHÁT KHỈ
    LÒNG TA SẮT ĐÁ HÁ LUNG LAY !

    Sẽ bàn tiếp van chương miền Nam
    Merci DCV

    • TỈNH TÌNH TINH says:

      Em chả biết các anh chê thơ văn trong nước ở cái chỗ nào chứ mẹ em kể ngày xưa bà ru mẹ em bẳng thơ của mấy ông nhà thơ mà các anh chê í chỉ một lát là mẹ em ngủ liền và mẹ em cũng kể đã ru em bằng những bài thơ ấy em cũng ngủ liền và hình hài em đẹp như hôm nay cũng là từ lời ru đó mấy anh à.Còn bi giờ mà lấy thơ của các anh như thơ anh THANH VĂN PHẠM, ANH PHAN HUY ra mà ru chắc có đánh con em đến phọt ” cứt ” nó cũng không ngủ mí anh à. nhất lại đưa cái thơ ngọng níu ngọng nô của anh KỲ lưu– MỘT BIỂU TƯỢNG CỦA NỀN THƠ VĂN HẢI NGOẠI của các anh MÀ RU THÌ CÓ LẼ Í E Ò E
      NHƯ ” MỘT ĐOÀN THẰNG NGỌNG I EM UÔNG (ĐI XEM CHUÔNG )

      • Nguyễn Trọng Dân says:

        Không phân biệt được là ” BỔ SUNG ” có nghĩa khác với ” ĂN THEO ” mà còn trèo cao đòi bình luận thơ là sao?

        Cố tình chưởi Kiều Cộng Nguyễn Tấn Dũng phải không?

      • Tien Ngu says:

        Nghe giọng…bê, muốn mữa quá.

        Thôi ông Trọng Dân nên…khen cái văn thơ trong nước của nền văn hoá Cộng láo cho nó…vui vẽ đi. Không thôi em bê cứ néo nhéo hoài.

        Nghỉ cũng…thảm, từ ngày tràn ngập văn thơ…trong nước, VN bổng có nhiều…bê.

        Bê bị…chê, bê…néo nhéo
        Hải ngoại anh cũng…éo hay gì
        Kỳ nưu ngọng nghịu…nâm ni
        Bê cười té…ghế, bề…xì, hổng hay…

      • Trí Phèo says:

        Tính tình tinh quý mến,

        Hồi nhỏ bà ru mẹ bằng bài thơ của Hồ Chủ Tịch làm mẹ ngủ ngon lành.

        Hòn đá nặng
        Chỉ một người
        Nhấc không đặng

        Nhưng bài thơ này lủng củng lảng cảng về vần điệu. Thi sĩ quandannambo làm bài thơ post ở phía dưới đọc lên rất du dương, lời lẽ ngọt ngào, âm điệu thanh thóat, hay quá, nên tôi phải post lại để tính tình tinh dùng ru con thì tuyệt diệu

        nàng vừa mới rửa đang lau
        vôi vàng ra tiếp khách tàu sang chơi
        nhác trông chẳng phải mặt người
        mỏm dơi râu chuột mắt lồi răng hô
        rằng ta là sếp gã hồ
        bọn ngươi phục vụ phải cho đàng hoàng
        khôn hồn thì dẹp lễ tang
        mau bày rượu thịt long sàng cho ta
        bản vương đã chán đàn bà
        mau đưa gái nhí cho ta giải sầu
        tính tình tinh nó ở đâu
        tắm rửa sạch sẻ ra hầu bản vương
        bản vương là lý khắc cường
        “thế thiên hành lạc” trên đường công du
        tính tình tinh đứa gái ngu
        để ta thịt nó cho bu nó mừng
        nó rên tưng tứng từng tưng *

      • Nguyễn Trọng Dân says:

        Nghe lời bác Tiên Ngu , Qua ca thơ Kiều Cộng ngay

        Cướp , cướp nữa bàn tay không ngừng nghĩ
        Cho Đảng giàu , đất nước lại nghèo thêm
        Cho người dân đói kém chết bên thềm
        Cho xứng đáng Đảng ta loài Cộng phỉ !

        Cướp , cướp nữa bàn tay không ngừng nghĩ.

      • TỈNH TÌNH TINH says:

        Mấy anh THANH VĂN PHẠM, ANH PHAN HUY ơi, giúp em làm bài ca dao dưới đây cho được dài thêm được hôn ? chớ thấy nó ngắn goá hà :

        “Khi xưa Đại Tướng cầm quân

        Ngày nay Đại Tướng cầm quần chị em!

        Khi xưa Đại Tướng công đồn

        Ngày nay Đai Tướng ngăn l.., cản c.!”

  5. diễu rẻ tiền says:

    Tính tình tinh ơi
    Thôi bỏ cái lối diễu rẻ tiền đi, một trò cười khi nói lần đầu thì người ta cười, nhưng khi nói lại lần thứ hai người ta chán, khi diễn trò lần thứ ba người ta chán ngấy đến cổ
    Thôi bỏ cái trò khỉ đi cô em đực rựa ạ

    • TỈNH TÌNH TINH says:

      Anh DIỄU RẺ TIỀN gì đó ơi em chỉ có thể hiểu anh theo hai giả thiết. Một là rất có thể anh là phản động nên rất muốn lôi cổ em sang THAILAND biến em thành con giai rồi hô hoán lên là MẸ ĐỐP nói xạo cái vụ chị Phương Uyên dại hơn em ảo tưởng hơn em và ngông cuồng hơn em nên mới bị đi tù. Hai là có thể anh chỉ là tên có máu 35 nên quá ham hố. Thấy anh Trọng Dân cứ mê muồi lao đầu vào nên cũng muốn thử…………. ?

      • Nguyễn Trọng Dân says:

        Bị té nước hết tuyên truyền được gì nên tức lắm phải không?
        Nhờ co’ Tinh Tinh Tinh nói điêu mà nguyên cái Đảng mang tiếng “KIỀU” CỘNG không thấy đó sao?

      • TỈNH TÌNH TINH says:

        Em nói chơi vậy thôi, chớ các bài thơ của các anh THANH VĂN PHẠM, ANH PHAN HUY em xem xong, còn để vào hôp thơ lưu trữ để đọc đi đọc lại đấy. Ước gì em được như các anh ấy nhỉ .

  6. người quan sát says:

    Hiệp hai – chủ lực phái thân công chưa xuất chiêu mà phái chống cộng đã thua trắng tay. Điều đáng nói là chiến thắng điểm 10 + của phái thân công lại diễn ra giữa cuộc so găng không cân sức giữa một NGUYỄN TRONG DÂN dày dạn kinh nghiệm của phái chống cộng và một cô bé TỈNH TÌNH TINH non nớt “mới ở tuổi dậy thì”_ theo Nguyễn Trọng Dân- mới chỉ có cảm tình với phái thân công. Có vẻ phái thân cộng đã thay đổi chiến thuật trong khi phái chống cộng CỨ SAY SƯA KHOE MÌNH HAY CHỮ BẰNG NHỮNG BÀI VĂN VẦN.

    • Nguyễn Trọng Dân says:

      Hehehe…

      Có người thấy “mấy em” bị te tua té nước…, không tuyên truyền được gì nữa hết nên mới âm thầm “ĐỠ ĐẠN ” DÙM CHO MẤY EM LIÊN HỒI mà mấy em không biết đó thôi !

      **************************

      KIỀU CỘNG

      Việt cộng trước ăn ngũ làm tay sai cho Mao Hán

      Sao chê Mao Hán nghèo , đạp Mao Hán làm tay sai ăn ngũ với Liên Xô

      Ai dè Liên Xô bị phá sản , đành Vác mặt khóc lóc ở Thành Đô Xin ăn ngũ với Hán trở lại khiến cả nước mang nhục

      Rồi bây giờ chê Hán ăn dơ ở bẫn toan lấp liếm chơi với MỸ…

      Thay lòng đổi dạ liên miên khiến cả dân tộc bị Đặng chưỡi là loài PHẢN TRẮC

      BỞI VẬY THAY VÌ GỌI VIỆT CỘNG KHIẾN CHO CÁI CHỮ “VIỆT” BỊ NHỤC , TA CHUYỄN SANG GỌI LÀ….KIỀU CỘNG

      ( hehehe… )

      ( Biết Kiều làm nghề gì hông , em dốt nát Tinh Tinh Tinh, người quan sát )

      Mấy em làm gái đứng đường đón khách nước lạ bán thân kiếm tiền
      KIỀU CỘNG cũng đón khách nước LẠ bán nuóc … hốt tiền

      Mấy em làm gái đứng đường dùng son phấn che lấp nét xấu trên gương mặt để lừa con mắt của khách
      KIỀU CỘNG dùng tuyên truyền lừa dư luận che lấp tội ác

      Mấy em làm gái đứng đường thì bị mất danh giá
      KIỀU CỘNG thì bị mất lương tâm

      MấY em làm gái đứng đường lúc hầu khách nước lạ thuờng quỲ gối…
      KIỀU CỘNG lúc hầu khách nước LẠ cũng cuối đầu…”quỲ gối” chuyện nước non

      MấY em làm gái đứng đường bị bệnh giang mai ở cửa mình
      KIỀU CỘNG bị bệnh LÁO ở cửa miệng

      MấY em làm gái đứng đường hay cướp chồng của người khác
      KIỀU CỘNG hay cướp đất , nhà của người khác

      MấY em làm gái đứng đường hay bị Ma Cô hành hạ
      KIỀU CỘNG bị Hán ma cô truất phế tùy tâm

      • mẹ đốp says:

        Nhớ mới hôm nào lên trang này thấy khối kẻ trong đó có thể có cả Trong Dân vươn cổ nên mà gào trong vụ án Con bé Phương Uyên. Gào rằng CHÁU NÓ CÒN CON NÍT MÀ NỠ XỬ NHƯ VẬY trong khi cô nàng này dư tuổi chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hành vi của mình. Cô nàng vì nghe xúi dại mà rải truyền đơn, mà phát ngôn sặc mùi kích động bạo loạn. Và hôm nay các amh đã xử như thế nào với con bé TỈNH TÌNH TINH này? Một con bé như lời Trọng Dân nói : MỚI Ở TUỔI DẬY THÌ. Cứ cho là cháu nó nói bậy đi (tôi mới giả sử như vậy thôi). Các người – bậc làm cha làm mẹ- mà lấy chuyện đĩ điếm ra mà dạy như vậy có đáng làm cha làm mẹ không? Chỉ nghe Trọng Dân nói là tôi có thể biết con cái ông này được dạy dỗ tử tế đến mức mất dạy như thế nào. Đó thấy không? Các anh đâu có xót cho con trẻ dại dột. Các anh có cơ hội là các anh đánh cho đến cùng ấy chứ. Các anh đang thực hiện âm mưu thâm độc thì chính xác hơn. Nói với con trẻ mà dùng toàn lời nói vô lương thì rõ nhà dột từ nóc dột xuống rồi. Việc TÌNH TÌNH TINH biến hóa nghĩa của hai từ ĂN THEO cũng là do nó học lại cách nói về hai chữ HIỆP VÀ KEO của Trọng Dân mà thôi. Gậy ông đập lung ông mà.Người đời có câu : TỀ GIA TRỊ QUỐC BÌNH THIÊN HẠ. Trọng Dân không xứng làm cha, chưa tề được GIA thì mong chi mộng TRỊ QUÔC?

      • Nguyễn Trọng Dân says:

        Đốp ,

        Tên của Qua là TRỌNG DÂN chớ đâu có phải là TRỌNG QUYỀN mà lại mộng mị chuyện quyền lực , lăng tẫm với tượng đài như Kiều Hồ, Giap, Duan…bình thiên hạ ( zzzz!)

        Bởi Kiều Hồ , Kiều Giáp , Kiều Duẫn , etc… có cái mộng “trị quốc bình thiên hạ ” như Đốp em bàn tới nên dân mới chết thê thãm khi thì từ Vụ ĐẤU TỐ , khi thì THÃM SÁT ở Huế lúc Mậu Thân , khi ở bệnh viện An Lộc , khi thì ngoài biển khơi lúc Vượt Biển , etc…

        Đó là chưa kể dân chết thãm trên các quốc lộ … năm nào

        Bởi Qua là TRỌNG DÂN nên rất ghét bọn KIỀU CỘNG ngồi trên Xương máu của Nhân Dân XÂY CHỦ NGHĨA ĐIÊN CỘNG SẢN , Xúi dại bao thế hệ chết ngu chết thãm lầm than

        Bởi Qua là TRỌNG DÂN nên rất ghét bọn KIỀU CỘNG bán nước buôn dân QUỲ LẠY HÁN

        Bởi Qua là TRỌNG DÂN nên rất ghét bọn KIỀU CỘNG cướp đất cướp ruộng của dân lành

        Bởi Qua là TRỌNG DÂN nên rất ghét bọn KIỀU CỘNG bần cùng hóa nhân dân để rồi An Nam đứng nhất … nghề Kiều ở Mã Lai , Dài Loan , Singapore

        Bởi Qua là TRỌNG DÂN nên rất ghét bọn KIỀU CỘNG ngu đần hóa nhân dân để nay , để dân trí cứ mổi ngàY mổi thấp.

        Bởi Qua là TRỌNG DÂN nên rất ghét bọn KIỀU CỘNG quỸ quyệt lừa nhân dân , che lấp tội ác

        Cho nên , Đốp phen này chắc bị cái loa phường XHCN làm cho Lú , không thấy Kiều Cộng Ác Nhân thất đức phải không?

      • mẹ đốp says:

        Trọng dân ơi đừng đánh bài lảng nữa. không phải lúc nào cũng có thể ráp cái con BÀI GHÉT CHẾ ĐỘ, KHÔNG ƯA ĐẢNG để biện minh cho cái trò lố lăng thất học của ông đâu. Cái mà mọi người đang chờ ông trả lời là CÁCH DẠY TRẺ CỦA ÔNG, MỘT BẬC ĐÃ LÀM CHA LÀM MẸ, BẰNG TOÀN CHỮ ĐĨ chứ không phải chờ để ông dãi bày tình cảm yêu ghét. Làm trò như vậy cũng có thể gọi là CẢ VÚ LẤP MIỆNG EM ĐẤY. Mẹ Đốp này đã theo ai thì dứt khoát không tha. Mõ làng mẹ có trong tay thì ông có VỞ SẠCH CHỮ ĐẸP ĐẾN MẤY mẹ Đốp này cũng lôi ông ra hô to cho mọi người đến phỉ nhổ vào cái thói bẩn thỉu của ông. Cái trò TỰ DO TUYỆT ĐỐI của ông chỉ lừa được mấy kẻ ảo tưởng ngông cuồng mà thất học thôi. Ở đời nếu thấy GHÉT VỢ THẰNG HÀNG XÓM mà bắc loa chửi vợ thằng hàng xóm ông ổng ngoài cổng thì e có ngày …. mất cái đi tè đó
        còn bây giờ hãy nghe MẸ ĐỐP rao nè
        CHIỀNG LÀNG CHIỀNG CHẠ
        BỆ HẠ TÂY ĐÔNG
        CÓ THẰNG TRỌNG DÂN
        DẠY CON BẰNG ĐĨ
        MỞ MỒM NHỚP NHÁP
        ĐĨ TRÊN ĐI DƯỚI
        MỒM MIỆNG RÁC RƯỞI
        DẠY CON LÀM NGƯỜI
        BẰNG TOÀN CHỮ ĐĨ

        Từ đó có thể luận ra rằng nếu trọng dân có con trai thì cũng chỉ đi làm đĩ đưc. nếu có con gái thì cũng chỉ thuộc hàng mại dâm hết thuốc

      • Nguyễn Trọng Dân says:

        Bài vè của Đốp có hai câu sau:

        BỆ HẠ TÂY ĐÔNG
        CÓ THẰNG TRỌNG DÂN

        Đốp có biết hai chử Bệ Hạ nghĩa là gi không
        Cố tình muốn đạp Qua nhưng mà gì dốt quá….phải không?
        Lúc nhỏ , học thơ Kiều Cộng Tố Hữu nên lớn gõ mỏ LÚ phải không?

        Đốp ơi,

        Đốp cứ ba xạo hoài…

        TỨC QUÁ , KHÔNG TUYÊN TRUYỀN ĐƯỢC GÌ NỮA HẾT NÊN VU KHỐNG CHO BẰNG ĐƯỢC PHẢI KHÔNG?

        Cái nghề Kiều Cộng là do Kiều Cộng Đảng ta dạy, Tinh Tinh Tinh là con của Kiều Cộng Đảng , đâu phải con Qua , từng khoe Kiều Cộng bà ru Kiều Cộng Mẹ bẳng thơ CM, rồi đến Kiều Cộng Mẹ ru Kiều Cộng Tinh Tinh Tinh( hehehe…)

        ( Con của mẹ Đốp chắc cũng là Kiều Cộng Đảng chớ hả )

        Qua nói đây là Qua khinh con cái của Kiều Cộng Đảng, của Đốp làm thân TÔI MỌI CHO CÁI ÁC , BÁN NƯỚC HẠI DÂN mà ĐỐP CỨ MÕI NGÀY MỖI LÚN XÂU LỘ MẶT

        QUA CHƯỞI ĐỐP cùng KIỀU CỘNG ĐẢNG để cá mè một nước biết đường mà BỎ LÀM NGHỀ KIỀU CỘNG ĐẢNG mà quay về Với Chính Nghĩa Quốc Gia

        Nếu khinh cái nghề…Kiều THÌ ĐỪNG BẦN CÙNG HÓA NHÂN DÂN, CƯỚP ĐẤT , QUY HOẠCH khiến dân nghèo xác sơ , hết phương kiếm sống , trồi dạt về thành thị làm gái nhọc nhằn sống qua ngày

        Nếu khinh cái nghề…Kiều , THÌ ĐỪNG CỐ THÚC ĐẨY CHÍNH SÁCH XUẤT KHẨU CÔ DÂU , XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG , RÁNG BỎ RA 2.5 TỶ ĐÔ LA CHO CHÍNH SÁCH TÀI TRỢ NGƯỜI NGHÈO , TRONG ĐÓ KHOÃNG 750 TRIỆU ĐO LA TÀI TRỢ TÀI CHÁNH CHO PHỤ NỬ NGHÈO , THẤT HỌC VÀ CÓ THU NHẬP DƯỚI 75 ĐÔ LA MỘT THÁNG

        Cho Đốp gõ mỏ lại đó

        Mấy ngày nay , bạn bè gọi điện thoại liên miên , ai ai cũng sài hai chữ..KIỀU CỘNG , khoa’i chi’

        Tức lắm rồi phải hông?

        Hehehehe…

    • TỈNH TÌNH TINH says:

      Anh Trọng Dân ơi anh lại ăn theo em rồi, lì đến dễ thương ghê cơ. Lần này thì anh lại ăn theo bằng cách XÀI LẠI NHỮNG GÌ EM THẢI RA. Cưng nghe em nói nè nghệ thuật tra từ điển để nói cho rõ nghĩa í mà là do em nghĩ ra trước. Giờ anh lại lấy ra xài thì không biết nó có con giá trị nóng hổi như lần em dùng không? Mà em phải bỏ ra mấy chục triệu để mua từ đển lận. Không biết anh có mua được mấy cuốn mà dùng rồi nhỉ, thiếu tiền không em phụ cho. Mà sao anh cứ thích xài lại những cái em thải ra nhỉ. Nhưng không sao, em đã xin phép nhà đầu tư rồi đồ lót mà em mặc quảng cáo xong í là người ta bỏ đi, em cũng không dùng nữa nên anh cứ thoải mái mà dùng lại nhé. Mà em nghĩ hoài không hiểu, cái TỈNH TÌNH TINH ở tuổi dậy thì của bọn em nó có sức mạnh đến cỡ nào mà anh CỨ MÊ MUỘI ĐÂM ĐẦU VÀO CÁI HỐ ĐEN VÔ HÌNH CỦA EM giăng ra vậy nhỉ. Lần sau thì cẩn thận nhé. Em cho anh biết trước đề bài nè : LẦN NÀO EM CŨNG GÀI BẪY TRONG PHẢN BIỆN CỦA MÌNH và chờ anh sập bẫy và lần nào anh cũng sập bẫy ngon lành, thương ghê vậy đó. Cái hố đen vô hình của em nó ghê ghớm vậy ta?

      • quandannambo says:

        nàng vừa mới rửa đang lau
        vôi vàng ra tiếp khách tàu sang chơi
        nhác trông chẳng phải mặt người
        mỏm dơi râu chuột mắt lồi răng hô
        rằng ta là sếp gả hồ
        bọn ngươi phục vụ phải cho đàng hoàng
        khôn hồn thì dẹp lể tang
        mau bày rượu thịt long sàng cho ta
        bản vương đả chán đàn bà
        mau đưa gái nhí cho ta giải sầu
        tính tình tinh nó ở đâu
        tắm rửa sạch sẻ ra hầu bản vương
        bản vương là lý khắc cường
        “thế thiên hành lạc” trên đường công du
        tính tình tinh đứa gái ngu
        để ta thịt nó cho bu nó mừng
        nó rên tưng tứng từng tưng *

      • Nguyễn Trọng Dân says:

        Bài thơ này chắc làm Tinh Tinh Tinh….” bận bịu” một thời gian dài

        Ki’nh

  7. quang phan says:

    Tác giả Nguyễn Văn Lục chắc bực lắm vì bị tên tinhtinhtinh có bệnh tâm thần vào đây xả rác lung tung.

    Tên tinhtinhtinh này chính là gã có đầu óc bệnh hoạn, ăn nói tục tĩu đã từng thay đổi nick soành soạch congtangtonnunhumi, chungson, Conmeo, quockhach”, vietquoc , tranhung,v…v…và đã bị DCV cấm cửa hai lần trong ba tháng qua. Hưỡn đâu mà cà kê với nó .

    Chưng Sơn says:
    25/08/2013 at 16:22
    Tôi trở về nhà từ một miền không có sóng, lên diễn đàn DCV thì được biết DCV đã “Ban” tôi như một vi phạm vào quy định tiêu chuẩn của riêng BBT,

    ***lethan says:
    26/08/2013
    LeThan says: Hoan hô ban biên tập DCV.info .
    Nhưng tên ChungSon này khiếp lắm, ma lanh cứ như “Bác” Hồ ngày trước ấy, gã lại đổi nick thành Quốc Khách, Việt Quốc,… để tiếp tục phun nọc độc.

  8. TỈNH TÌNH TINH says:

    TỈNH TÌNH TINH says:
    10/10/2013 at 03:17
    Kiến gưởi anh Kìa niu (kỳ lưu)
    Em cười cười đến nỗi xém tuột cả cái mực khô đời mới nhất em đang cảng cáo khi em đọc mấy câu xấm chuyền cũa anh. Anh Hai à, thất học như bọn em mà vẫn biếc câu ngản ngử: “ THẰNG CHỘT NÀM VUA SỨ MÙ” để mà tránh. Em cũng trã hiễu tại xao mà cái nhóm người nưu phong bên nớ lại trọn anh làm người ứng nời thán nhơn. Em kễ anh nghe truyện lày nhé: có một ông bố đọc tin nhắn trong ri động (mobilephone) cũa con dai có ròng trữ: EM ĐANG O TRUONG, ANH TOI NGAY NHE- thế nà ông bố lổi điên chửu con mình dằng: mày là ai mà đi nghe con mất dạy lào ló đang trần truồng lằm đợi? Đứa con dai đọc tin nhắn dồi năn ra cười mà lói với bố: em gái con nó báo nó ĐANG Ở TRƯỜNG anh đến đón em về
    Thế đấy, tiếng diệc mình nó nguy hiễm như rứa anh hai. Cứ giã sữ sau những cuộc bom dơi đạn nạc anh nên nắm quyền rồi trong buỗi tuyên thệ mà anh quýnh quáng gio mắt mờ tim đập chân dun mà dọc thành: KIẾN THA CÁC VỊ ĐẠI BẨN, ĐỒNG KIẾN THA CÁC VỊ ĐẠI ĐỀU thì chết mẹ dân đen bọn em. Thôi anh NIU à, đừng KỲ nữa, đợi kiếp sau học hành tử tế thì cũng nàm được cái trức mõ nàng í
    Lực lượng chủ lực đang đi vắng nhưng nhưng đám dân quân du kích tụi em cũng đủ sức tiếp anh. Bọn em trẻ đẹp mà anh già rùi đủ sức mấy keo, mấy hiệp?
    Reply
    Nguyễn Trọng Dân says:
    12/10/2013 at 01:19
    Tri’ch : ” Lực lượng chủ lực đang đi vắng nhưng nhưng đám dân quân du kích tụi em cũng đủ sức tiếp anh. Bọn em trẻ đẹp mà anh già rùi đủ sức mấy keo, mấy hiệp? ”
    Đấy…
    Đoán đâu có sai, đúng là loài Đĩ Cộng mà .
    Mẹ ru thơ Chủ Nghĩa cho ngu thì con đi làm Đĩ Cộng là phải rồi
    TỈNH TÌNH TINH says:
    13/10/2013 at 05:28
    Anh Dân ơi em bảo nè, chúng em trẻ đẹp là một lẽ hiển nhiên. Đảm bảo anh trông cũng phát thèm. Đơn giản vì chúng em đang sống trong một đất nước hòa bình, không có khủng bố, không có loạn lạc, không có máu đổ, đầu rơi nên mọi người sống vô tư thoải mái, ít ưu phiền, chỉ lo làm giàu và làm đẹp bản thân. Thử hòi như vậy thì làm sao mà chúng em không trẻ đẹp, đẹp về hình thể, đẹp về tâm hồn, đẹp về ý chý và khát vọng. Còn cái vụ “mấy hiệp, mấy keo” xin thưa em đã bỏ ra vài chục triệu mua tất cả các từ điển tiếng việt của các nhà xuất bản tử tế – thuê nguyên một xe chở về- để tra nghĩa thì “keo và hiệp” là khoảng thời gian hai hiệp đấu chứ nó không có cái nghĩa đen tối như bản chất đen tối của anh nghĩ đâu. Em cũng đã đem tham khảo mọi người thì họ đều nói là chỉ có BỌN MÈO MẢ GÀ ĐỒNG mới có cái suy luận kiểu anh thôi. Anh muốn em gọi anh là người tử tế hay là LOẠI MÈO MẢ GÀ ĐỒNG đây anh Dân ơi. Anh ngây ngô đến thương. Khi viết phản biện em đã tiên doán anh sẽ suy nghĩ kiểu BỌN LƯU MANH MÈO MẢ GÀ ĐỒNG nên đã mớm lời gài bẫy thế là anh say anh lao ngay vào theo cái quy luật lô gic biện chứng đó là: KẺ LƯU MANH THÌ CHỈ BIẾT NGHĨ NHỮNG TRÒ LƯU MANH VÌ HỌ CHUYÊN LÀM TRÒ LƯU MANH. lại thua knockout 0 -1 rồi nhé. thua đến vỡ mặt luôn. Cái bẫy vô hình của những người thân công mà em học được là thế đó. Thấy tội cho anh ghê

    • quandannambo says:

      “đẹp giai khoai to
      chẳng lo chết đói”
      ôi
      thanh niên hà nội
      suy nghỉ thật là khôn
      học được nghề của bác
      ra đời dể kiếm cơm *

    • Nguyễn Trọng Dân says:

      Mèn Ơi ,

      Tinh Tinh Tinh bị tét miệng té nước không còn tuyên truyền được gì nữa hết , cãi muốn lẹo lưỡi , ” bổ sung ” là ” ăn theo ” ( hehehe… dốt qua’)

      Em làm KIỀU CỘNG lâu năm đón khách NƯỚC HÁN HAY CÒN GỌI LÀ NƯỚC LẠ qua chơi đêm hoài mà hỏng chịu học tiếng HÁN gì hết trơn à

      Muốn cuối đầu nịnh bọn Hán thì phải biết tiếng Hán mà mới nịnh được chớ

      Ở cấp một , bây giờ Đảng dạy tiếng Hán mà em cứ trốn học Ỷ có lÝ lịch làm KIỀU CỘNG ba đời rồi lên lớp phải hông?

      Hèn chi em khoe với anh Lê Than là KIỀU CỘNG Bà em ru thơ CM cho KIỀU CỘNG Mẹ em , rồi bây giờ tới KIỀU CỘNG Mẹ em ru KIỀU CỘNG em , Tinh Tinh Tinh.

      Cả ba đời làm KIỀU CỘNG nên không chịu học hành gì hết à !

      Nè , như em Tính Tình Tình làm KIỀU CỘNG lâu năm thì biết , khách nước LẠ qua chơi đêm ,hai chữ “ĂN THEO ” có nghĩa là khách nước LẠ chỉ trả tiền một giá nhưng em phải hầu tới hai hay ba thằng thay vì chỉ hầu có một thằng , cái đó nó gọi là ăn theo

      CŨNG NHƯ ĐẢNG TA BÁN HOÀNG SA CHO HÁN TỨC NƯỚC LẠ NĂM 1958 Với Công Hàm Bán Nước để đổi lấy đạn dược , người , cố vấn cho trân Điện Biện , nhưng bọn Nga lại ăn theo công giúp đỡ của HÁN , bởi vậy , Hán mới tức tụi Nga đó

      CÒN “BỔ SUNG” , nghe cái âm là biết tiếng Hán rồi. Em thấY ông khách nước Hán , Xìu Xìu ểnh ểnh , em mới cho một thang thuốc “BỔ” , để khách Nước Hán nó “SUNG” lên … VẬY LÀ EM KIỀU CỘNG Tinh tình Tinh HIỂU ” BỔ SUNG ” là gì chưa! ( bổ sung : nghĩa là thêm vào cho mạnh lên )

      Ví dụ như , KỲ này anh khách NƯỚC HÁN , LÝ Khắc Cường qua chơi đêm bên ta , Đĩ Cộng Tính Tính Tinh NGUYỄN TẤN DŨNG CÙNG ĐỒNG BỌN thấY ảnh có Vẽ mệt , bèn chơi sang cho một liều thuốc BỔ , nước Hán cứ thoải mái múc dầu ở Biển Đông vốn thuộc về An Nam ta mà thôi , anh khách nước Hán “SUNG ” lên , chưởi thẳng vào mặt đế quốc MỸ , “VIỆT NAM LÀ THUỘC CỦA NƯỚC HÁN TAO , CHỚ CÓ CAN THIỆP , QUẬY SÓNG”

      ThấY cái Ý của em , khách chơi chưa hứng ( TẠI VÌ NÓ DỐT QUÁ !) nên Qua mới ” bổ sung ” là vậy

      LÀM ƠN CHO KIỀU CỘNG MÀ CÒN BỊ MẮC OÁN ĐÓ BÀ CON THẤY KHÔNG?

      Bởi nói Cộng Sản ăn cháo đá bát là vậy !

      Thôi đi ra đón khách đi nước Hán đi , đừng để khách chờ

      Rãnh rỗi rồi để Qua dạy cho Vài Câu Hán ngữ để mà làm KIỀU CỘNG HẦU HÁN QUỐC cho trơn tru

      • TỈNH TÌNH TINH says:

        Anh Trọng Dân ơi anh lại ăn theo em rồi, lì đến dễ thương ghê cơ. Lần này thì anh lại ăn theo bằng cách XÀI LẠI NHỮNG GÌ EM THẢI RA. Cưng nghe em nói nè nghệ thuật tra từ điển để nói cho rõ nghĩa í mà là do em nghĩ ra trước. Giờ anh lại lấy ra xài thì không biết nó có con giá trị nóng hổi như lần em dùng không? Mà em phải bỏ ra mấy chục triệu để mua từ đển lận. Không biết anh có mua được mấy cuốn mà dùng rồi nhỉ, thiếu tiền không em phụ cho. Mà sao anh cứ thích xài lại những cái em thải ra nhỉ. Nhưng không sao, em đã xin phép nhà đầu tư rồi đồ lót mà em mặc quảng cáo xong í là người ta bỏ đi, em cũng không dùng nữa nên anh cứ thoải mái mà dùng lại nhé. Mà em nghĩ hoài không hiểu, cái TỈNH TÌNH TINH ở tuổi dậy thì của bọn em nó có sức mạnh đến cỡ nào mà anh CỨ MÊ MUỘI ĐÂM ĐẦU VÀO CÁI HỐ ĐEN VÔ HÌNH CỦA EM giăng ra vậy nhỉ. Lần sau thì cẩn thận nhé. Em cho anh biết trước đề bài nè : LẦN NÀO EM CŨNG GÀI BẪY TRONG PHẢN BIỆN CỦA MÌNH và chờ anh sập bẫy và lần nào anh cũng sập bẫy ngon lành, thương ghê vậy đó. Cái hố đen vô hình của em nó ghê ghớm vậy ta?

      • Nguyễn Trọng Dân says:

        Bị cái bệnh “hám mưu mê kế ” của Hán phong , nên vẫn không thấy mình mất gốc, ngu si. Gài hố kiểu gì mà bây giờ nguyên một cái Đảng bị gọi là “KIỀU CỘNG ” Hay qua’ ha !

        ” PHẢI MẤT GỐC ĐỂ GIỮ NGHỀ ” phải không?

        ( Biết “Hán phong” nghĩa là gì không đó , không biết thì cứ lòi dốt ra như cái vụ ” BỔ SUNG ” Với ” ĂN THEO ” để qua dạy dỗ Tính Tính Tinh tiếp )

  9. NON NGÀN says:

    TỰ DO VÀ VĂN HÓA

    Người Pháp bắt đầu thiết lập chế độ hay chính quyền thực dân ở nước ta hồi cuối thế kỷ 19. Cũng ngay từ ngày đó họ cũng văn lại cho nước ta phần nào nền văn minh vật chất và văn minh tinh thần của dân tộc Pháp. Những hạ tầng cơ sở vật chất, những định chế hành chánh quản lý, những sách báo, tư tưởng hay văn minh, văn hóa nói chung là điều không thể phủ nhận. Họ tuy có bòn rút một phần tài nguyên của đất nước ta, nhưng đại thể không hề tiêu diệt văn hóa đã có của nước ta, không hề hủy dẹp chính quyền nhà nước phong kiến triều Nguyễn, không hề ép buộc nhân dân ta phải theo hẳn một ý thức hệ nào cả.
    Pháp chỉ lấy danh nghĩa “bảo hộ”. Tức chính quyền của Pháp là thống soái, là cầm chịch, hay nắm các giềng mối lớn trong cai trị đất nước thay cho ta mọi mặt mà thôi. Đất nước ta trở thành bị trị là như thế. Tức họ trở thành ông chủ cai quản nói chung, nhưng mọi cái còn lại thì họ không nhất thiết cạn tàu ráo máng, trừ phi họ đàn áp mọi phong trào yêu nước hoặc chống đối xuất phát từ trong dân là điều không cần phải nói.
    Cái tự do trong thời Pháp thuộc chính là tự do văn hóa, tự do trong xã hội đối với mọi cá nhân, nhưng không có tự do chính trị chung của toàn thể đất nước là như thế. Chế độ thực dân Pháp không hoàn toàn hà khắc về mặt xã hội, văn hóa, nhưng nó chỉ hà khắc về mặt chính trị nhằm thủ tiêu mọi thế lực hay khuynh hướng chống lại sự cai trị hành chánh của người họ.
    Điều đó cho thấy mặc dù bị Pháp cai trị, đất nước ta vẫn phát triển về văn hóa, xã hội nói chung trong suốt thời kỳ thực dân Pháp. Đó là điều không thể phủ nhận hay đánh giá theo cách khác. Đó là điều đáng mừng cho dân ta mà cũng chẳng thật sự đáng trách về phía người Pháp. Văn hóa của họ khi đó hoàn toàn mới mẽ so với văn hóa cũ vốn có của ta, không không hề xóa đi, xâm hại gì đến văn hóa vốn có của ta, nhưng chỉ bổ sung, nâng lên, đổi mới một phần văn hóa cũ của ta, đó thật sự là một thuận lợi cho ta những là điều đáng quí của họ. Ngay như ngôn ngữ chữ viết mới của ta, tức chữ quốc ngữ hiện thời, cũng là cơ may ngàn năm một thuở mà nhờ có sự hiện diện của người Pháp tự nhiên mới có thể mang lại. Bởi vậy cũng có thể nói chính nền văn hóa của Pháp, chữ quốc ngữ mới mà sau này đã trở thành công cụ tranh thủ độc lập mang ý nghĩa quyết định nhất đối với Việt Nam ta cho đến ngày nay. Người Pháp đã mang sự thống trị chính trị đến trong quá khứ, mà rồi chính văn hóa của họ đồng thời cũng mang lại nguồn gốc việc giành độc lập cho dân tộc ngay trong guống máy cai trị của họ là như thế.
    Cái dư chấn của nền văn hóa Pháp lúc đầu ở miền Bắc nhiều hơn, rồi sau năm 1954 nó trở thành hệ luận cho toàn thể miền Nam chính là như vậy. Và lúc đầu cũng nhờ vào nhịp cầu hay đầu cầu đó mà sau này văn hóa miền Nam đã mở rộng giao tiếp ra toàn văn hóa trên toàn thế giới cũng chính là điều đó.
    Điều đó cũng cho thấy tự do và văn hóa luôn đi đôi với nhau. Văn hóa bảo đảm một phần cho tự do và tự do làm văn hóa phát triển. Hay cũng có thể nói không có văn hóa đúng nghĩa cũng không có tự do đúng nghĩa, bởi sự không có tự do cũng chận đứng, cũng thủ tiêu văn hóa, và khi văn hóa rơi vào tình trạng như thế nó lại tiếp tục hủy hoại chính sự tự do và mối qua lại hỗ tương đó chỉ càng khắc sâu là như vậy.
    Cho nên phải hiểu tự do đúng nghĩa mới có thể hiểu văn hóa đúng nghia. Hiểu cái này sai lệch cũng dẫn tới hiểu cái kia sai lệch. Mọi sự đe dọa hay phương hại của cái này cũng đe dọa hay làm phương hại tới cái kia như là mối quan hệ nhân quả tự nhiên, khách quan và tất yếu. Có nghĩa sự đánh giá sai về văn hóa cũng gây nên sự đánh giá sai về tự do cũng như ngược lại. Đánh giá sai hay không hiểu đúng về tự do và văn hóa đó chính là điều tai hại nhất trong các điều tai hại của chính cá nhân và xã hội. Cái nguy hiểm của mọi loại ý thức hệ chính trị phản văn hóa, phản tự do dân chủ đích thực cũng không đi ra ngoài tất cả mọi điều đó. Và cuối cùng chính trình độ dân trí của nước ta nói chung cũng là cái hố lớn mà toàn bộ lịch sử cận đại của nước ta đã phải rơi vào trong đó. Hay nói cho cùng chỉ khi nào giải phóng được đa phần trình độ dân trí thì đất nước mới thật sự có được nền độc lập và tự do đúng nghĩa nhất. Giải phóng chính trị tuyệt đối không thể có nếu không có sự giải phóng về ý thức và về nhận thức của mọi người dân tức trên mặt bằng hay nền tảng dân trí nói chung đều hẳn nhiên là như thế.

    NGÀN KHƠI
    (12/10/13)

  10. quang phan says:

    Nhà văn Nhật Tiến viết kể lại những chuyện một thời văn nghệ sĩ miền Nam bị đẩy vào các “khóa bồi dưỡng chính trị” rằng : Mai Quốc Liên – từ Miền Bắc vào – nói “hết sức hỗn xược” : “Khóa học này mở ra để các anh, các chị hiểu biết về xã hội mới thôi, chứ đừng trông mong vào việc cầm bút trở lại. Bởi vì miền Nam các anh, các chị làm gì có văn hóa” .

    Đỗ Phương Khanh đứng lên chỉ mặt Mai Quốc Liên và hỏi ngay ” Anh vào trong Nam được bao lâu và anh đã đọc được bao nhiêu tác phẩm của miền Nam rồi, mà anh dám nói miền Nam không có văn hóa? “.

    Rồi nhiều người khác cũng nhao lên . Nhật Tiến lẫn nhà văn Nguyễn Thụy Long đều đứng dậy. Những người điều khiển khóa học vội vã tuyên bố nghỉ giải lao…”

    ( Trích)

    • TỈNH TÌNH TINH says:

      các anh này hay thật những chuyện của ngày xưa mà cứ nói hay về nhà nước ta về nhân dân ta về đảng cộng sản là các anh bảo là bịa đặt còn nhữn gì các anh nói ra thì toàn là sự thật. Vậy chứ em hỏi này, danh nghĩa gì, lấy gì đảm bảo những lời các anh nói là đảm bảo sự thật?Trong khi những người thuộc phe các anh lại cứ liên tục bị vạch mặt là xuyên tạc, lừa đảo, ngậm máu phun người- bị vạch mặt rõ đến mức mất tích trên diễn đàn vì xấu hổ quá

      • quang phan says:

        Chỉ có bọn tay sai cho Việt cộng hay sống trong Thiên Đường Mù Công sản mới không nhận là Cộng sản là bọn chuyên bịp bợm, nói láo .

        Cựu Tổng bí thư đảng CS Liên xô Gorbachev phát biểu: “Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng CS. Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng: Đảng CS chỉ biết tuyên truyền và dối trá.”

        Tổng thống Nga Putin – cựu trùm tình báo Liên xô KGB – phát biểu:

        Kẻ nào tin những gì CS nói là không có cái đầu.
        Kẻ nào làm theo lời của CS, là không có trái tim.

        Bà Thủ tướng Đức Angela Merkel – cựu cư dân Đông Đức- nói: “Cộng Sản đã làm cho người dân trở thành gian dối.”

        Trần quốc Thuận – phó chủ nhiệm quốc hội CSVN : “ Ngày nay người ta phải nói dối nhau mà sống… Nói dối lâu ngày thành thói quen, thói quen dùng lâu ngày thành đạo đức, mà cái đạo đức ấy là rất mất đạo đức, nhưng đó lại là đạo đức của cách mạng ( của Việt cộng).

        Nguyễn Khải -đại tá, đại biểu quốc hội CSVN, phó chủ tịch hội nhà văn CS, viết trong “Đi tìm cái tôi đã mất”: Người cộng sản nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói dối không hề biết xấu hổ và không hề run sợ…

        Xuân Vũ – một cựu cán bộ thời kháng chiến- trong quyển “Đồng bằng Gai Góc” viết : Đảng cộng sản sinh ra để làm hai việc: Nói láo và làm bậy. Hễ chúng nói là nói láo, hễ chúng làm là làm bậy .

        Nhà văn Nguyên Ngọc : Tôi cho rằng căn bệnh nặng nhất, chí tử nhất, toàn diện nhất của xã hội ta hiện nay là bệnh giả dối.

      • TỈNH TÌNH TINH says:

        Gớm anh gì đó ơi gì mà đao to búa lớn thế chả thương hoa tiếc ngọc tí nào em là liễu yếu đào tơ mà anh vũ phu như vậy thì có đáng mặt quân tử đứng giữa trời đất không? Gì là không đầu? gì là không tim? bạo lực quá. Đầu em vẫn nghĩ rất minh mẫn vì em vẫn diễn xuất rất tốt bằng chứng là khán giả vẫn ủng hộ em rất đông và em vẫn cứ vô tư ôm tiền bề gửi ngân hàng sài dần. Tim em vẫn đập đều đặn và em chắc là tim em đập rất dễ thương. Bất cứ ai, kể cả anh cũng thích nhìn cái chỗ tim em đập phải hôn cưng. Anh nói những gì xa xôi quá, mà giới trẻ chúng em thì chỉ thích nhìn và phán xét cái mình nghe mình nhìn tận mắt cái đã. Này nhé ở trên diễn đàn này thì các anh đang bị kết tội là vu khống và bịa đặt trắng trợn, thậm trí bọn em còn chỉ mặt đặt tên từng ông anh một- đấy anh thấy hôn cưng?
        Còn chuyện thiên hạ thì cái nước Mỹ anh tôn thờ như bố và có lẽ hơn bố mình đã tàn sát người Iraq như thế nào thông qua chiêu bài vũ khí hạt nhân mà cho đến giờ nước mỹ vẫn nợ nhân loại câu trả lời: VŨ KHÍ HẠT NHÂN CỦA IRAQ ở đâu. Vậy nước mỹ có lừa đảo không?. Rồi vụ Swelldon? Nước mỹ vẫn ra rả bài ca tôn trọng sự thật thế mà họ truy sát ông này giữ như thế nào? nếu nước Nga nhân từ không chìa tay cứu thì ông này có lẽ cũng đi gặp hà bá rồi. Anh đừng lên giọng kiểu vì lợi ích quốc gia mà quy kết tội chết cho swelldon nhé. Không ai chấp nhận một chính phủ Mỹ đi nghe lén nhà hàng xóm để rồi xử đểu với người ta . Nghe rõ chưa cưng?
        Em vốn chỉ là người đứng giữa hai dòng nước nhưng những ngô nghê của bọn anh đã quyết định sự lựa chọn của bọn em

      • Nguyễn Trọng Dân says:

        Bổ sung thêm Ý của Tinh Tinh Tinh

        Lúc Tinh Tinh Tinh chưa đủ tuổi đón khách nước LẠ chơi đêm như bây giờ, dân Việt mình vì không tin Đảng , nghe lời MỸ dụ dỗ mà Vượt Biên bỏ xứ lên tới triệu , xuốt gần 10 năm.

        Đảng đã bảo MỸ sẽ giãy chết , nhưng tại dân có tầm nhìn thấp nên chẳng ai chịu tin

        Chưa có quốc gia nào ở Đông Nam Á vượt biên bỏ xứ ghê thế.

        Tới chừng Tinh Tinh Tinh vừa ngấp nghé đủ tuổi dậy thì, đang tập dợt chuẩn bị hành nghề đón khách ở bên nước LẠ qua chơi đêm thì các Đảng Cộng Sản trên khắp thế giới lần lượt hy sinh giãy chết dùm cho Đế quốc MỸ , khiến anh Linh buồn quá trời

        Anh Linh vội qua Thành Đô khóc quá trời quá đất , ảnh còn nói : ” Trung quốc có bành trướng gì thì cũng là Xã Hội Chũ Nghĩa ”

        Kể từ ngày ấy , dân mình khúm núm , tàu Trung Quốc đâm tàu cá ta , báo ta đổi 2 chử “Trung Quốc ” thành tàu LẠ

        Chủ tịch nước , Tổng Bí thư , lần nào hình chụp cũng thấy cuối đầu trước lãnh tụ nước Lạ

        TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN NƯỚC LẠ

        Cho nên ai biểu tình phản đối nước LẠ là bắt hết, KỂ CẢ BỐ ĐẺ MÌNH

        Tinh Tinh Tinh sao này khi đón khách chơi đêm từ nước LẠ, nhớ hãy vì Đảng mà nâng cao phẫm chất phục vụ, quỲ gối chổng mông liếm láp ra vô đúng cách Tinh Tinh Tinh phải nhớ cho KỸ :

        HỄ KHÁCH NƯỚC LẠ “PLAY” TINH TINH TINH ĐƯỢC HÀI LÒNG THÌ ĐẢNG MỚI AN TÂM

      • TỈNH TÌNH TINH says:

        ôi! chuyện thủa nào giờ khó mà tin, ấy lại là thứ văn truyền miệng như kiểu anh nói. em cứ thích mắt trông thấy tay sờ thấy như những gì em đã nói anh à. chúc anh khẻo. chuyện anh nói thì mới chỉ có anh và mấy đám mèo mả gà đồng như anh nói . còn chuyện em nói thì cả thế giới này nói hehehehehe

      • TỈNH TÌNH TINH says:

        Anh Dân ơi em hiểu anh nói hai từ “bổ xung” là để tránh hai từ “ăn theo” phải hôn? Mà em nói nghe này ăn theo, suốt đời- cái kiếp ăn theo – là không hay ho gì đâu. Mà muốn ăn theo em là phải xin phép đấy nhé. Anh nói như vậy có nghĩa là anh phải đứng dưới em (té nước theo mưa mà) vậy thì cũng có lúc không ổn đâu ví em là người mẫu nên hay mặc đầm lắm. Mà bọn con gái chúng em cũng có hôm này hôm nọ không như bọn nam giới các anh đâu.Cái kiếp ăn theo nó nhớp nhơ vậy đó anh anh giai cưng

      • MẸ ĐĨ NHÀ TRÒ says:

        Trọng dân ơi nỗi nhục này có lẽ thiên thu không rửa được. Nỗi nhục này có lẽ chỉ còn cay đắng mà mang theo xuống mồ. Nỗi nhục này chắc Trong dân không bao giờ giám ngửa mặt thắp nén nhang trước bàn thờ tổ tiên vì nhớp nhơ quá. Nhục vô cùng Trọng dân ơi
        XIN CÓ LỜI ĐIẾU TRƯỚC

      • Nguyễn Trọng Dân says:

        Bị chơi cho banh tét cái họng không tuyên truyền nổi nữa nên chuyển qua nói chuyện phim cấp ba với Qua phải hông?

        Nói bậy nói bạ coi chừng đụng chạm đến thiên tài Giáp đi đặt vòng đó !

        Mấy em có cái lý lịch ba đời Cộng nên không chịu học hành gì cả à

        “BỔ SUNG ” & “ĂN THEO ” CÓ 2 NGHĨA KHÁC NHAU

        BỔ SUNG : nghĩa là thêm vào cho mạnh lên
        ĂN THEO : nghĩa là lệ thuộc , phụ thuộc ( ăn theo chồng đồng nghĩa với phụ thuộc chồng )

        Ví dụ chử Bổ Sung : Địch quân ngày càng mạnh nhờ được “bổ sung” thêm một sư đoàn bộ binh & một lữ đoàn dù … nên phản công ngược trở lại vào An Lộc ( Hồi Ký Văn Tiến Dũng)

        Ví dụ chử “Ăn Theo ” : Dạ thưa chị, em hoàn toàn “ăn theo” tiêu chuẩn giáo viên của nhà em , hể tiêu chuẩn ấy mà cắt thì coi như mấy mẹ con em khó sống…( Hình như của Dương Thu Huơng , lâu quá không nhớ rõ )

Phản hồi