|

Trách nhiệm của người xét xử


Cô Nguyễn Phương Uyên, sinh viên đại học Công nghệ Thực phẩm, bị công an bắt đi từ nhà trọ hôm 14/10 với cáo buộc tham gia rải truyền đơn kêu gọi chống Trung Quốc và chống tham nhũng.

Sinh viên Nguyễn Phương Uyên đang lâm nạn. Cả trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm của em xao xuyến, lo lắng, gửi thư tập thể cho các nhà lãnh đạo cao nhất để cầu cứu. Một tập thể 144 trí thức trong và ngoài nước ký kiến nghị yêu cầu các nhà lãnh đạo có trách nhiệm can thiệp để trả lại tự do cho em tiếp tục về trường học tiếp. Mẹ em cuống cuồng đi tìm con gái yêu của mình khi em bị bí mật đưa từ Sài Gòn lên tỉnh Long An để giam giữ.

Sau một tuần lễ im lặng, nhà nước buộc phải lên tiếng, loan báo sinh viên Nguyễn Phương Uyên «phạm tội tuyên truyền chống nhà nước XHCN Việt Nam», đã bị truy tố, vì đã tham gia tổ chức «Tuổi trẻ Yêu nước» với khẩu hiệu «Vì danh dự Tổ quốc, chống bành trướng – Vì tương lai Đất nước, chống tham nhũng». Báo chí nhà nước còn đưa tin Phương Uyên đã «nhận tội và xin khoan hồng».

Một phiên tòa sẽ được mở để xét xử Nguyễn Phương Uyên cùng với Đinh Nguyên Kha, một thanh niên được coi là đồng phạm với Nguyễn Phương Uyên. Báo chí nhà nước đưa tin Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha có thể bị truy tố và xét xử về tội tàng trữ thuốc nổ, với âm mưu khủng bố, một tội danh rất nghiêm trọng đối với an ninh đất nước.

Trong nước đã có một số blogger tự do, một số trí thức như Giáo sư Tương Lai, nhà giáo dục Phạm Toàn, Tiến sĩ Nguyễn Quang A, và cựu Đại sứ Nguyễn Trung công khai lên tiếng, chỉ rõ những điều đáng chú ý ở sinh viên Phương Uyên là quan tâm đến vận nước, nghĩ đến quê hương, tổ quốc, ở tuổi 20, được thầy yêu, bạn mến, chưa có làm gì nguy hiểm, nên cần bảo vệ em, nhất là đề phòng việc em bị xét xử bất công, kiểu chụp mũ, trả thù do thái độ của nhà đương quyền là «hèn với giặc, ác với người yêu nước». Đã có nhiều tiếng nói đề phòng âm mưu thâm độc gắp lửa bỏ tay người, bắt người xong rồi mới tạo dựng ra vụ án để diệt mọi mầm mống bất đồng.

Mấy ngày qua tôi có dịp gặp một số nhà báo và luật sư Pháp, gặp các bạn trong tổ chức Reporteurs Sans Frontières (Phóng viên không biên giới) có trụ sở ở Paris, trao đổi về trường hợp em sinh viên Nguyễn Phương Uyên. Nhiều bạn Pháp theo dõi rất kỹ và nhắc đến các vụ án Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung…Sau đây xin ghi lại một vài nhận định chung của chúng tôi chung quanh vấn đề này.

Ở các nước dân chủ, các báo lớn thường có một vài phóng viên chuyên sâu về pháp luật, về phổ cập pháp luật, về giải thích pháp luật, về giải đáp và vận dụng pháp luật. Họ được đào tạo chuyên sâu về luật học, về tội phạm học, về quá trình phá một vụ án, chuyên theo dõi, tường trình, phán xét, nhận định sâu về mỗi vụ án. Ở Việt Nam đã có nhà báo nào chuyên như thế và được xã hội đánh giá tốt và tin cậy chưa?

Ở Việt Nam giới luật sư cũ bị triệt tiêu, không đào tạo, nay đã có những khoa luật tại một số trường đại học, nhưng vẫn còn quá ít. Các đại học luật ở các nước dân chủ bao giờ cũng là trường vào loại lớn nhất, có uy tín nhất trong xã hội, có những tạp chí riêng về luật pháp, có tiếng nói hoàn toàn độc lập của ngành tư pháp, tách hẳn khỏi ảnh hưởng của ngành lập pháp và hành pháp. Ở ta tạp chí Pháp luật lẽ ra phải rất sôi nổi, lý thú, có ích cho xã hội, thì ngược lại là tờ báo nhạt nhẽo, ế ẩm, có hại hơn là có ích cho việc xây dựng môi trường thượng tôn pháp luật trong xã hội.

Các công đoàn luật sư phải là công đoàn mạnh nhất, bảo vệ nghề luật sư, tuyên dương các luật sư có công tâm, theo dõi vạch mặt mọi hành vi phạm pháp của luật sư, của thẩm phán thiếu vô tư, tham nhũng, bao che kẻ tội phạm, kết án người lương thiện. Những bản bàn cãi, biện luận trước tòa của mỗi phiên xử án đều được lưu giữ và phổ biến công khai, minh bạch.

Ở Pháp, Ý, Đức và Hoa Kỳ, Canada các thẩm phán cầm cân nảy mực chuẩn xác, dũng cảm, tự tin, được cả xã hội quý mến và tôn trọng không kém gì những bộ trưởng, thủ tướng, nghị sỹ có thực tài, được coi là vốn quý của xã hội, được truyền thông, đài, báo, truyền hình nêu gương. Trước và sau các vụ án lớn, vị chánh án mặc áo choàng đen được giới thiệu tiểu sử, thành tích xét xử, nguồn đào tạo, quá trình trưởng thành trên báo, đài; sau phiên xử chánh án và các luật sư, nhân chứng được phỏng vấn rất kỹ để lý giải về diễn biến và kết luận của phiên tòa.

Vị trí xã hội của các thẩm phán, các thành viên Hội đồng Xử án, nhất là chánh án ở các nước trên cũng rất nổi bật. Thẩm phán phải là những nhân vật tài giỏi có công tâm, mẫu mực trong giới luật học. Đạo đức trung tâm của thẩm phán, chánh án là chí công vô tư, chỉ tuân theo pháp luật mà thôi. Chánh án chủ tọa một phiên tòa là linh hồn của phiên toà đó. Báo chí, công luận luôn theo dõi chặt chẽ từng cử chỉ, từng lời nói của chánh án. Gánh nặng trách nhiệm trước xã hội, trước nhà nước, trước lời thề khi nhậm chức, trước công đoàn thẩm phán là rất lớn. Lời tuyên án phải hết sức thận trọng, cân nhắc kỹ lưỡng những yếu tố tăng nặng hay giảm nhẹ, lắng nghe cả 2 phía công tố và luật sư, đánh giá từng chứng cớ, từng nhân chứng, vì lời tuyên án quyết định số phận, có khi sống chết của bị cáo.

Tôi nhớ lại hồi 1965 – 1970, ở Hà Nội, tòa án xét xử một số vụ án về tham nhũng, được dư luận bàn tán rất sôi nổi, trong đó nổi lên vị chánh án tòa án Hà Nội Nguyễn Xuân Dương, trưởng thành từ lục sự ngành tòa án thời Pháp thuộc, đã tỏ rõ trình độ nắm luật vững, lương tâm nghề nghiệp cao, trực tiếp điều khiển cuộc biện luận công khai giữa tòa, thay đổi cả kết luận của cơ quan điều tra, sửa đổi cả ý kiến của công tố viên, không theo chỉ đạo của thành ủy Hà Nội, tự mình đảm nhận trách nhiệm cá nhân, tuyên án công khai tha bổng cho bị cáo, được nhân dân hoan nghênh ngay tại tòa và được dư luận khen ngợi.

Còn nhớ, năm 1979, ông Tạ Đình Đề, nguyên chỉ huy biệt động thành, phụ trách cơ sở làm vợt bóng bàn của Tổng cục đường sắt, bị truy tố về tội «tham nhũng, sử dụng lao động không lương thiện». Trước tòa, ông Tạ Đình Đề và luật sư của ông trình bày với những chứng cứ rõ ràng chi thu từng tháng của cơ sở. Ông Đề khẳng định việc ông mạnh dạn thuê mướn anh chị em từng bị tù, từng bị cải tạo ở trung tâm phục hồi nhân phẩm, đã hoàn lương, là phù hợp với chính sách nhân đạo, họ đều trở thành lao động tốt, tuy có một số nhược điểm về tay nghề, sức khỏe. Tạ Đình Đề được bà con tham dự phiên tòa vỗ tay hoan nghênh. Chánh án cuối cùng tuyên bố ông vô tội, loại bỏ nhận định mang tính vu cáo của công tố viên.

Mong rằng khi phiên tòa xử sinh viên Nguyễn Phương Uyên mở ra, các nhà báo trong và ngoài nước, các blogger tự do, anh chị em dân chủ sẽ chú ý ghi nhận cách làm việc, trình độ, công tâm của viên chánh án và các thẩm phán trong hội đồng xét xử, nêu bật trách nhiệm xã hội, lời tuyên thệ khi nhận nhiệm vụ của họ, theo dõi mọi cử chỉ và lời nói của từng người trong phiên tòa, đánh giá và phân tích đúng sai của họ. Hiện nay trong tường thuật các phiên toà trong nước, các bạn phóng viên thường bỏ qua nhân vật chánh án, thậm chí không nêu tên chánh án và hội đồng xét xử.

Sau phiên tòa xét xử 2 nhạc sỹ Việt Khang và Anh Bình vừa qua, một số bạn trẻ đã tìm hiểu về viên chánh án Vũ Phi Long, người đã chủ tọa phiên tòa và tuyên án xử phạt Việt Khang 4 năm tù giam và Anh Bình 6 năm tù giam. Chưa có nhà báo nào chất vấn viên chánh án này là ông suy nghĩ ra sao về những bản nhạc, lời ca bị coi là xấu, có hại, phạm pháp? Lời tuyên án của ông có phải ý kiến của ông hay do từ đâu? Ông có bị sức ép, bị chỉ đạo không ?

Và còn 2 ông chánh án từng xử sơ thẩm và phúc thẩm luật sư Cù Huy Hà Vũ, thẩm phán Nguyễn Hữu Phúc và thẩm phán Nguyễn Sơn đã tuyên án và y án 7 năm tù 3 năm quản chế cho luật sư yêu nước kiên cường Hà Vũ, 2 ông này sau khi xử xong đang tránh mặt ở đâu? Sao xã hội ta lại vô tâm, vô cảm, dễ dãi, xuê xoa đến vậy? Sao không tra hỏi họ nhân danh một xã hội dân chủ, công bằng do đảng CS hứa hẹn? Về hiểu luật, về lòng yêu nước, về chính khí làm người, họ kém xa người bị họ xét xử.

Xin nhớ một kinh nghiệm của Mùa Xuân Tunisia là các bạn trẻ trường Luật thủ đô Tunis đã theo dõi lập hồ sơ các thẩm phán, chánh án xử những người yêu nước trước đây, dưới chế độ độc đoán để cảnh báo họ và để hỏi tội họ theo đúng luật khi tình hình chuyển biến.

Sắp đến mong các bạn của Phương Uyên hãy tìm hiểu viên chánh án trong vụ xử sắp tới là ai. Hãy cảnh báo trước để ông ta hiểu rõ ông ta sẽ là nhân vật trung tâm trong vụ xử. Ông ta phải chịu trách nhiệm trước toàn bộ giới luật học Việt Nam, trước bộ Luật Tố tụng Hình sự, trước toàn xã hội, trước thế hệ trẻ, trước lịch sử về mọi diễn biến của phiên tòa được coi là công khai này.

Blog Bùi Tín (VOA)

1 Phản hồi cho “Trách nhiệm của người xét xử”

  1. THƯỢNG NGÀN says:

    LUẬT PHÁP VÀ CHÍNH TRỊ

    Chính trị nào cũng phải cần đến luật pháp. Bởi luật pháp là cái khung, cái nền tảng nhằm làm ổn định chính trị. Nên luật pháp là hệ luận của chính trị, nhưng đồng thời luật pháp cũng là nguyên nhân của chính trị. Có nghĩa, khi chính trị không đi theo với luật pháp, có thể chính chính trị đó làm cho luật pháp thay đổi. Khi đó chính trị tạo nên sự bất ổn chính trị, bởi chính trị đã đẩy luật pháp đến chỗ không còn thích nghi với chính trị nữa.
    Chính trị nói cho cùng là những quan điểm mang tính cách định hướng, cai quản xã hội, đang được đưa vào áp dụng. Chính vì thế chính trị tác động vào luật pháp, tạo ra luật pháp, nguyên nhân của luật pháp. Nhưng ngược lại, khi luật pháp đó đã được thành hình, nó có tác dụng ngược lại, làm khung sườn, tạo sự ổn định chính trị mà đồng thời cũng tạo ra sự bất ổn chính trị, nếu cả hai vì các lý do nào đó đã trở nên không còn tương thích.
    Từ các ý nghĩa đó, rõ ràng luật pháp không phải chỉ luôn đồng hóa với chính trị mà vẫn có điểm khác. Bởi nếu chính trị thường là giai đoạn ngắn hạn, luật pháp thường là giai đoạn dài hạn. Tức là luật pháp thường mang tính kỹ thuật, gần với khoa học nhiều hơn là điều mà chính trị có thể làm được. Nói cách chung hơn, dầu luật pháp gắn bó với chính trị, nhưng tính phổ quát của luật pháp bao giờ cũng sâu xa, bao quát hơn chính trị. Đó là lý do tại sao chính trị quốc nội trong một nước, hay chính trị thế giới vẫn luôn có thể thay đổi nhanh chóng, nhưng luật pháp một nước, luật pháp quốc tế thì thường ít thay đổi hay thay đổi chậm chạp hơn về khá nhiều mặt.
    Nên trong ý nghĩa tương quan giữa chính trị và luật pháp như thế, những vụ án mang tính chính trị thường cho thấy hay phơi bày ra bản chất của nền chính trị hay nền luật pháp có liên quan đó. Tức nếu trong các trường hợp như thế mà chính trị không can thiệp vào pháp lý, thì đó là nền chính trị vững vàng, ổn định, cũng như nền pháp luật vững vàng, ổn định. Trái lại nếu có sự can thiệp toàn diện hay nhất định, chỉ cho thấy tính cách thiếu ổn đinh của chính trị lẫn thiếu ổn định của nền luật pháp đó. Điều đó có nghĩa sự độc lập của pháp luật đối với chính trị chính là tiêu chuẩn để chuẩn mực hóa nền pháp luật lẫn nền chính trị. Bởi khuynh hướng của pháp luật khách quan là khuynh hướng kỹ thuật, khuynh hướng khoa học. Trái lại, nếu chỉ là kiểu chính trị chủ quan và pháp luật thuần túy là công cụ của chính trị chủ quan đó, sự độc lập của hai bên tất nhiên hoàn toàn không có, cũng có nghĩa tính ổn định của cả hai bên là hoàn toàn chưa có.
    Đó là tính cách tại sao những nền chính trị lâu đời và những nền luật pháp lâu đời luôn luôn có tư thế thường độc lập với nhau. Trong các phiên tòa chính trị, tòa án chỉ xét xử theo tính cách pháp lý mà không theo tính cách chính trị. Bởi nếu xét xử theo tính cách chính trị, có nghĩa pháp lý đã phải ngã mũ và lẵng lặng ra đi khỏi chính cương vị cần có của mình. Như vậy, người thẩm phán xét xử theo quan điểm pháp lý độc lập, không những không phụ thuộc vào giới có chức quyền, mà cũng còn độc lập với cả chính trị như một phương diện hoàn toàn khác hay riêng lẻ với mình. Bởi vậy tính cách lý tưởng của pháp lý là tính cách lý tưởng về phương diện ý thức, phương diện con người, phương diện xã hội, mà hoàn toàn không phải lý tưởng về chính trị. Bởi không thể có lý tưởng về chính trị kiểu là một khoa học, mà chỉ có lý tưởng về chính trị kiểu như một cảm hứng hay một thị hiếu chủ quan, giai đoạn, và hoàn toàn tạm bợ. Điều đó thật sự khác hẳn với bản chất của luật pháp luôn cần đòi hỏi như một khoa học, một kỹ thuật khách quan, và ý nghĩa lý tưởng về nhân văn và xã hội một cách thật sự.
    Ngày xưa Các Mác đã vơ luật pháp như là thượng tầng kiến trúc của ý hệ. Ông phủ nhận luật pháp khách quan, chỉ coi luật pháp là công cụ của đấu tranh giai cấp, công cụ của giai cấp cầm quyền. Quan điểm của Mác cách đây 250 năm rõ ràng là quan điểm mang tính cách chính trị ý thức hệ thuần túy, không phải là chính trị như một khoa học, hay pháp luật như một khoa học. Thế nhưng, tính khoa học trong thời đại ngày nay lại là tính khách quan được toàn thể thế giới và loài người chấp nhận. Có nghĩa đi với Mác là đi với quá khứ. Và đi với khoa học, kỹ thuật, cũng như với con người nhân văn và xã hội, đó chính là đi với hiện tại nhân loại và cũng hướng về tương lai trong sáng và đúng đắn của nhân loại hay thế giới hiện đại.

    ĐẠI NGÀN
    (22/11/12)

Phản hồi