|

Luật pháp và tự do

Thông lệ, nếu đề cập đến hai vấn đề: “Luật pháp” và “tự do”người ta thường nói đến tự do trước, vì tự do xuất hiện ngay từ thuở ý thức loài người còn sơ khai. Tự do là cái gì đó tự nhiên vốn có, đã có và phải có. Nhưng luật pháp chỉ có khi một đất nước hình thành và được cai trị, vận hành bởi một hay nhiều nhóm nắm quyền. Luật pháp của các chế độ Phong Kiến, Xã Hội Chủ Nghĩa, luôn đặt quyền lợi của kẻ cai trị lên hàng đầu. Ví dụ Thời phong kiến Việt Nam (nhà Hậu Lê- Luật Hồng Đức) có quy định “Tội Thập Ác” (10 điều ác, xử đại hình), thì ngay ở dòng đầu, tội thứ nhất, có ghi rõ: “Tội Mưu Phản: Lật đổ nền cai trị của nhà vua, làm sụp đổ xã tắc”. Bộ Luật Hình Sự của Nước CHXHCNVN hiện nay cũng đặt nhiệm vụ bảo vệ chế độ lên hàng đầu. Trong chương 1, điều 1 của bộ luật này cũng đã ghi rõ ở dòng thứ nhất: “Bộ luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa…”

Luật pháp chỉ là một thành phần trong Luật. Luật theo nghĩa phổ quát là một nhóm tiêu chuẩn nào đó được hình thành dựa vào quy luật tự nhiên, quan niệm xã hội, hoặc tư tưởng tôn giáo. Luật pháp được hình thành để điều chỉnh hành vi, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho một hay nhiều người, một tổ chức hay một nhóm những tổ chức theo những quy định mà số đông (tự nguyện hoặc bắt buộc) phải công nhận.

Luật (trong phạm vi các văn bản luật, bộ luật, văn bản dưới luật, các quy định hành chính vv…) đều được xác định, nhưng không phải là bất biến, thậm chí nó còn phải được luôn chỉnh sửa sao cho phù hợp và đáp ứng kịp thời với sự vận động và phát triển của xã hội. Luật hình sự của mỗi một quốc gia cũng không nằm ngoài quy luật nói trên.

Luật Hình Sự của bất kỳ một quốc gia nào được coi là văn minh, tiến bộ thì phải đặt nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân lên hàng đầu. Vấn đề bảo vệ quốc gia là vấn đề chung của cả xã hội trong đó có nghĩa vụ và trách nhiệm cá nhân mỗi công dân, việc bảo vệ quốc gia cần có một đạo luật riêng, thậm chí là nằm ngoài Luật Nghĩa Vụ Quân Sự (hay Luật Quân Sự). Vì vậy Luật Hình Sự không nên đưa vấn đề bảo vệ quốc gia vào trong đó, mà nó chỉ nên là công cụ hỗ trợ cho Luật Bảo Vệ Quốc Gia (trong đó có những chương, điều, khoản bảo vệ an ninh và bí mật quốc gia) mà thôi. Một quốc gia có nhiều đạo luật, bộ luật, tưởng như sẽ rối rắm phức tạp trong hành pháp, nhưng nếu các đạo luật, bộ luật đó thực sự khoa học và thực tế, thì nó lại rất hữu ích trong việc bổ khuyết cho nhau…

Cũng trên tinh thần nói trên, nhằm tăng tính hiệu quả, và tránh oan sai trong việc thực thi luật pháp và để luật pháp được nghiêm minh, công bằng thì Quốc Hội – Cơ quan quyền lực cao nhất về lập pháp, không thể cứ ban hành luật là hết trách nhiệm. Họ vẫn có những ban bệ có quyền hạn gián tiếp tham gia vào công việc hành pháp, nhằm kịp thời thay đổi, sửa chữa những thiếu sót trong các văn bản luật do chính họ đặt ra. Ngành Tư Pháp cũng có những cục đặc nhiệm theo dõi, điều tra song song xem một vụ việc, vụ án nào đó có được xét xử đúng quy trình tố tụng hay không. Trong khi đó tòa án cũng có đủ thẩm quyền để vô hiệu hóa một điều luật cụ thể. Không những thế trong một ngành (đơn cử như tư pháp) cũng có những đơn vị khác nhau, có quyền điều tra độc lập. Ví dụ ở Hoa Kỳ, một vụ tình nghi phạm pháp xảy ra, luật của Quốc Hội ban hành quy định kẻ thực hiện hành vi là phạm tội. Một cục thuộc Bộ Tư Pháp là Cục Điều Tra Liên Bang (FBI) có quyền vào cuộc. Công tố viên Liên Bang (cũng thuộc Bộ Tư Pháp) có quyền chứng minh đây là một vụ phạm pháp. Nhưng tòa án có quyền tuyên là không phạm pháp, khi nhận thấy chưa đủ yếu tố kết luận phạm tội cho một ai đó  vv…

Bộ Luật Hình Sự của Việt Nam trong chế độ CS hiện nay đặt vấn đề bảo vệ chế độ lên hàng đầu, mà chế độ đó đã được xác định trong hiến pháp rằng chỉ có ĐCSVN “là lực lượng lãnh đạo đất nước” (điều 4- Hiến Pháp 1992). Nghĩa là, bộ luật kể trên được lập ra trước tiên là để bảo vệ ĐCSVN!

Một chế độ chính trị chân chính không cần nhất thiết phải được bảo vệ bằng sức mạnh của luật pháp, hiển nhiên là như vậy. Bởi vì, một nhà nước chân chính sẽ do chính người dân trong quốc gia đó xây dựng nên, bằng sự đồng thuận của số đông thông qua phiếu bầu trong bầu cử lành mạnh. Nhà nước chân chính đó sẽ vận hành một chế độ chính trị đáp ứng với nguyện vọng của đại chúng nhân dân. Vì ý nghĩa đó, mọi người dân sẽ tự nguyện bảo vệ chế độ cầm quyền bằng cách sống và làm việc theo các nguyên tắc và chuẩn mực do chế độ đó đặt ra. Nhưng các chuẩn mực (mang tính pháp định của chế độ) vẫn phải được sự nhất trí của người dân thông qua trưng cầu dân ý. Một chế độ chính trị cầm quyền chân chính vì vậy, sẽ không cần phải được bảo vệ bằng Bộ Luật Hình Sự, hay bất cứ một văn bản luật nào khác, trước nhân dân của mình…

Cụm từ  “bảo vệ chế độ XHCN” trong Bộ Luật Hình Sự của Việt Nam hiện nay, dường như được hiểu là “bảo vệ tổ quốc”. Đây là một sai lầm cơ bản mà những người chấp bút đã cố tình sắp đặt để thực hiện thâm ý của kẻ đang tạm thời nắm quyền lãnh đạo đất nước. Như vậy mục tiêu tối thượng của Bộ Luật Hình Sự đang được áp đặt ở Việt Nam là bảo vệ chế độ do ĐCSVN nắm quyền, mà bảo vệ Đảng hay bảo vệ chế độ chỉ là một nghĩa duy nhất. Vì vậy tất cả mọi lời nói nào, việc làm nào làm ảnh hưởng xấu (?) đến ĐCSVN, đều là đối tượng bị truy cứu của Bộ Luật Hình Sự ấy!

Để cụ thể hóa vấn đề, Bộ Luật Hình Sự VN, trong chương XI – Các Tội Xâm Phạm An Ninh Quốc Gia, những điều như điều 88 (tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN), 78 (tội phản bội tổ quốc), 79 (tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), vv… đã được “cụ thể hóa” bằng cách hết sức mập mờ trừu tượng, khiến các quan tòa có thể tùy ý diễn dịch theo ý muốn của kẻ cầm quyền. Đây chính là “tấm áo giáp” nhằm hợp pháp hóa việc bảo vệ chế độ bằng sức mạnh luật pháp, dù nó đã trắng trợn tước đoạt một số quyền tự do căn bản của con người!

Bộ luật hình sự của một quốc  gia cần hội tụ đủ các tính chất như: Tính văn hóa xã hội (truyền thống, tập quán, giá trị đạo đức của các dân tộc trong quốc gia đó), tính bảo vệ (quyền lợi hợp pháp của chủ thể), tính thời đại (đáp ứng sự phát triển), và quan trọng nhất, bao quát nhất đó là tính thuyết phục. Tính thuyết phục sẽ có tác dụng giáo dục thành công đối với xã hội, và điều chỉnh thành công hành vi của phạm nhân.

Nhưng những tính chất kể trên chỉ được xác định tùy theo mỗi thời điểm nhất định, vì cuộc sống là cái vô hạn (theo nghĩa tương đối) và nếu pháp luật (trong đó có Luật Hình Sự) cứ đứng yên, tĩnh tại thì nó không thể đáp ứng được sự phát triển đi lên của xã hội. Bởi vậy pháp luật buộc phải “chạy theo” cuộc sống, giống như trường hợp một chàng thanh niên cao lớn không thể mặc được chiếc áo của trẻ lên 5, dù đó vẫn là chiếc áo của chính mình từng mặc hàng chục năm trước!!!

Nếu một nhà nước chỉ chăm chú đến việc ổn định các quy phạm pháp luật nhằm ổn định xã hội thì sẽ là một nhà nước kém cỏi, kìm hãm sự phát triển. Và vì các văn bản pháp lý (trong đó có Bộ Luật Hình Sự) không đáp ứng kịp với sự phát triển chung, cho nên nó sẽ tạo ra vô số mâu thuẫn trong vấn đề pháp trị với đại chúng nhân dân…

Trước đây ở Việt Nam, người dân bị “ngu đần hóa” vì chính sách tuyên truyền của chế độ CS, người dân bởi vậy bị nhầm lẫn giữa khái niệm “tổ quốc” và khái niệm “nhà nước” hay “Chính quyền”. Không những thế, các cụm từ “nhà nước”, “chính quyền”, thậm chí cả một số ngành như Công An, Quân Đội, cũng đều được gắn thêm hai từ: “Nhân dân” thành ra “chính quyền nhân dân”, “công an nhân dân”, “quân đội nhân dân”. Một người có hành vi (dù chỉ bằng cách ôn hòa) phản đối “chính quyền nhân dân”, thì việc đó đồng nghĩa với việc chống lại tổ quốc và chống lại nhân dân. Do vậy người dân Việt Nam yêu nước rất sợ bị quy kết vào tội danh này (!).

Vấn đề quyền tự do của người dân Việt Nam, hàng hơn 64 năm qua cũng bởi vì thế mà bị tước đoạt một cách rất âm thầm và không kém phần… ngoạn mục!

Chúng ta đồng ý với quan điểm của Hàn Phi Tử rằng: “Lễ nhạc không đủ sức uốn nắn mà phải dùng hình pháp để đưa con người về chính đạo”. Nhưng dùng hình pháp để chà đạp lên tự do, khống chế tự do, tước đoạt quyền tự do lại là điều bất nhân, phi nghĩa. Cho nên quyền tự do đương nhiên phải được bảo vệ bằng chính những hình pháp công bằng. Nhưng tự do, quyền tự do cá nhân là gì và vì sao nó cần phải được bảo vệ? Người dân Việt Nam rất cần hiểu cặn kẽ, thấu đáo và đúng đắn về điều này.

“Tự do” nguyên thủy là: “Mọi người có quyền làm bất cứ việc gì mình mong muốn mà không bị bất kỳ một cản trở nào”. Nhưng tự do trong một xã hội văn minh cần phải được giới hạn bằng nhận thức, khi quyền tự do của một người, một nhóm người được cụ thể thành hành động lại gây phương hại cho quyền tự do của một hay nhiều người khác. Một người có nhận thức đúng về những điều mang tính tất yếu (quy luật tự nhiên, lẽ phải và sự bình đẳng) thì sẽ sử dụng quyền tự do một cách đúng đắn. Hiện nay chuẩn mực của quyền tự do cá nhân đã được Công Ước Quốc Tế Về Những Quyền Dân Sự Và Chính Trị quy định rõ ràng (xin tìm đọc) tại địa chỉ: http://www.vietnamhumanrights.net/viet/vintbill/dansuchinhtri.htm

Tự do bao gồm tự do nhận thức và tự do hành động, trong đó nhận thức điều khiển, chi phối hành động. Không có tự do nhận thức thì không thể có tự do hành động bởi con người sẽ gặp phải những rào cản về nhận thức. Lúc đó, con người thực ra đã mất tự do ngay từ trong ý nghĩ chứ chưa nói gì tới hành động. Bản thân đại đa số người dân Việt Nam hiện nay đều bị mất tự do từ trong ý nghĩ, và vì vậy họ hầu như chưa ý thức được tự do là gì, hành động nào là thực hiện quyền tự do bản năng, hành động nào là thực hiện quyền tự do theo lẽ phải và sự bình đẳng…

Amartya Sen một nhà kinh tế và xã hội học- Triết gia Ấn Độ, từng đoạt giải Nobel cho rằng: “Phát triển như là tự do”. Tự do rất cần để phát triển, nó đặc biệt quan trọng trong loại hình tự do tinh thần, tự do chính trị và tự do kinh tế.

Tự do tinh thần tức là không lệ thuộc vào suy nghĩ và nhận thức của người khác. Tự do tinh thần tạo ra sự vận động suy nghĩ riêng biệt cho mỗi cá nhân và từ đó tạo nên những sáng tạo đa dạng về nhận thức. Những sản phẩm về tinh thần có ích cho xã hội cũng vì thế mà trở nên phong phú.

Tự do về chính trị là yếu tố căn bản để hình thành một nhà nước pháp quyền chân chính, tiến bộ. Tự do chính trị là yếu tố quan trọng xóa bỏ độc tài, nó góp phần tạo nên sự đa nguyên chính trị và là yếu tố tiên quyết hình thành nên các hội đoàn, các tổ chức chính trị xã hội độc lập. Các tổ chức độc lập này sẽ kiểm soát lẫn nhau, kịp thời phát hiện và ngăn chặn những mầm mống tiêu cực của đời sống chính trị trong nội bộ mỗi quốc gia. Đặc biệt là nó sẽ ngăn chặn hữu hiệu những tiêu cực trong bộ máy công quyền đương nhiệm.

Tự do về kinh tế, tức là chế độ phát triển kinh tế theo thị trường đa thành phần. Hiện nay phương cách phát triển này là hình thức khả thi nhất để thúc đẩy nền kinh tế đi lên, tuy nhiên nó cũng theo quy luật khách quan và hàm chứa những rủi ro (mà người ta sẵn sàng đồng ý chấp nhận) trong một phạm vi nào đó.

Sự phát triển của mỗi quốc gia đòi hỏi những cải cách về nhiều mặt, sao cho phù hợp với tình hình trong nước và quốc tế. Trong bối cảnh nhu cầu hội nhập với thế giới ngày càng trở nên bức thiết, quan niệm độc lập về chính trị, kinh tế, xã hội chỉ còn mang ý nghĩa tương đối…

Việt Nam ngày nay cũng không nằm ngoài sự chi phối kể trên. Một vài năm qua, chế độ chính trị cầm quyền Cộng Sản tại Việt Nam đã từng bước mở cửa cho tự do kinh tế phát triển theo nền kinh tế thị trường. Tuy vẫn còn nặng tính thiên lệch trong phân biệt giữa kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh, nhưng tương lai nhà nước sẽ không có đủ khả năng “bao bọc” cho khu vực kinh tế quốc doanh nữa. Vì vậy con đường phát triển kinh tế của Việt Nam sẽ có điều kiện phát triển theo hướng tự do.

Nhưng để cho xã hội phát triển cân bằng, đi đôi với tự do phát triển kinh tế thì tự do về chính trị cũng là điều mà một nhà nước cầm quyền muốn được lòng dân phải mở cửa, vậy như thế nào là tự do về chính tri? Trước hết hoạt động chính trị không thể là đặc quyền của một hay một nhóm người nào đó, càng không phải là đặc quyền của giới cầm quyền. Tự do về chính trị phải mang tính Hoàn Toàn, chỉ có như vậy nó mới có cơ hội thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội. Trong trường hợp này thì việc áp dụng các quyền tự do về chính trị của Liên Hiệp Quốc đã ban hành, là thang chuẩn để viện dẫn.

Trong mặt trận phát triển tư tưởng, là tự do tinh thần. Người dân Việt Nam hiện nay không thể phụ thuộc vào suy nghĩ của chế độ cầm quyền, tư tưởng của chế độ cầm quyền (tư tưởng Chủ Nghĩa CS, tư tưởng Hồ Chí Minh). Việc nhà nước CSVN bắt buộc người dân học tập và làm theo tư tưởng của họ là một sự tước đoạt tự do về tinh thần.

Để đất nước Việt Nam hòa nhập bình thường tốt đẹp vào cộng đồng thế giới thì việc phải sửa đổi hiến pháp (quan trọng nhất là điều 4 Hiến Pháp Năm 1992) nhằm xóa bỏ độc quyền về chính trị, độc quyền cầm quyền của ĐCSVN là điều phải làm.

Tương tự như vậy, Bộ Luật Hình Sự của nhà nước CHXHCNVN hiện nay cũng cần phải xóa bỏ một số điều, ví dụ điều 88 – “Tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN”. Vì “tuyên truyền” đồng nghĩa với việc ai đó chỉ nói hoặc viết (ôn hòa) để thực hiện hành động mà thôi. Hoặc điều 79 – “Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, cần phải sửa rõ ràng lại là: “Tội tổ chức dùng bạo lực để hoạt động lật đổ chính quyền”. Vv…

Trong một phạm vi nào đó, chúng ta đã thấy rõ mối quan hệ mật thiết giữa pháp luật và tự do. Quyền tự do, trước hết là nó nên bị giới hạn bởi ý thức, thay vì bị giới hạn bởi khuôn khổ pháp luật. Pháp luật chỉ tiến hành điều chỉnh hành vi khi quyền tự do của người này, lại trực tiếp hoặc gián tiếp xâm hại và gây hại cho quyền tự do của người khác, chủ thể khác mà thôi. Một nền pháp luật chủ trương ngăn chặn, khống chế quyền tự do, là một nền pháp luật đáng bị lên án!

Một sự tự do thiếu nhận thức đúng, một sự tự do “đứng trên luật pháp” cần phải có sự  tự điều chỉnh trước khi nó có nguy cơ phải chịu sự điều chỉnh của công luận và  pháp luật! Nhưng pháp luật, hơn bao giờ hết, cần phải trong sáng, rõ ràng, công bằng, bình đẳng, và nó nhất thiết phải phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lịch sử.

Bài do tác giả gửi tới

2 Phản hồi cho “Luật pháp và tự do”

  1. Võ Hưng Thanh says:

    NÓI THÊM VỀ SỰ TỰ DO CỦA CON NGƯỜI

    Con người có hai loại tự do. Tự do thân thể, là tự do trong hành vi. Được hành động theo mọi suy nghĩ đúng đắn của mình. Chẳng hạn, nền kinh tế thị trường chính là môi trường tự do của mọi hoạt động xã hội đúng nghĩa. Tự do trong ý thức, là tự do suy nghĩ, nhận thức, và phát biểu. Đó là nền văn hóa, nhận thức, hiểu biết tự do. Không thể bị áp đặt nhận thức do sự tuyên truyền lệch lạc nhất định nào đó. Tự do có nghĩa là không bị bất kỳ người nào khác khống chế, bó buộc, trong nhận thức cũng như trong hành động. Bởi vậy, pháp luật là cơ sở đầu tiên để bảo vệ sự tự do của con người. Do đó, ý nghĩa quyết định nhất, lại chính là luật pháp đó phải mang ý nghĩa, mục đích nhằm bảo về sự tự do. Ngược lại, nếu pháp luật nào đó chỉ cốt nhằm hạn chế sự tự do bởi một mục đích, hay một ý nghĩa nào đó khác, thì sự tự do của con người tất nhiên cũng không có ai bảo vệ nữa, và nó sẽ bị xâm phạm, mà trước hết, lại do chính pháp luật đó xâm phạm rồi. Nói như vậy, để thấy tự do luôn đi đôi với sự trật tự, và đi đôi với pháp luật. Không có trật tự, cũng không thể có tự do, giống như một dòng người đang bị kẹt cứng vào một chỗ nào đó. Nhưng có trật tự cũng chưa hẳn có tự do, nếu bị buộc phải nhất thiết đi theo một chiều quy định nào đó, khi điều đó không hoàn toàn mang ý nghĩa khách quan, cần thiết, hay nhất thiết phải có, hoặc không được chính chủ thể đó được tự do quyết định lựa chọn. Vậy nói cho cùng, trật tự, pháp luật, đều là nền tảng của sự tự do, nhưng lại hoàn toàn không phải nguyên nhân hay mục đích của sự tự do. Nguyên nhân của sự tự do, chính là tính cách công nhận sự bình đẳng, tôn trọng sự bình đẳng lẫn nhau giữa mọi con người. Đồng thời, mục đích của sự tự do, chính là nhằm không hạn chế con người, không hạn chế xã hội, trong tất cả mọi chiều hướng phát triển có tính tự nhiên, cần thiết, đúng đắn và khách quan nhất của nó.

    VHT

  2. Võ Hưng Thanh says:

    Tôi thấy bài viết “Tự do và pháp luật” của ông Lê Nguyên Hồng viết cũng là một bài viết nghiêm túc và có số ý hay, tuy vậy cũng nên góp thêm một số ý nhỏ. Bởi vì pháp luật là do ai tạo nên và để làm gì ? Tất nhiên là do con người tạo nên và nhằm làm tốt cho con người. Nhưng nói cho cùng người tạo nên pháp luật chính yếu vẫn là những người nắm quyền, còn người được nhắm tới vẫn là người dân nói chung. Người nắm quyền nào cũng vậy, luôn muốn người không nắm quyền đừng thoát ra khỏi quyền hạn tối hậu của mình. Điều này có thể do thiện chí hay không do thiện chí, nhưng chắc chắn vẫn làm mất số tự do cơ bản nào đó của người không nắm quyền. Vậy tự do chỉ là chỗ cắt hay chỗ gặp nhau giữa hai đường biểu diễn, đường biểu diễn của quyền hành và đường biểu diễn của phát triển xã hội hay sự đấu tranh cho các quyền chính đáng, cần thiết của tự do dân chủ khách quan. Nói khác luật pháp không đứng yên mà vẫn luôn thay đổi qua phát triển đi lên của lịch sử. Điểm cát tuyến đã nói chính là điểm biểu diễn của sự tự do. Bởi tự do không phải muốn làm gì thì làm mà được quyền làm điều gì không trái theo luật pháp quy định. Nói một cách khác, tự do giống như sự chuyển động của các nguyên tử hay phân tử trong một vật chứa nào đó, hay vật chứa hình cầu. Chuyển động tự do đó chấm dứt khi đụng phải thành bình, đó là pháp luật. Có nghĩa đường kính chuyển động nhỏ hay lớn là tùy theo chiều kích của cái bình đựng pháp luật quy định. Trước khi có Mác, tự do dân chủ theo Mác thừa nhận là tự do dân chủ kiểu tư sản. Đến khi Mác xuất hiện, ông chỉ hô hào tự do dân chủ vô sản, tức tức do dân chủ cách mạng theo thuyết của ông. Ai là những người đã thực hiện và tiếp tục thực hiện chủ nghĩa Mác ngày nay trên thế giới thì mọi người đã biết rồi. Cho nên nói về tự do dân chủ hay nói về mối quan hệ giữa pháp luật và tự do ở một số nước trên thế giới ngày nay chính là nói về mối quan hệ xã hội theo ý thức hệ mác xít và không theo ý thức hệ mác xít. Điều này có cả mặt lý thuyết và mặt thực tế. Trước kia mặt lý thuyết và thực tế là một, như ở VN, Trung quốc, hay Cu ba chẳng hạn. Nhưng hiện tại mặt lý thuyết đó đã khác di ít ra ở nhiều quốc gia rồi, mà trong đó có VN, TQ, và Cuba mà ai cũng thấy. Tức nền kinh tế thị trường như trong khuôn khổ hay cái khung của ý thức hệ mác xít. Có nghĩa kinh tế thị trường, tự do kinh doanh, nhưng tự do dân chủ ở đây là kiểu tự do dân chủ nhân dân, tự do dân chủ mác xít, ít ra cũng trên nguyên tắc và lý thuyết. Đó hình như là điều mà nhiều người dân chủ tự do phi mác xít hiện nay hoặc không thấy hay không muốn thấy. Cho nên hai đường thẳng song song thì không bao giờ gặp nhau, đó là nguyên lý từ ngàn xưa của Euclide. Vậy nếu muốn nó gặp nhau, ít ra ở một điểm tương lai gần hay xa nào đó, người ta nhất thiết phải thảo luận lại về ý thức hệ hay về mặt lý thuyết mác xít trên cơ sở khách quan khoa học. Điều này theo tôi thấy kể cả những người mác xít và những người phi mác xít hình như đều chưa đạt đến được. Tức người ta chỉ dừng lại phần lớn ở tình cảm, cảm tính, mà không mày mò hay quan tâm về mặt khoa học. Ngay tư có người nói, trước kia cả Mao Trạch Đông còn phát biểu ông ta chẳng có thì giờ để đọc Mác nữa là. Nhưng tôi thì rất quan tâm điều này, chứng tỏ tôi có viết khá nhiều bài về học thuyết Mác, nhưng phần lớn mọi người lại chỉ coi như một việc làm ruồi bu chẳng mang ý nghĩa hay tác dụng gì cả. Ôi người VN mà, có phải chăng tâm lý ăn xổi ở thì của số động vẫn luôn thắng ý hướng khoa học khách quan và thực tế là như thế.

    VHT

Phản hồi